cis_banner_final_en.png
Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á và Cộng hòa Ấn Độ ngày 08 tháng 12 năm 2003 (Phần 1)

13/06/2015


Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á và Cộng hòa Ấn Độ ngày 08 tháng 12 năm 2003 (Phần 1)


LỜI MỞ ĐẦU 

Chúng tôi, những người đứng đầu Chính phủ/Nhà nước các nước Bru-nây Đa-rút-xa-lam, Vương quốc Cam-pu-chia (Campuchia), Cộng hòa In-đô-nê-xi-a (In-đô-nê-xi-a), Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (Lào PDR), Malaixia, Liên bang Myanma, Cộng hòa Philíppin (Phi-líp-pin), Cộng hòa Xinhgapo (Xinh-ga-po), Vương quốc Thái Lan (Thái-lan) và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (gọi chung là “ASEAN” hoặc “các nước thành viên ASEAN”, hoặc gọi riêng từng nước là “nước thành viên ASEAN”) và Cộng hòa ấn Độ (ấn Độ)

Nhắc lại việc năm 2002 chúng tôi đã nhất trí về tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác kinh tế chặt chẽ và hướng tới Khu vực Thương mại và Đầu tư ASEAN-ấn Độ (RTIA) như là mục tiêu dài hạn;

Mong muốn ký kết một Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện (Hiệp định này) giữa ASEAN và ấn Độ (gọi chung là “các Bên”, hoặc chỉ riêng từng nước thành viên ASEAN hoặc ấn Độ là một “Bên”), hướng tới tương lai nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác kinh tế chặt chẽ hơn trong thế kỷ 21;

Mong muốn giảm thiểu các rào cản và liên kết kinh tế sâu hơn nữa giữa các Bên; giảm chi phí; tăng cường thương mại và đầu tư trong khu vực; tăng hiệu quả kinh tế; tạo ra một thị trường rộng lớn hơn với cơ hội nhiều hơn và quy mô kinh tế lớn hơn cho các doanh nghiệp của các Bên; và nâng cao tính hấp dẫn của các Bên đối với nguồn vốn và tài năng;

Thừa nhận vai trò quan trọng và đóng góp của khối doanh nghiệp trong việc tăng cường thương mại và đầu tư giữa các Bên và sự cần thiết phải thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho sự hợp tác và tận dụng những cơ hội kinh doanh lớn hơn do Khu vực Thương mại và Đầu tư ASEAN-ấn Độ (RTIA) đem lại;

Thừa nhận trình độ phát triển kinh tế khác nhau giữa các nước thành viên ASEAN và sự cần thiết phải có linh hoạt, cụ thể là cần tạo thuận lợi để các nước thành viên mới của ASEAN (Campuchia, Lào PDR, Myanmar và Việt Nam) tăng cường tham gia vào hợp tác kinh tế ASEAN - ấn Độ và mở rộng xuất khẩu, kể cả thông qua việc nâng cao nội lực, tính hiệu quả và khả năng cạnh tranh;

Khẳng định lại các quyền, nghĩa vụ và các cam kết của từng bên trong WTO và các hiệp định và thoả thuận đa phương, khu vực và song phương; và

Thừa nhận các thỏa thuận thương mại khu vực có vai trò xúc tác đóng góp cho việc thúc đẩy tự do hóa khu vực và toàn cầu và là khối kết cấu trong khuôn khổ hệ thống thương mại đa phương,

Đã nhất trí như sau:

Điều 1

Các mục tiêu

Các mục tiêu của Hiệp định này gồm:

(a) Củng cố và tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại, và đầu tư giữa các Bên;

(b) Từng bước tự do hóa và thúc đẩy thương mại hàng hóa và dịch vụ cũng như thiết lập một chế độ đầu tư minh bạch, tự do và thuận lợi;

(c) Tìm kiếm những lĩnh vực mới và áp dụng những biện pháp thích hợp để hợp tác kinh tế chặt chẽ hơn giữa các Bên; và

(d) Tạo thuận lợi cho các nước thành viên mới của ASEAN hội nhập kinh tế hiệu quả hơn và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các Bên.

