cis_banner_final_en.png
An ninh năng lượng của Ấn Độ

18/06/2019


An ninh năng lượng của Ấn Độ


Nguyễn Tuấn Quang*

Tóm tắt

Ấn Độ là nước sản xuất và tiêu thụ lớn thứ ba về điện trên thế giới, với công suất lắp đặt 324,29 GW đến tháng 1/2019. Nước này có công suất lắp đặt lớn thứ năm thế giới và cũng là nước sản xuất dầu thô và khi đốt tự nhiên.

Ấn Độ đang hướng tới trở thành nền kinh tế có quy mô lớn thứ ba giới vào năm 2030, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ. Ngành năng lượng được đặc biệt chú trọng. Nước này có kế hoạch khai thác than, dầu thô và các nguồn năng lượng tái tạo để đáp ứng nhu cầu trong nước. Nhưng việc hợp tác để thăm dò và khai thác dầu và khí, thúc đẩy nghiên cứu và sản xuất năng lượng tái tạo, thiết lập việc nhập khẩu dài hạn và tin cậy ở nước ngoài cũng rất quan trọng.

Với Việt Nam và Ấn Độ, có rất nhiều cơ hội cho thương mại và đầu tư tại các lĩnh vực ưu tiên hợp tác như: hydrocarbons, phát điện, năng lượng tái tạo, cơ sở hạ tầng, dệt, da giày, dược phẩm, máy công cụ, nông nghiệp và nông sản, du lịch, hóa chất, ICT và các ngành công nghiệp dịch vụ khác. Mục tiêu thương mại hai chiều 15 tỷ USD do lãnh đạo cấp cao hai nước đề ra sẽ đạt được trong vài năm tới.

Các công ty Ấn Độ đang đầu tư vào 188 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 875 triệu USD, xếp thứ 27 trong tổng số 126 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam.

Hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Ấn Độ vừa là nhu cầu tất yếu vừa là mối quan hệ song phương chiến lược và toàn diện trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi. Dư địa cho sự hợp tác này là rất lớn và đủ cho cả hai nước. Thăm dò dầu khí là lĩnh vực quan trọng của sự hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ.

Việt Nam và Ấn Độ cam kết tiếp tục thúc đẩy đầu tư song phương, trong đó bao gồm các đề án hợp tác giữa PVN và ONGC về thăm dò dầu khí trên đất liền, thềm lục địa và Vùng kinh tế đặc quyền (EEZ) của Việt Nam, và khuyến khích các công ty của hai bên chủ động hơn trong việc thiết lập các mô hình cho sự hợp tác, kể cả các dự án tại nước thứ ba. Việt Nam hoan nghênh các công ty Ấn Độ đầu tư vào các dự án năng lượng nhiệt mới và năng lượng tái tạo tại Việt Nam và tìm kiếm cơ hội trong các lĩnh vực.

***

Tổng quan ngành năng lượng Ấn Độ

Nền kinh tế Ấn Độ tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm qua. Nhu cầu về năng lượng cũng vì thế tăng cao. Theo quy ước chung, công nghiệp năng lượng bao gồm hàng loạt các ngành công nghiệp khác nhau, từ khai thác các dạng năng lượng (than, dầu mỏ, khí đốt,...) cho đến sản xuất điện năng và được chia thành hai nhóm ngành: khai thác nhiên liệu và sản xuất điện năng.

Về tổng thể, theo số liệu của Energy Data, sản xuất năng lượng của Ấn Độ năm 2017 quy dầu là 596 triệu tấn và tiêu thụ 934 triệu tấn. Nghĩa là nước này chỉ tự túc được khoảng 65% nhu cầu về năng lượng. Phần còn lại phải dựa vào nguồn nhập khẩu từ các nước khác.

Theo Bộ Điện lực của Ấn Độ, toàn bộ công suất lắp đặt điện của Ấn Độ đến ngày 31/3/2019 là 356.100,19 Mega Watt (MW). Các nhà máy nhiệt điện là 226.279,34 MW chiếm tỷ trọng 63,54%; thủy điện 45.399,22 MW với 12,75%; điện nguyên tử 6.780 MW với 1,9%; các nguồn năng lượng khác 77.641,63 MW với 21,8%, trong đó thủy điện nhỏ 4.539,15 MW, điện gió 35.625,97 MW, điện mặt trời 28.180,71 MW, điện sinh học 9.241,80 MW.

Ấn Độ xếp thứ năm trên thế giới về công suất phát điện và thứ ba trên thế giới về sản lượng và tiêu thụ điện. Đến tháng 2/2019, sản lượng điện của Ấn Độ là 1.142 tỷ đơn vị (Billion Units/BU). 

