cis_banner_final_en.png
Thực trạng an ninh năng lượng khu vực và thế giới trong bối cảnh hiện nay và những vấn đề đặt ra

02/07/2019


Thực trạng an ninh năng lượng khu vực và thế giới trong bối cảnh hiện nay và những vấn đề đặt ra



PGS, TS Nguyễn Minh Quang*
Tóm tắt
Bài viết phân tích tình hình năng lượng trên thế giới và khu vực Đông Nam Á và tác động của nó tới quan hệ quốc tế trên thế giới và khu vực Đông Nam Á hiện nay.
Từ khóa: An ninh năng lượng thế giới, An ninh năng lượng khu vực Đông Nam Á.
Abstract
The paper analyses the reality of energy industry in the Southeast Asian region and on the world, and its impacts on international relations of current Southeast Asia and the world.
Key words: Global energy security, South East Asian region energy security
*******
 
1. Lịch sử hình thành khái niệm an ninh năng lượng và quan điểm an ninh năng lượng hiện nay
An ninh năng lượng là một lĩnh vực quan trọng của an ninh kinh tế quốc gia. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia và khả năng duy trì sự phát triển, ổn định xã hội. Thuật ngữ an ninh năng lượng xuất hiện từ thập niên 50 của thế kỷ XX. Trước đó, nguồn năng lượng chủ yếu cung cấp cho các ngành công nghiệp là than đá. Thời gian này trữ lượng than đá dồi dào và phân bố nhiều nơi, nền công nghiệp của các nước Âu, Mỹ  chưa tiêu hao nhiều năng lượng nên nhu cầu năng lượng vẫn còn được đảm bảo. Từ thập niên 50 của thế kỷ XX trở đi, khả năng cung ứng và nhu cầu năng lượng của thế giới có nhiều thay đổi lớn. Tỷ lệ tiêu thụ than đá giảm trong khi đó tỷ lệ sử dụng dầu mỏ và khí thiên nhiên lại tăng. Dầu mỏ dần thay thế than đá trở thành nguồn năng lượng được khai thác nhiều nhất trên thế giới. Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ do chiến tranh năm 1973, nguy cơ thiếu hụt dầu mỏ trở thành vấn đề quan trọng đối với các quốc gia phát triển. Năm 1974, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) được thành lập đã đề xuất khái niệm an ninh năng lượng với trọng tâm là ổn định nguồn cung ứng và giá cả dầu mỏ. An ninh năng lượng tuy là một lĩnh vực mới, nhưng nội hàm an ninh năng lượng cũng theo đà phát triển kinh tế xã hội, những thay đổi giữa con người và thiên nhiên mà có những điều chỉnh nhất định. Thời gian đầu, an ninh năng lượng chỉ được hiểu một cách đơn giản là có nguồn cung cấp năng lượng ổn định, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển kinh tế một quốc gia. Ý nghĩa trên cho thấy tính ổn định của nguồn cung cấp trở thành mục tiêu cơ bản của an ninh năng lượng quốc gia.
Từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở đi, sự nóng dần lên của trái đất và sự thay đổi của khí hậu toàn cầu làm cho con người nhận thức được vấn đề quan trọng của môi trường đối với nhân loại. Các quốc gia phát triển dần thay đổi cách nhìn về an toàn năng lượng. Trong chiến lược phát triển năng lượng, các quốc gia đều tăng cường khái niệm sử dụng năng lượng an toàn. Do đó, sử dụng an toàn năng lượng trở thành vấn đề quan trọng tác động đến môi trường sinh thái của con người. Có thể nói, đến thời kỳ này, nội hàm an ninh năng lượng đã thay đổi, an ninh năng lượng được xem là vấn đề tồn tại song song với duy trì sự phát triển ổn định và bền vững. An ninh năng lượng đối với một quốc gia khu vực hiện nay phải gắn liền với duy trì phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và đảm bảo trạng thái môi trường. Hiện nay, khi nói đến an ninh năng lượng thì mọi người thường nghĩ đến an ninh dầu lửa. Thực tế cho thấy, từ sau thập niên 50 của thế kỷ XX, dầu lửa chiếm 61% các nguồn năng lượng mà con người sử dụng. Do đó, đối với các quốc gia trên thế giới, đảm bảo an ninh dầu lửa là một bộ phận quan trọng của đảm bảo an ninh năng lượng. Như vậy, thuật ngữ an ninh năng lượng hiện nay không đơn thuần là chỉ các nguồn cung cấp năng lượng (chủ yếu là dầu lửa) đảm bảo như những thập kỷ trước đây mà còn được hiểu một cách toàn diện, bao quát hơn là phải bảo đảm công tác bảo vệ môi trường, giá cả hợp lý và khả năng ứng phó với các tình huống khẩn cấp phát sinh từ các nhân tố kinh tế, chính trị bên trong và bên ngoài một quốc gia. Trong đó, giá cả hợp lý là mức giá dựa trên quy luật thị trường cơ bản, có tính đến nhu cầu, khả năng cung cấp và cách tiếp cận mà các quốc gia khác nhau sử dụng để giải quyết vấn đề năng lượng.