Điều 2

Các biện pháp hợp tác kinh tế

Các Bên nhất trí tiến hành các cuộc đàm phán để thiết lập một Khu vực Thương mại và Đầu tư ASEAN - ấn Độ (RTIA), gồm cả Khu vực Thương mại tự do (FTA) về hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, và tăng cường và đẩy mạnh hợp tác kinh tế thông qua các biện pháp sau đây:

(a) Loại bỏ dần thuế quan và các hàng rào phi thuế đối với cơ bản toàn bộ thương mại hàng hóa;

(b) Từng bước tự do hóa thương mại dịch vụ trong hầu hết các lĩnh vực;

(c) Thiết lập một chế độ đầu tư thông thoáng và có tính cạnh tranh nhằm tạo thuận lợi và thúc đẩy đầu tư trong Khu vực Thương mại và Đầu tư ASEAN - ấn Độ (RTIA);

(d) Dành đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước thành viên mới của ASEAN;

(e) Dành linh hoạt cho các Bên trong đàm phán về Khu vực Thương mại và Đầu tư ASEAN - ấn Độ (RTIA) nhằm giải quyết những vấn đề nhạy cảm trong các lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, những linh hoạt này sẽ được đàm phán và nhất trí trên nguyên tắc có đi có lại và cùng có lợi;

(f) Xây dựng các biện pháp thuận lợi hóa thương mại và đầu tư có hiệu quả bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong các biện pháp đơn giản hóa các thủ tục hải quan và các thỏa thuận công nhận lẫn nhau;

(g) Mở rộng hợp tác kinh tế trong các lĩnh vực được các Bên cùng nhau thống nhất góp phần làm sâu sắc hơn mối liên kết thương mại và đầu tư giữa các Bên và hình thành các chương trình và kế hoạch hành động nhằm thực hiện các ngành/lĩnh vực hợp tác đã thỏa thuận; và

(h) Thiết lập những cơ chế thích hợp nhằm mục đích thực hiện hiệu quả Hiệp định này.

Điều 3

Thương mại hàng hoá

(1) Nhằm đẩy nhanh việc mở rộng thương mại hàng hóa, các Bên nhất trí tiến hành đàm phán để loại bỏ thuế và các quy định hạn chế thương mại đối với cơ bản toàn bộ thương mại hàng hóa giữa các Bên (ngoại trừ, trong trường hợp cần thiết, những biện pháp được cho phép theo Điều XXIV (8)(b) của Hiệp định WTO về Thuế quan và Thương mại (GATT)).

(2) Vì mục đích của Điều khoản này, các định nghĩa sau đây sẽ được áp dụng trừ khi ngữ cảnh có quy định khác:

(a) “Thuế suất MFN áp dụng” là mức thuế suất của các Bên áp dụng tại thời điểm 1 tháng 7 năm 2004; và

(b) “các biện pháp phi thuế quan” gồm cả các hàng rào phi thuế quan.

(3) Các Bên sẽ bắt đầu tiến hành tham vấn về chế độ thương mại của nhau, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong các vấn đề sau:

(a) Dữ liệu thương mại và thuế quan;

(b) Các thủ tục, quy tắc và quy định hải quan;

(c) Các biện pháp phi thuế quan, bao gồm nhưng không giới hạn ở các yêu cầu và thủ tục về giấy phép nhập khẩu, các hạn chế số lượng, các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, các biện pháp vệ sinh dịch tễ;

(d) Các quy tắc và quy định về quyền sở hữu trí tuệ; và

(e) Chính sách thương mại.

(4) Trong chương trình cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan của các Bên, các mức thuế suất đối với các mặt hàng được liệt kê sẽ được giảm dần và, trong trường hợp có thể, được loại bỏ theo quy định của Điều khoản này.

(5) Các mặt hàng nằm trong chương trình cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế thuộc Điều khoản này gồm tất cả các mặt hàng, ngoại trừ các mặt hàng trong Chương trình Thu hoạch sớm theo Điều 7 của Hiệp định này, và những mặt hàng đó được chia làm 2 Danh mục như sau: 

(a) Danh mục thông thường: Các mặt hàng nằm trong Danh mục thông thường của một Bên, được chính Bên đó liệt kê, sẽ có mức thuế suất MFN áp dụng tương ứng giảm dần hoặc xóa bỏ theo những lịch trình và thuế suất cụ thể (sẽ được các Bên cùng thỏa thuận) trong khoảng thời gian:

(i) Từ ngày 1/1/2006 đến 31/12/2011 đối với Bru-nây Đa-rút-xa-lam, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po, Thái-lan và ấn Độ;

(ii) Từ ngày 1/12006 đến 31/12/2016 đối với Phi-líp-pin và ấn Độ; và

(iii) Từ ngày 1/1/2006 đến 31/12/2016 đối với các nước thành viên mới ASEAN và từ 1/1/2006 đến 31/12/2011 đối với ấn Độ.