Sản xuất than của Ấn Độ năm 2017/2018 là 676,48 triệu tấn và năm 2018-2019 (đến tháng 2/2019) là 633,44 triệu tấn. Nhập khẩu than năm 2017-2018 là 208,27 triệu tấn và năm 2018-2019 (đến tháng 1/2019) là 633,44 triệu tấn.

Sản xuất và nhập khẩu nhiên liệu của Ấn Độ

                                                                         Đơn vị: triệu tấn (MT)

Sản xuất dầu thô của Ấn Độ năm 2016-2017 là 36,01 triệu tấn và năm 2017-2018 là 37,37 triệu tấn. Nhập khẩu dầu thô năm 2016-2017 là 213,93 triệu tấn và năm 2017=2018 là 217,08 triệu tấn.

Sản xuất khí gas tự nhiên năm 2016-2017 là 31,9 triệu tấn và năm 2017-2018 là 35,24 triệu tấn.

Cơ cấu ngành năng lượng Ấn Độ gồm than là 58,1%; dầu 27,9%; 6,5% khí ga tự nhiên; 4% thủy điện; 2,2% năng lượng tái tạo và 1,2% điện nguyên tử.

Ấn Độ và an ninh năng lượng

Kể từ cuộc cải cách kinh tế toàn diện năm 1991, Ấn Độ đã rất chú trọng tới an ninh năng lượng. Các chính phủ kế tiếp nhau đã đưa ra nhiều biện pháp, chương trình để tăng nguồn năng lượng cho đất nước. Đó là, đầu tư khai thác các nguồn nguyên liệu tự nhiên như dầu mỏ và khí đốt, xây dựng các nhà máy phát điện và hệ thống truyền tải điện, xây dựng các tổ hợp lọc hóa dầu, xây dựng các cơ sở sản xuất năng lượng tái tạo. Thách thức chính là Ấn Độ mới tự túc được 65% nhu cầu về năng lượng. Để bù đắp khoản thiếu hụt, Ấn Độ thực hiện và duy trì quan hệ đối tác nhập khẩu dầu thô, khí đốt tự nhiên, than đá với nước ngoài như Iran, Iraq, Ả Rập Xêút, Trung Quốc,…

Theo Tổ chức Năng lượng quốc tế (IEA), an ninh năng lượng là việc bảo đảm nguồn năng lượng không bị gián đoạn với mức giá cả chấp nhận được. An ninh năng lượng có nhiều khía cạnh: an ninh năng lượng dài hạn với việc đầu tư để cung cấp năng lượng đồng hành cùng với sự phát triển kinh tế và nhu cầu của môi trường. An ninh năng lượng ngắn hạn tập trung vào hệ thống năng lượng để đối phó lập tức với những thay đổi bất ngờ trong cán cân cung cầu.

Các tập đoàn, công ty lớn trong ngành điện Ấn Độ gồm: Adani Power Ltd. chuyên về phát điện, truyền tải và kinh doanh điện; CESC Ltd.; Gujarat Industries Power Company Ltd.; Indraprastha Power Generation Company Ltd; NHPC Ltd.; NTPC Ltd.; Nuclear Power Corporation of India Ltd.; Power Grid Corporation Of India Ltd.

Các nhà máy lọc dầu, chế biến và phân phối gas lớn tại Ấn Độ gồm: Indian Oil Corporation; Bharat Petroleum; Oil and Natural Gas Corporation; Gail  India Limited; Reliance Petroleum; Hindustan Petroleum; Oil India; Cairn India.

NTPC Ltd. là công ty sản xuất điện lớn nhất tại Ấn Độ và công ty nhiệt điện lớn thứ sáu thế giới với công suất lắp đặt 53,65 GW đến tháng 8/2018. Hiện đang xây lắp bổ sung công suất 19,75 GW. Đến năm 2032, NTPC dự kiến đạt công suất lắp đặt 128.000 GW. Sản lượng điện than chiếm trên 84,7% tổng công suất lắp đặt.

Ấn Độ cũng là nước thành công trong việc tư nhân hóa ngành năng lượng từ năm 1991 về phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, lọc dầu, phân phối xăng dầu. Do đó, đã huy động được lượng vốn rất lớn trong xã hội để đầu tư, phát triển ngành năng lượng và tạo sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất và phân phối năng lượng toàn quốc. Người tiêu dùng trong nước được hưởng lợi.

Reliance Industries Ltd. là tập đoàn tập đoàn đa ngành về lọc dầu, phát điện, bán lẻ, phân phối xăng dầu, có nhà máy lọc dầu công suất lớn nhất thế giới 1,24 triệu thùng dầu/ngày tại Bang Gujarat và giá trị vốn hóa thị trường 122,85 tỷ USD năm 2018.

