cis_banner_final_en.png
Vấn đề khó trong quan hệ Trung - Ấn và sách lược của Trung Quốc (Phần 2)

24/06/2019


Vấn đề khó trong quan hệ Trung - Ấn và sách lược của Trung Quốc (Phần 2)


(Tiếp theo phần 1)

Một là vấn đề địa vị nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ấn Độ cho rằng 4 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc kia đều ủng hộ Ấn Độ, chỉ có Trung Quốc phản đối. Trên thực tế, sự ủng hộ của 4 nước kia đối với Ấn Độ là một phần, có điều kiện, đó chính là ủng hộ Ấn Độ trở thành nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhưng không ủng hộ nước này có quyền phủ quyết. Trung Quốc lại vừa không ủng hộ Ấn Độ trở thành nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, vừa không ủng hộ nước này có quyền phủ quyết. Có người nói Trung Quốc tại sao không làm theo cách của 4 nước kia? Trong đó có một nguyên nhân là Trung Quốc phải nghĩ đến cảm nhận của các nước vừa và nhỏ ở Nam Á như Pakistan… Một mâu thuẫn khác là Trung Quốc không cho phép Ấn Độ gia nhập Nhóm các nước cung cấp hạt nhân (NSG). Lý do của Trung Quốc là Ấn Độ không phải là nước ký kết “Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân” (NPT). Cũng có nghĩa là phần lớn lợi ích và địa vị quốc tế mà Ấn Độ tìm kiếm đều cần phải tranh thủ từ phía Trung Quốc, còn Trung Quốc chịu sự ràng buộc từ tình hình địa lý của mình nên không nhượng bộ được. Vì vậy, hai bên đều không cùng đàm phán được về vấn đề cải cách trật tự quốc tế. Ngoài ra, sự lý giải của Trung Quốc và Ấn Độ đối với trật tự khu vực cũng khác nhau. Ngoại giao Trung Quốc không thừa nhận phạm vi thế lực, do vậy cũng không thừa nhận phạm vi thế lực của Ấn Độ ở Ấn Độ Dương. Còn theo quan điểm của người Ấn Độ, xung quanh Ấn Độ Dương chính là của Ấn Độ vì vậy Tổng tham mưu trưởng Lục quân Ấn Độ Bipin Rawat có thể nói một cách thẳng thắn “không cho phép các nước láng giềng lập lờ với Ấn Độ”. Trung Quốc nói tôn trọng địa vị nước lớn của Ấn Độ, nhưng theo quan điểm của Ấn Độ, Trung Quốc không qua hiệp thương đã đưa Hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan, Hành lang kinh tế Bangladesh-Trung Quốc-Ấn Độ-Myanmar (BCIM) ở vịnh Bengal vào phạm vi của “Vành đai và Con đường”, đây là sự không tôn trọng đối với Ấn Độ. 

Vấn đề thứ ba có liên quan đến thương mại. Giới doanh nhân Trung Quóc cho rằng Ấn Độ là nước lớn với dân số 1,3 tỷ người, có thị trường rộng lớn, nhưng đây chỉ là về mặt lý luận. Kinh nghiệm của Trung Quốc xuất phát từ thời cải cách mở cửa bắt đầu cuối thập niên 70 của thế kỷ 20. Bao nhiêu năm qua, việc Trung Quốc “dùng thị trường đổi lấy công nghệ” đã giành được thành công lớn, nên Trung Quốc cho rằng người Ấn Độ chắc cũng nghĩ như vậy. Nhưng vấn đề là sở dĩ Trung Quốc “dùng thị trường đổi lấy công nghệ” có thể giành được thành công là vì công nghệ của Trung Quốc khi đó ít nhất đi sau nước khác 20 năm. Trước khoảng cách công nghệ lớn như vậy, nước khác cảm thấy cho dù Trung Quốc có giành được công nghệ cũng không sao. Nhưng tình hình giữa Trung Quốc và Ấn Độ lại không như vậy. Ấn Độ cho rằng khoảng cách giữa Trung Quốc và Ấn Độ không lớn, một khi đã mở rộng cánh cửa thị trường cho các doanh nghiệp Trung Quốc thì các doanh nghiệp Ấn Độ cũng không có không gian phát triển của mình. Về mặt này, nhận thức của Ấn Độ thực ra là có một quá trình thay đổi. Khi Manmohan Singh làm thủ tướng trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến năm 2014, Ấn Độ chủ yếu nỗ lực phát triển ngành dịch vụ, muốn trở thành “văn phòng của thế giới”. Sau khi ông Modi lên nắm quyền tháng 5/2014, Ấn Độ bắt đầu coi trọng ngành sản xuất, muốn phát triển “Thương hiệu Ấn Độ” (Make in India), để lại thị trường của mình cho công cuộc công nghiệp hóa, chỉ muốn các doanh nghiệp Trung Quốc xây cầu làm đường, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng về mặt mở cửa thị trường lại rất thận trọng. Do vậy, ở cấp độ chiến lược, Ấn Độ và Mỹ đều có lợi ích chung; việc phối hợp chặt chẽ với Mỹ để đọ sức với Trung Quốc là sự lựa chọn lý tính của Ấn Độ, không phải là cách giận dỗi để đối đầu với Trung Quốc; ở cấp độ khu vực, Ấn Độ là nước có sự tự tin về văn hóa, đây là cơ sở tâm lý về thế mạnh của họ đối với các nước xung quanh. Giữa Trung Quốc và Ấn Độ vừa không có lợi ích chung rộng rãi, vừa không có kẻ thù chung, giữa hai nước thiếu nền tảng hợp tác chiến lược thật sự. Do vậy, Trung Quốc không cần thiết và cũng không có khả năng tranh thủ và lôi kéo Ấn Độ, càng tranh thủ sẽ càng tạo cho Ấn Độ ảo tưởng về tầm quan trọng của mình, từ đó đối đầu hơn với Trung Quốc. Năm 2012, quan hệ Trung Quốc-Philippines trước khi xuất hiện sự kiện đảo Hoàng Nham (bãi cạn Scarborough) chính là “gương tày liếp”. 

