cis_banner_final_en.png
Phát triển năng lượng tái tạo Ấn Độ và gợi ý chính sách cho Việt Nam (Phần 2)

17/06/2019


Phát triển năng lượng tái tạo Ấn Độ và gợi ý chính sách cho Việt Nam (Phần 2)


(Tiếp theo phần 1)

* Một số dự án phát triển và đầu tư năng lượng tái tạo nổi bật ở Ấn Độ

Công ty Tài chính quốc tế (IFC), cơ quan đầu tư của Ngân hàng Thế giới, dự kiến đầu tư 6 tỷ USD đến năm 2022 vào một số chương trình năng lượng tái tạo và bền vững tại Ấn Độ.

Cơ quan dịch vụ tài chính về năng lượng của Tập đoàn GE Mỹ (GEEFS) dự kiến đầu tư 90 triệu USD để phát triển năng lượng mặt trời 500 MW cùng với Tattan India Group.

Greenco Energy Holding đã thống nhất đầu tư bổ sung 155 triệu USD vào các dự án sẵn có cùng các Quỹ đầu tư khác như Abu Dhabi Investment Authority (ADIA) và Singapore’s Sovereign Wealth Fund GIC để mở rộng công suất một số cơ sở năng lượng sạch từ 2 GW hiện tại lên 3 GW.

Quỹ đầu tư tư nhân Actis LLP dự kiến đầu tư dự án thứ hai gồm 500 triệu USD vào Công ty năng lượng mặt trời Solenergi Power Ltd.

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Ngân hàng Quốc gia Punjab đã đầu tư cho vay 100 triệu USD để trợ giúp các dự án phát triển điện mặt trời tại các trung tâm thương mại và cao ốc toàn Ấn Độ.

Tata Capital Ltd. và IFC đã đầu tư 31 triệu USD trong một liên doanh là Tata Cleantech Capital Ltd. cho các dự án năng lượng mặt trời.

Ngành đường sắt Ấn Độ đang xem xét gọi 6 gói thầu trị giá 1,2 tỷ USD để thiết lập trong toàn quốc hệ thống truyền tải điện thống nhất quốc gia để tiết kiệm năng lượng điện và nâng cao chất lượng phục vụ.

Công ty năng lượng tái tạo ReNew Power đã thông báo dành 390 triệu USD từ khoản vay của ADB để phát triển và nâng công suất lên 709 MW từ các dự án thuộc ADB.

Chính phủ Ấn Độ dự kiến đầu tư 2,51 tỷ USD để cung cấp điện cho trên 40 triệu gia đình vào tháng 12/2018. Đồng thời cũng phấn đấu bảo đảm cung cấp điện 24/7 cho toàn Ấn Độ trong Kế hoạch chiến lược “Điện cho tất cả mọi người” (“Power for All”) vào năm 2019.

Ủy ban Các vấn đề kinh tế của nội các (CCEA) đã phê duyệt dự án nâng công suất của Chương trình phát triển các công viên điện mặt trời và các Đại dự án điện mặt trời từ 20.000 MW lên 40.000 MW với việc thiết lập ít nhất 50 công viên điện mặt trời với công suất riêng biệt từ 500 MW trở lên.

* Năng lượng mặt trời đang phát triển rất nhanh và trở thành lĩnh vực chủ chốt trong ngành năng lượng tái tạo Ấn Độ.

Năng lượng mặt trời của Ấn Độ từng không được chú trọng và quan tâm nhiều ở Ấn Độ do hạn chế của công nghệ dẫn đến chi phí giá thành cao để sản xuất trên quy mô lớn. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của công nghệ, nhất là trong việc hạ giá thành của của tấm pin năng lượng mặt trời thì ngành năng lượng này đã có bước tiến mạnh mẽ.

Chính phủ Ấn Độ đã triển khai Sứ mệnh Mặt trời quốc gia Jawaharlal Nehru theo Kế hoạch Hành động quốc gia về Biến đổi khí hậu vào tháng 11 năm 2009, với mục tiêu 20GW công suất lưới vào năm 2022 cũng như lắp đặt 2GW ngoài lưới.

Mục tiêu này đã đạt được sớm trước bốn năm vào tháng 1 năm 2018, thông qua các nhà máy năng lượng mặt trời cũng như các dự án pin mặt trời trên mái nhà. Do đó, Ấn Độ đã đặt ra mục tiêu mới đạt 100 GW năng lượng mặt trời vào năm 2022. Bốn trong số bảy nhà máy năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới đang ở Ấn Độ bao gồm nhà máy năng lượng mặt trời lớn thứ hai trên thế giới tại Kurnool bang Andhra Pradesh với công suất 1000 MW. Nhà máy điện mặt trời lớn nhất thế giới, Bhadla Solar Park đang được xây dựng tại Rajasthan với công suất 2255 MW[1]. Với Sứ mệnh Mặt trời Quốc gia, Ấn Độ đang có kế hoạch đầy tham vọng trở thành nhà lãnh đạo và là trung tâm thế giới trong sản xuất điện mặt trời.