Số liệu về ngành năng lượng của Ấn Độ

 

Có thể nói, Ấn Độ có ngành năng lượng khá phát triển và là một trong những trụ cột của nền kinh tế. Thời gian vừa qua, thị trường năng lượng thế giới có những biến đổi nhanh chóng và khó lường. Chính phủ Ấn Độ đã chủ động có những bước đi, ứng xử linh hoạt để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Kế hoạch phát triển

Chính phủ Ấn Độ coi năng lượng là một trong những ngành công nghiệp trụ cột trong xây dựng và phát triển đất nước, phát triển cơ sở hạ tầng và đồi sống của người dân. Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia là quan trọng trước mắt cũng như lâu dài.

Kế hoạch phát triển ngành năng lượng được NITI (Cơ quan nghiên cứu phát triển Ấn Độ) do Thủ tướng Narendra Modi đứng đầu đã đề ra các mục tiêu cho ngành năng lượng:

- Cung cấp điện đến các làng tại nông thôn vào năm 2018-2019. Việc này đã hoàn thành vào tháng 3/2019. Sau đó, phổ cập điện đến từng hộ gia đình 24/24 giờ, bảy ngày trong tuần cho toàn Ấn Độ vào năm 2022.

- Giảm trợ cấp trong ngành điện để điện để đảm bảo cạnh tranh tranh. 40% công suất lắp đặt về điện là sử dụng năng lượng tái tạo.

- Tiếp cận đầy đủ nhiên liệu sạch dùng cho đun nấu trong toàn bộ các gia đình Ấn Độ.

- Giảm tỷ trọng khí thải carbon so với GDP đạt mức 33 - 35% vào năm 2030, đạt Mục tiêu thiên niên kỷ của Ấn Độ như nêu tại Hội nghị về biến đổi khí hậu COP21 tại Paris.

Năng lượng tái tạo với mục tiêu dự kiến 175 GW (Giga Watt) công suất lắp đặt vào năm 2022. Với năng lượng gió con số này là 60 GW vào năm 2022, năng lượng mặt trời là 100 GW.

Thời gian gần đây, để đối phó với lệnh chấm dứt gia hạn cho 8 quốc gia vào ngày 1/5/2019, trong đó có vấn đề Ấn Độ nhập khẩu dầu từ Iran, Ấn Độ đã chủ động chuyển hướng sang nhập dầu thô từ các quốc gia sản xuất dầu thô khác như Ả Rập Xê út,…Tuy nhiên, giá dầu tăng cao cũng gây thiệt hại cho các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ và làm tăng thâm hụt thương mại vốn là câu chuyện chưa có lời giải hiệu quả của nước này.

Năm 2018-2019, Ấn Độ là khách hàng xếp thứ hai nhập khẩu dầu từ Iran chỉ sau Trung Quốc với 23,5 triệu tấn. Năm 2017-2018, khoảng 10% trong tổng số 220,4 triệu tấn dầu thô nhập khẩu là từ Iran.

Hợp tác năng lượng Việt Nam - Ấn Độ

Quan hệ Việt Nam Ấn Độ có truyền thống lịch sử lâu đời. Hai bên đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược năm 2007 và nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2016. Sự tin cậy chính trị giữa hai nước không ngừng được củng cố thông qua việc duy trì đều đặn các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư luôn duy trì tốc độ phát triển nhanh, ổn định và đạt được những kết quả ấn tượng, đã ngày càng thực chất hơn. Ấn Độ hiện là 1 trong 10 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều tăng dần qua các năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược.

Năm 2018, Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ 6,542 tỷ USD và nhập khẩu từ Ấn Độ 4,147 tỷ USD. Tổng xuất nhập khẩu là 10,689 tỷ USD.  Con số của năm 2017 lần lượt là 3,758 tỷ USD, 3,940 tỷ USD và 7,698 tỷ USD.

Để đạt mục tiêu kim ngạch song phương 15 tỷ USD thời gian tới, hai bên cần tăng cường đầu tư trên các lĩnh vực mà Ấn Độ có thế mạnh và Việt Nam đang có nhu cầu. Đồng thời, đẩy mạnh kết nối hàng không và hàng hải, hạn chế và từng bước xóa bỏ các rào cản thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa xuất nhập khẩu của hai nước.