Trong phạm vi của bài viết, tác giả chủ yếu trình bày an ninh dầu lửa và khí đốt, hai loại năng lượng có ảnh hưởng lớn nhất tới lợi ích của các quốc gia và quan hệ quốc tế trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình năng lượng trên thế giới hiện nay, dự báo đến 2050 và tác động của nó tới quan hệ quốc tế giữa các nước lớn
2.1. Tình hình năng lượng thế giới hiện nay
Trên thế giới hiện nay, các khu vực có trữ lượng dầu mỏ nhiều nhất thế giới là Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á và Bắc Mỹ, chiếm 82,3% trữ lượng dầu mỏ thế giới. Trong số bốn khu vực này thì Trung Đông có trữ lượng dầu lớn nhất, chiếm khoảng 64%, tiếp đến là châu Mỹ (14%), châu Phi (7%), ngoài ra có thể kể đến Nga (4,8%), châu Á-Thái Bình Dương (4,27%). Trung Đông còn là nơi có trữ lượng khí đốt lớn nhất chiếm gần ½ trữ lượng thế giới với 2.591,653 Tcf, nhiều nhất là ở các quốc gia Saudi Arabia (266,710 tỷ thùng), Iran (136,150 tỷ thùng), Iraq (155 tỷ thùng), Kuwait (104 tỷ thùng). Trung Đông cũng là khu vực sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới, hơn 70% tổng sản lượng của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC)và 30% tổng sản lượng thế giới
[1].
Hình 1 :Trữ lượng dầu mỏ thế giới

Trữ lượng dầu lửa của khu vực Mỹ Latinh được xác định là gần 1,7 ngàn tỷ thùng, chiếm 20% tổng trữ lượng dầu lửa toàn cầu. Mỹ Latinh là khu vực có trữ lượng dầu lửa lớn thứ hai thế giới sau khu vực Trung Đông (chiếm 55% trữ lượng dầu lửa toàn cầu). Các nước có trữ lượng lớn về dầu lửa của khu vực này là Venezuela, Brazil, Mehico, Ecuardo,…
Châu Phi có trữ lượng dầu mỏ đứng thứ tư thế giới với 117,064 tỷ thùng, chiếm 10% tổng trữ lượng dầu mỏ thế giới, còn trữ lượng khí đốt xếp thứ ba thế giới (sau Trung Đông) và Trung Á, với 494,078 Tcf . Các nước có trữ lượng dầu mỏ lớn là Libya chiếm 3,4%, Nigeria chiếm 3% tổng trữ lượng dầu thế giới. Còn các nước có trữ lượng khí đốt lớn ở đây là Nigeria đứng thứ 7 thế giới với 184,2 Tcf và Algeria đứng thứ 9 thế giới với 159 Tcf. Châu Phi sản xuất dầu và khí đốt lần lượt chiếm 30% và 13% tổng sản lượng sản xuất thế giới
[2].
Khu vực Trung Á đứng hàng đầu thế giới về trữ lượng dầu khí và gaz tự nhiên, tập trung chủ yếu ở Kazakhstan, Turkmenistan và Uzbekistan, trong đó, Kazakhstan có trữ lượng dầu mỏ đứng thứ bảy thế giới, với khả năng khai thác là 4 tỷ tấn, trữ lượng khí đốt có thể khai thác là 3.000 m3
[3]. Ngoài ra, Nga cũng là quốc gia có dự trữ khí đốt vào khoảng 47,2 - 47,5 nghìn tỷ m3, hơn 70% trữ lượng thăm dò tập trung vùng Tây Xiberia, dự trữ về dầu lửa chiếm 13% toàn thế giới, trữ lượng thăm dò ước tính khoảng 15,5 - 15,7 tỷ tấn, đứng sau Saudi Arabia và 4/5 trữ lượng tập trung ở vùng Xiberi[4]. Khu vực Biển Đông có lượng dự trữ dầu là 7 tỷ thùng, với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó, trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm, duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới[5].