Ấn Độ tăng thêm lòng tin sau sự kiện Doklam 

Đương nhiên, trong mấy chục năm trước khi xảy ra sự kiện Doklam, Trung Quốc và Ấn Độ cũng không có nền tảng hợp tác chiến lược, nhưng trong giai đoạn đó hai bên đã kiểm soát được xung đột biên giới, trong đó nguyên nhân chính là 2 nước đều không coi đối phương là nước trọng điểm chiến lược. Trọng điểm chiến lược khi đó của Ấn Độ là vấn đề trong nước, vẫn chưa mở rộng đến mức có lòng tin tham gia các vấn đề quốc tế. Nhưng sau khi Modi lên nắm quyền, cải cách kinh tế trong nước của Ấn Độ rất thuận lợi, các nước phương Tây cũng khuyến khích và ca ngợi Ấn Độ, điều này đã tăng thêm lòng tự tin cho toàn thể người dân Ấn Độ. Trong thời gian đầu Modi lên nắm quyền, các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhiều lần tới thăm Ấn Độ, phát đi tín hiệu tích cực cho Ấn Độ, đó chính là nước này rất quan trọng đối với Trung Quốc, bởi vấn đề giữa hai nước hứa hẹn sẽ được giải quyết trong một thời gian ngắn. Nhưng đối với Trung Quốc, những vấn đề này không phải là nhiệm vụ cấp bách. Sự mong đợi của hai bên đối với quan hệ 2 nước có sự chênh lệch. Do vậy sau chuyến thăm Trung Quốc của Modi năm 2015, quan hệ Trung-Ấn bắt đầu nhanh chóng đi xuống. Sau đó, Ấn Độ liên tục đưa ra các vấn đề đối với Trung Quốc, nhưng không được sự hồi đáp tích cực như mong đợi, đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự kiện Doklam năm 2017. Trung Quốc cũng nhận ra sự thất vọng của Ấn Độ, nhưng không ngờ Ấn Độ lại thật sự cương quyết với Trung Quốc trong vấn đề biên giới. Tuy nhiên, sự thực chứng minh Ấn Độ dám làm như vậy. Sở dĩ xuất hiện tình hình trở tay không kịp này không phải là vì Trung Quốc sợ Ấn Độ, mà là vì nước này không phải là phương hướng chiến lược ưu tiên của Trung Quốc, Trung Quốc không muốn lãng phí sức lực vào vấn đề này, do vậy không muốn nảy sinh xung đột với Ấn Độ. 

Cuối cùng, sự kiện đối đầu Doklam kết thúc bằng việc duy trì nguyên trạng, lợi ích thực tế của Trung Quốc ở khu vực Doklam không bị tổn hại. Nhưng lòng tin chiến lược giữa Trung Quốc và Ấn Độ bị tổn hại nghiêm trọng, các nước Nam Á cũng nảy sinh sự hoài nghi đối với việc Trung Quốc trong tương lai liệu có thể tiếp tục duy trì sự hiện diện ở khu vực này hay không, chi phí thúc đẩy chính sách của Trung Quốc ở khu vực này trong thời gian tới cũng gia tăng. Còn lòng tin của Ấn Độ lại tăng lên sau sự kiện Doklam, một mặt đã gia tăng đối đầu với Trung Quốc, tham vọng gây ảnh hưởng ở khu vực Nam Á ngược lại được khích lệ hơn nữa. Hiện mong muốn kiểm soát khủng hoảng của Trung Quốc và Ấn Độ giảm mạnh, sự lý giải đối với cuộc đối đầu lần này cũng rất khác nhau. Trung Quốc cho rằng họ đã kiểm soát tình hình thành công, không để cho nó biến thành xung đột; Ấn Độ lại cho rằng họ đã đạt được mục đích chiến thuật, chèn ép thách thức Trung Quốc đã đạt được hiệu quả. Nhận thức của hai bên không thể thống nhất, khoảng cách sẽ ngày càng cách xa. 