3.2. Các khó khăn thách thức

* Nợ xấu của các dự án năng lượng tái tạo đang tăng lên

Các dự án năng lượng tái tạo đang gặp vấn đề trong việc thanh toán các khoản vay mặc dù đã có nhiều ưu đãi từ Chính phủ. Các ngân hàng đã trở nên thận trọng hơn và chỉ tài trợ vốn cho các dự án điện tái tạo khi nào các công ty chứng minh họ có thể phát triển dự án với chi phí đưa ra.

Chi phí đầu tư cho một dự án năng lượng tái tạo là rất lớn. Nền kinh tế Ấn Độ sẽ gặp phải các tác động tiêu cực nếu các ngân hàng phải gánh thêm hàng tỷ USD nợ xấu từ các dự án này, giữa lúc nền kinh tế đang phải đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực trong sang kiến “Make in India” và sự ra đời của thuế hàng hóa và dịch vụ mới. Nếu các dự án gặp trục trặc, doanh nghiệp sẽ vỡ nợ và ngân hàng sẽ gánh chịu nợ xấu và ngành năng lượng tái tạo có thể bị chững lại.

* Phân phối không hiệu quả

Đây là hạn chế nói chung của ngành điện Ấn Độ. Mặc dù các dự án nhà máy năng lượng tái tạo đang được mở rộng thì cơ sở hạ tầng, mạng lưới của ngành điện còn nhiều thiếu hụt đặc biệt ở các vùng nông thôn kém phát triển. Bên cạnh đó, các nhà máy điện chỉ có thể bán điện cho các cơ quan chính phủ thay tự phân phối nó cho người dùng cuối hoặc thuê ngoài với những nhà phân phối khác. Bên cạnh các ưu đãi cho năng lượng tái tạo thì Chính phủ cũng áp dụng các chính sách ưu đãi cho người dân, chẳng hạn như cung cấp điện miễn phí/giá rẻ cho nông dân trước cuộc bầu cử. Hội đồng Điện lực nhà nước chịu trách nhiệm phân phối điện hầu như phải chịu lỗ. Điều này dẫn đến áp lực cho các dự án năng lượng tái tạo trong khi chi phí vẫn còn khá cao. Hơn nữa, điều này đang dẫn đến nghịch lý, mặc dù Ấn Độ gần đây tạo ra năng lượng thặng dư nhờ đóng góp của các dự án năng lượng tái tạo thì một số thành phố/thị trấn bị cắt điện vào một số thời điểm, các vùng sâu, vùng xa vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận điện lưới.

* Phát triển năng lượng mặt trời phải đối mặt với các khó khăn về chi phí có xu hướng tăng cao

Thứ nhất, dù lượng ánh sáng mặt trời hằng năm tại Ấn Độ là tương đối ổn định nhưng mức độ ô nhiễm tăng cao đang ảnh hưởng đến việc sản xuất năng lượng này. Một nghiên cứu mới đây cho thấy mức độ ô nhiễm không khí quá cao tại Ấn Độ đang làm giảm tới 25% khả năng tạo ra điện mặt trời.

Thứ hai, chi phí tấm pin năng lượng mặt trời đang có xu hướng tăng lên do cả Mỹ lẫn Ấn Độ đang xem xét áp thuế chống bán phá giá đối với các tấm pin sản xuất tại Trung Quốc. Theo dự báo của MNRE, một động thái như thế sẽ đẩy tổng chi phí các dự án năng lượng mặt trời tăng thêm 20%.

Thứ ba, thuế hàng hóa và dịch vụ mới của Ấn Độ cũng đã đẩy cao chi phí của các dự án năng lượng mặt trời. Các vật liệu như thép và đồng, giờ chịu mức thuế 18%. Một rủi ro rất lớn nữa là các công ty nhà nước thu mua điện từ các dự án năng lượng mặt trời có thể gặp khó khăn trong thanh toán khi bản thân họ đang gặp khó khăn về tài chính.

4. Kết luận và gợi ý chính sách cho Việt Nam

Ấn Độ đã tạo ra mô hình chính sách hiệu quả để sản xuất và phát triển năng lượng tái tạo. Mặc dù vẫn còn một số bất cập trong thiết kế và triển khai, nhưng nhìn chung Ấn Độ có một khuôn khổ chính sách ổn định và cam kết mạnh mẽ từ chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo trong nước. Những thành công trong chính sách phát triển năng lượng tái tạo đang và sẽ giúp nước này duy trì tốc độ phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh năng lượng. Các chính sách về phát triển năng lượng tái tạo của Ấn Độ là kinh nghiệm quý giá cho các quốc gia trên thế giới, nhất là đối với các nước có tốc độ công nghiệp hoá nhanh, nhu cầu năng lượng lớn như Việt Nam.