2.2. Dự báo nhu cầu năng lượng thế giới tới năm2050
            Hình 2: Nhu cầu năng lượng trung bình trên thế giới hàng năm

Theo Cục Thông tin năng lượng Mỹ (EIA), tới năm 2035, mức tiêu thụ năng lượng trên thế giới sẽ tăng 35% và mức tăng trung bình hàng năm được dự đoán là 1,6%. Mặc dù, theo EIA, trong 20 năm tới mức tiêu thụ các nguồn năng lượng tái tạo được sẽ tăng với tốc độ nhanh nhất, nhưng năm 2035 có đến 78% mức tiêu thụ của thế giới vẫn rơi vào nhiên liệu hóa thạch. Tiêu thụ nhiên liệu lỏng (bao gồm các loại khác nhau của nhiên liệu sinh học và dầu không truyền thống) dự đoán tăng trưởng 1,0%/năm, tổng nhu cầu tiêu thụ trong năm 2035, theo tính toán của EIA, sẽ là 112,2 triệu thùng/ngày. Trong dự đoán của EIA cho rằng, đến năm 2035, giá dầu sẽ là 125 USD/thùng (tính theo USD năm 2015). Theo EIA, mức giá dầu dự đoán đủ cao để bảo đảm tăng trưởng sản xuất dầu, bao gồm cả sản lượng ngoài OPEC, phù hợp với mức tăng nhu cầu. Sản lượng khai thác dầu truyền thống dự đoán tăng 0,7%/năm, dầu không truyền thống là 4,6%/năm[6].
Tại Nga, EIA dự đoán mức tăng sản xuất sẽ vượt tiêu thụ không đáng kể, sản lượng đạt 13,3 triệu thùng/ngày trong năm 2035. Sản lượng gas ở Nga có tốc độ tăng chậm hơn chút ít - 1,1%/năm và đến năm 2035 đạt 31,2 ngàn tỷ feet khối (0,9 ngàn tỷ m3). Dự báo của EIA về nhu cầu dầu và khí trong năm 2020 tăng lần lượt 5,4% và 2,1%
[7]. Nhu cầu khí gas thiên nhiên được dự đoán tăng 1,6%/năm. Đến năm 2035 đạt 169 ngàn tỷ feet khối (4,8 ngàn tỷ m3)[8].
Hàng năm thế giới tiêu thụ một lượng nhiên liệu hóa thạch tương đương với 11 tỷ tấn dầu. Nếu chúng ta tiếp tục tiêu thụ ở tốc độ như vậy, nguồn dầu thô sẽ cạn kiệt vào năm 2052, nguồn khí tự nhiên sẽ cạn kiệt vào năm 2060 và nguồn than đá sẽ cạn kiệt vào năm 2088
[9]. Tuy nhiên tốc độ tiêu thụ các nguồn nhiên liệu hóa thạch sẽ tăng lên khi dân số thế giới tăng cũng như các tiêu chuẩn sống tăng lên. Do vậy, các nguồn nhiên liệu hóa thạch sẽ cạn kiệt sớm hơn nếu không tìm ra các nguồn năng lượng thay thế. Ngay cả với tốc độ tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch như hiện tại, điện năng mới chỉ đáp ứng được 4/5 dân số thế giới [10]. Trong khi đó nguồn năng lượng tái tạo là vô tận và có thể bổ sung và thay thế các nguồn nhiên liệu hóa thạch trong tương lai. Theo viễn cảnh được đưa ra bởi Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), thế giới có thể được cung cấp năng lượng từ 100% các nguồn năng lượng tái tạo trước năm 2050.
Trong các nước phát triển, nhu cầu về năng lượng sẽ tăng từ 3 đến 3,5 lần so với nhu cầu của các nước OEDC, trong đó, Trung Quốc, Ấn Độ chiếm hơn 50%, theo ước tính tới 2020 Mỹ cần thêm 50% khí và 1/3 lượng dầu hiện nay, hiện nước Mỹ, dầu mỏ chiếm khoảng 40% nhu cầu năng lượng trong nước
[11].Trong khi đó, EU dự kiến đến năm 2035 phải nhập 80% lượng khí đốt, nhập khẩu dầu 90%, than đá 70%[12]. Còn Ấn Độ sẽ sớm trở thành nước tiêu thụ năng lượng lớn thứ tư thế giới sau Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, với 33% nhu cầu năng lượng và 65% lượng dầu nhập khẩu. Trung Quốc sẽ trở thành quốc gia tiêu thụ dầu lửa lớn nhất thế giới.