Đối với thuế suất đã được cắt giảm nhưng chưa được xóa bỏ sẽ được xóa bỏ dần theo những khung thời gian được thỏa thuận giữa các Bên.

(b) Danh mục nhạy cảm:

(i) Số lượng các mặt hàng thuộc Danh mục nhạy cảm được giới hạn bởi mức trần tối đa do các Bên cùng thống nhất.

(ii) Các mặt hàng trong Danh mục nhạy cảm của một Bên lập ra sẽ, trong trường hợp có thể, có mức thuế suất MFN áp dụng được giảm/xoá bỏ dần trong khoảng thời gian được các Bên nhất trí.

(6) Những cam kết mà các Bên đưa ra theo Điều này và Điều 7 của Hiệp định này phải tuân thủ các yêu cầu của WTO về xóa bỏ thuế quan đối với cơ bản toàn bộ thương mại giữa các Bên.

(7) Biên độ thuế suất/thuế suất cụ thể được các Bên thống nhất theo Điều khoản này sẽ chỉ là mức giới hạn của thuế suất/biên độ áp dụng của các Bên cho năm thực hiện cụ thể.

(8) Đàm phán giữa các Bên để thành lập Khu vực Thương mại và Đầu tư ASEAN - ấn Độ về thương mại hàng hóa bao gồm nhưng không giới hạn bởi những vấn đề sau:

(a) Phương thức, gồm cả những quy tắc chi tiết điều chỉnh việc cắt giảm và/hoặc xoá bỏ thuế quan;

(b) Quy tắc xuất xứ;

(c) Việc xử lý các mức thuế suất ngoài hạn ngạch;

(d) Việc sửa đổi các cam kết của một Bên trong hiệp định về thương mại hàng hóa dựa trên các hiệp định WTO;

(e) Các biện pháp/rào cản phi quan thuế, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn ở các hạn chế định lượng hoặc cấm nhập khẩu bất cứ mặt hàng nào hoặc cấm xuất khẩu hoặc bán để phục vụ xuất khẩu đối với bất cứ mặt hàng nào, cũng như những biện pháp vệ sinh dịch tễ và những hàng rào kỹ thuật đối với thương mại;

(f) Các biện pháp tự vệ dựa trên các hiệp định WTO;

(g) Các quy tắc về trợ cấp và các biện pháp đối kháng và biện pháp chống phá giá dựa trên các hiệp định hiện có của WTO; và

(h) Thuận lợi hoá và thúc đẩy việc bảo vệ có hiệu quả và thỏa đáng quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại dựa trên những quy định hịên hành của WTO, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và những hiệp định có liên quan khác.

Điều 4

Thương mại dịch vụ

Nhằm thúc đẩy việc mở rộng thương mại dịch vụ, các Bên nhất trí tiến hành đàm phán để từng bước tự do hoá thương mại dịch vụ đối với hầu hết các lĩnh vực. Các cuộc đàm phán này phải được định hướng nhằm:

(a) Xoá bỏ từng bước về cơ bản toàn bộ các phân biệt đối xử giữa các Bên và/hoặc ngăn cấm việc đưa ra thêm các biện pháp phân biệt đối xử mới hoặc có tính phân biệt đối xử cao hơn liên quan đến thương mại dịch vụ giữa các Bên, ngoại trừ những biện pháp được cho phép theo Điều V(1)(b) của Hiệp định WTO về thương mại dịch vụ (GATS);

(b) Mở rộng mức độ và phạm vi tự do hoá thương mại dịch vụ hơn những cam kết của các nước thành viên ASEAN và ấn Độ theo GATS; và

(c) Tăng cường hợp tác dịch vụ giữa các Bên nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, cũng như nhằm đa dạng hoá việc cung cấp và phân phối dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ tương ứng của các Bên.

(Xin xem tiếp phần 2)

Bình luận của bạn