Cũng giống như Ấn Độ, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn về các dạng năng lượng tái tạo khác như mặt trời, gió, sinh khối,... Là quốc gia nhiệt đới gió mùa, nhiều nắng, có bờ biển dài trên 3.260 km, gió biển quanh năm, Việt Nam có thể tận dụng thế mạnh này để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo. Chính phủ Việt Nam đã có những quan tâm đến việc phát triển năng lượng tái tạo, tuy nhiên, các kết quả đạt được còn rất khiêm tốn. Từ kinh nghiệm phát triển năng lượng tái tạo Ấn Độ, có thể rút ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam trong việc phát triển năng lượng tái tạo:

* Phát triển năng lượng tái tạo cần sự đồng bộ chính sách từ trung ương đến các địa phương và sự quyết tâm mạnh mẽ tự hệ thống chính trị thông qua các cam kết hỗ trợ dài hạn tạo sự ổn định và tin tưởng cho các nhà đầu tư. Việt Nam cần lập các kế hoạch phát triển dài hạn để làm căn cứ để xây dựng hoàn thiện khung chính sách và luật pháp hỗ trợ sự phát triển của năng lượng tái tạo, hướng tới phát triển bền vững nền kinh tế và khuyến khích đầu tư mạnh mẽ vào năng lượng tái tạo. 

* Trong điều kiện kinh tế và xã hội Việt Nam, không nên quá chú trọng vào đầu tư dàn trải mà nên tập trung vào chính sách khuyến khích, ưu đãi các nhà đầu tư dựa vào vận hành sản xuất để hạn chế các dự án đầu tư tràn lan không hiệu quả, chạy theo thành tích công suất lắp đặt mà chưa chắc đem lại hiệu quả về vận hành và thực phát của các địa phương.

* Việt Nam cần có thêm các quỹ tài trợ vốn cho các dự án năng lượng tái tạo. Nguồn vốn tài trợ cho các dự án hiện nay chủ yếu đến từ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), hoặc do ngân sách nhà nước. Do vậy, cần đa dạng hóa sự hợp tác với các quỹ phát triển năng lượng tái tạo trên thế giới để tranh thủ nguồn vốn, đồng thời sử dụng vốn hiệu quả nếu không sẽ trở thành gánh nặng nợ rất khó hoàn trả. Bên canh đó, Việt Nam có thể lập quỹ từ nguồn thuế thu từ các nguồn năng lượng hóa thạch tại Việt Nam hiện nay. Với chính sách này sẽ giúp Việt Nam có thêm nguồn vốn đầu tư đáng kể cho nghiên cứu và phát triển các công nghệ năng lượng mới và tái tạo, tài trợ cho các dự án đầu tư mới và làm tăng khả năng cạnh tranh.

* Các công cụ hỗ trợ chính sách cần được hoàn thiện. Trong số đó có: mức trợ giá, nghĩa vụ năng lượng tái tạo, giao dịch chứng chỉ, các khoản miễn thuế, miễn thuế nhập khẩu, ưu đãi cho vay, nghĩa vụ nhiên liệu sinh học, từ đó hoàn thiện hơn bộ công cụ chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo của Việt Nam.

* Ngoài ra, Việt Nam cần bắt đầu xây dựng chuỗi công nghệ phù hợp với từng loại năng lượng tái tạo và phù hợp với giai đoạn hoàn thiện của công nghệ, định hướng cho các công cụ chính sách từng thời kỳ tác động đúng mục tiêu, mục đích và hiệu quả. Để làm được như vậy, Việt Nam cần hợp tác, học tập các quốc gia có nhiều kinh nghiệm phát triển năng lượng tái tạo như Ấn Độ để có thể đưa các chính sách vào thực tế một cách hiệu quả./.

Tài liệu tham khảo

1. Amitabh Sinha (2015), “Here are India’s INDC objectives and how much it will cost”, The Indian Express.

2. Basu, S. (2014), “Guidelines for A Model Renewable Energy Policy in Indian States. Energy Next”, xem tại: http://www.energynext.in/entire-grid-connected-solar-capacity-under-phasei-of-jnnsm-allocated-mnre-minister/. Truy cập: 14/03/2018.

3. MNRE (2018a), All India Installed Capacity of Utility Power Stations, Ministry of New and Renewable Energy, Govt. of India.

4. Ministry of Power, (2013), Report of Working Group on Power for Twelfth Plan (2012-2017).

5. MNRE (2018b), Physical Progress (Achievements), Ministry of New and Renewable Energy, Govt. of India Energy.

6. MNRE (2018c ), Press Information Bureau Government of India Ministry of New and Renewable Energy.

7. Safi, Michael (2016), India plans nearly 60% of electricity capacity from non-fossil fuels by 2027", The Guardian. Retrieved 2018-04-25, https://www.theguardian.com/world/2016/dec/21/india-renewable-energy-paris-climate-summit-target.

8. Wise (2017), Renewables India 2017.

9. Yasushi Ninomiya (2018), Outlook for Renewable Energy Market, IEEJ January 2018 © IEEJ2018.

10. Nguyễn Tuấn Quang (2017), “Ngành điện Ấn Độ”, xem tại: http://cis.org.vn/article/2564/nganh-dien-an-do-phan-1.html truy cập 18/3/2019.


[1] MNRE (2018c ), Press Information Bureau Government of India Ministry of New and Renewable Energy.

Bình luận của bạn