Tóm lại, “Ấn Độ là thách thức chủ yếu trong chiến lược thứ yếu của Trung Quốc”. Tác giả bài viết cho rằng kết luận này đúng. Nhưng nếu cách làm của Trung Quốc không đúng, có thể sẽ khiến cho Ấn Độ trở thành mối đe dọa chủ yếu trong chiến lược thứ yếu, thậm chí biến thành mối đe dọa chủ yếu mang tính toàn cục. Muốn tránh tình hình này, vấn đề then chốt là Trung Quốc phải xác định rõ vai trò chiến lược của Ấn Độ. Từ xưa đến nay, việc xác định vị trí của Trung Quốc đối với Ấn Độ có mâu thuẫn, một mặt cho rằng có thể hợp tác với Ấn Độ, mặt khác lại cho rằng Ấn Độ rất phức tạp, việc xác định vị trí không rõ ràng sẽ khiến cho chính sách không có sự kết nối và dao động. 

Trung Quốc cần phải thay đổi phương thức tư duy 

Ấn Độ là một nước mạnh trong khu vực, trên thế giới cũng có không ít những nước kiểu này. Làm thế nào để xử lý mối quan hệ với những nước này, trong phân tích về chiến lược ngoại giao của Trung Quốc không đề cập nhiều. Trung Quốc nhấn mạnh “các nước lớn là then chốt, các nước xung quanh có vị trí hàng đầu, các nước đang phát triển là cơ sở, quan hệ đa phương là vũ đài quan trọng”, không xác định vị trí rõ ràng cho các nước mạnh khu vực. Nhưng quan sát tình hình quốc tế thì sẽ phát hiện dù là Ấn Độ hay là Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ thì tầm ảnh hưởng của các nước mạnh khu vực này đang ngày càng lớn. 

Giờ đây sau 40 năm cải cách mở cửa, trong và ngoài nước Trung Quốc đều phải đối mặt với vấn đề bước tiếp theo cần phải theo hướng nào. Về mặt ngoại giao, một thời gian dài trước đây Trung Quốc luôn cho rằng vấn đề lớn nhất của mình là thiếu thực lực, vì vậy phải “giấu mình chờ thời”, đợi thực lực tăng thì mới có thể giải quyết được mọi vấn đề. Nhưng Trung Quốc nhanh chóng phát hiện ra rằng chỉ có thực lực vẫn chưa đủ, còn phải có biện pháp và năng lực. Nhiều năm qua, Trung Quốc chủ yếu dựa vào sự nhượng bộ lợi ích về mặt kinh tế để giải quyết vấn đề ngoại giao, nhấn mạnh ngoại giao phục vụ cho xây dựng kinh tế, nhưng hiện nay hiệu quả của cách làm này đã không còn nhiều như trước. Cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, rất nhiều vấn đề và trách nhiệm có thể né tránh trước đây đã không thể né tránh được nữa, giải quyết những vấn đề này, điều quan trọng nhất không phải là năng lực và thực lực, mà là quyết tâm đối mặt với khó khăn, gánh chịu chi phí cũng như ý chí quán triệt chiến lược của bản thân, kiềm chế đối phương. Còn có một điểm cần phải đặc biệt nhấn mạnh là chúng ta cần phải ý thức được rằng giữa nhận thức bản thân của Trung Quốc và nhận thức của các nước khác đối với Trung Quốc có thể tồn tại sự khác biệt rất lớn, không được cho rằng 2 nhận thức này là giống nhau. Nhiều năm trước đây, Trung Quốc phải “giấu mình chờ thời” vì thực lực không đủ, yêu cầu hợp lý của bản thân không được thực hiện. Những năm gần đây, cùng với thực lực tăng lên, thái độ của Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ trong rất nhiều vấn đề quốc tế, bản thân Trung Quốc tự cho rằng điều này là cần thiết, không có gì không thỏa đáng. Nhưng xét về mặt quy tắc quốc tế, các nước dẫn đầu thay đổi mô hình hành vi cần phải gánh vác trách nhiệm. Điều này không có liên quan đến tính hợp lý của bản thân hành vi, có căn cứ lịch sử hay không, chúng ta không thể trông chờ người khác ủng hộ về sự thay đổi của Trung Quốc. “Là người dân của một nước lớn kiện toàn, đối với bên ngoài, chúng ta có phải cần rất nhiều thứ, có thể có rất nhiều yêu cầu, nhưng đồng thời cũng phải chuẩn bị sẵn sàng trả cái giá rất lớn cho vấn đề này. Điều này cần sự thay đổi về phương thức tư duy”.

Diệp Hải Lâm , Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Nam Á thuộc Viện nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương, Viện khoa học xã hội Trung Quốc. Bài viết được đăng trên The Paper (Trung Quốc).

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/quan-h-quc-t/6922-van-de-kho-trong-quan-he-trung-an-va-sach-luoc-cua-trung-quoc

Bình luận của bạn