Trong những năm gần đây, Ấn Độ đã tiến hành các hoạt động đầu tư phát triển tại Việt Nam. Nhất là việc Ấn Độ triển khai các hoạt động tìm kiếm thăm dò, chế biến dầu khí, hóa dầu và dịch vụ liên quan khác. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tập đoàn Dầu khí quốc gia Ấn Độ (ONGC) đã tiến hành ký kết và triển khai các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên cơ sở phân chia sản phẩm tại lô 06.1 và 128 khai thác tại Biển Đông, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đồng thời, giữa hai tập đoàn cũng đã ký Biên bản ghi nhớ và đang triển khai hợp tác trong việc tìm kiếm thăm dò dầu khí ở các nước thứ ba.

Từ tháng 5 năm 2013, Việt Nam đã giao Tập đoàn Tata Power của Ấn Độ làm chủ dự án BOT xây dựng nhà máy Nhiệt điện Long Phú 2, với thiết kế công xuất: 2 X 600 MW, tổng mức đầu tư đăng ký hơn 2 tỷ USD tại tỉnh Sóc Trăng. Tháng 12/2015, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép Bộ Công Thương ký và phê duyệt bản nghiên cứu tiền khả thi đẩy nhanh tiến độ, đưa dự án thương mại vận hành năm 2021-2022.

Trong khu vực Trung Á và Tây Á, Ấn Độ đang là đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, chủ yếu tập trung vào phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ thông tin, khai khoáng, với 164 dự án và tổng vốn đăng ký đạt trên 755 triệu USD, xếp thứ 28 trong tổng 116 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam.

Các công ty lớn của Ấn Độ như Tata Power, Adani Energy, Hero Future Energy, KCP Group,… đã đầu tư vào các lĩnh vực điện, đặc biệt là năng lượng tái tạo - năng lượng mặt trời, gió tại Việt Nam.

Hiện các doanh nghiệp Ấn Độ đầu tư vào Việt Nam 188 dự án lớn với tổng vốn đầu tư đạt khoảng 875 triệu USD, xếp thứ 27 trong số 126 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam.

Những công việc cần thúc đẩy trong thời gian tới

Ấn Độ cũng đang hướng tới nền kinh tế xếp thứ ba trên thế giới vào năm 2030, quy mô chỉ sau Trung Quốc và Mỹ. Năng lượng vẫn là câu chuyện được quan tâm đặc biệt. Ấn Độ có những kế hoạch để tăng sản lượng khai thác than, dầu mỏ, khí đốt và năng lượng tái tạo. Đồng thời, hợp tác quốc tế về năng lượng là một chìa khóa để giải quyết bài toán khó khăn này. Đó là việc hợp tác khai thác dầu mỏ và khí đốt tại nước ngoài, tăng cường nghiên cứu và sản xuất năng lượng tái tạo, tạo nguồn nhập khẩu tin cậy và dài hạn,…

Việc hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Ấn Độ vừa là yêu cầu khách quan vừa là đáp ứng thúc đẩy quan hệ song phương toàn diện và chiến lược giữa hai nước, trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi. Dư địa về hợp tác giữa hai bên là rất lớn.

Hai nước cần tăng cường hợp tác về thăm dò dầu khí, thủy điện, nhiệt điện, năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng. Các doanh nghiệp Ấn Độ cần mở rộng hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên đất liền và tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ) và đề nghị Ấn Độ tích cực nghiên cứu, sớm có đề xuất với những lô dầu khí phía Việt Nam đã giới thiệu.

Đồng thời tích cực thực hiện Biên bản ghi nhớ về hợp tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở các nước thứ ba. Việt Nam ủng hộ các công ty dầu khí Ấn Độ tìm kiếm cơ hội hợp tác trong lĩnh vực dầu khí trung nguồn và hạ nguồn tại Việt Nam.

Ấn Độ cũng đề xuất hỗ trợ Việt Nam xây dựng trung tâm nghiên cứu năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình.

Hai nước xem xét tích cực việc ký kết Hiệp định khung về Liên minh Năng lượng Mặt trời nhằm tăng cường hợp tác trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.

Việt Nam đã trở thành một câu chuyện thành công trên toàn cầu về phát triển ngành năng lượng trong một vài thập kỷ vừa qua. Sự thành công của ngành năng lượng là một yếu tố quan trọng đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững của quốc gia, sự vượt bậc trong công tác giảm nghèo và nâng cao đời sống cho người dân.

Mục tiêu trong tương lai của Việt Nam là đảm bảo việc cung cấp năng lượng một cách bền vững, sạch, tin cậy và ở mức có thể chi trả được cho người dân Việt Nam./.


* Nguyên Tham tán thương mại Việt Nam tại Ấn Độ (Former Eco-com Official, Embassy of Vietnam in India).

Bình luận của bạn