Đến năm 2040, nguồn cung năng lượng thế giới sẽ chủ yếu tập trung vào bốn nguồn năng lượng là dầu lửa, khí đốt, than đá và các nguồn khí CO2 thấp.Các dự báo đều cho rằng, nguồn cung dầu mỏ của thế giới chỉ gia tăng thêm trong khoảng nửa thập kỷ nữa trước khi đạt đỉnh điểm rồi bắt đầu giảm, còn nguồn cung khí đốt sẽ tiếp tục tăng thêm 1-2 thập kỷ rồi cũng giảm. Điều này làm cho cuộc cạnh tranh giành giật các nguồn tài nguyên như: dầu mỏ, khí đốt, than và uranium ngày càng quyết liệt trên toàn cầu, quyền lực của cải đang chuyển dần từ những nước thiếu năng lượng (Trung Quốc, Mỹ, Nhật, EU) sang các nước dư thừa năng lượng (Nga, Saudi Arabia, Venezuela) và tiêu thụ năng lượng của các quốc gia đang phát triển trong tổng lượng tiêu thụ năng lượng sẽ tăng lên và các quốc gia phát triển sẽ giảm đi. Rõ ràng, vấn đề an ninh năng lượng buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình, đi tìm kiếm những nguồn cung cấp năng lượng ổn định. Cùng với tăng cường quan hệ ngoại giao chính trị, kinh tế thương mại với các khu vực, các nước nhiều dự trữ năng lượng, các cường quốc luôn áp dụng các biện pháp quân sự nhằm gia tăng vị thế trong cuộc chiến về năng lượng như hành động của Mỹ, Trung Quốc, Nga, EU,… ở Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á, Biển Đông,… những năm gần đây.
2.3. Tác động của tình hình năng lượng thế giới hiện nay tới quan hệ quốc tế giữa các nước lớn
Vấn đề an ninh năng lượng đã tạo ra những tác động vô cùng lớn tới quan hệ quốc tế hiện nay. An ninh năng lượng (an ninh dầu lửa và khí đốt) trở thành vấn đề cấp thiết trong các chương trình nghị sự của nhiều hội nghị, diễn đàn quốc tế và ảnh hưởng lớn tới sự thay đổi chính sách ngoại giao của tất cả các nước lớn, thể hiện trên các nội dung sau
Một là, an ninh năng lượng làm gia tăng cạnh tranh ở các khu vực có nhiều dầu lửa và khí thiên nhiên
Sự phân bổ không đồng đều của năng lượng và sự khan hiếm của nó là một trong những nguyên nhân chính gây ra những cuộc xung đột, tranh chấp ở các khu vực có nhiều tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là khu vực có nhiều dầu mỏ. Trung Đông, Trung Á, Bắc Phi,… là những nơi có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên lớn nhất thế giới, do đó, từ lâu nó đã trở thành những mục tiêu tiếp cận của các nước lớn là Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu. Các quốc gia này không ngừng chạy đua tranh giành ảnh hưởng ở đây cũng như không ngừng tham vọng độc chiếm nguồn dầu mỏ thế giới vì lợi ích quốc gia, do đó đã làm cho quan hệ quốc tế trở nên đa dạng và phức tạp.
Hai là, an ninh năng lượng khiến cho các nước lớn phải điều chỉnh chính sách ngoại giao, sử dụng chiến lược ngoại giao năng lượng để đạt mục tiêu lợi ích quốc gia
Với Mỹ, ngoại giao năng lượng là kiểm soát kiểm soát các nguồn cung năng lượng thông qua can thiệp quân sự, đồng thời hạn chế các đối thủ cạnh tranh tiếp cận với các nguồn năng lượng đã được kiểm soát. Mỹ từng bước củng cố việc tiếp cận và nắm giữ một số mỏ dầu quan trọng nhất của thế giới ở Trung Đông, Bắc Phi, Bắc Mỹ và Trung Á, đồng thời không ngừng mở rộng và bảo đảm an ninh hệ thống đường ống dẫn dầu trên thế giới cũng như cảnh báo các quốc gia không nên quan hệ với các nước có nhiều dầu. Một số hành động:  Mỹ tiến hành hai cuộc chiến tranh lớn ở khu vực Trung Đông là chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và chiến tranh Iraq năm 2003. Ký Hiệp định Tự do thương mại với Giordani, Maroc và thiết lập khu vực mậu dịch tự do Mỹ - Trung Đông với sự tham gia của 21 nước Arab và lãnh thổ Palestin vào năm 2013. Kế hoạch "Đại Trung Đông" tháng 6 năm 2014 nhằm củng cố vị trí và mở rộng ảnh hưởng ở khu vực này. Mỹ chủ trương chống việc Tập đoàn dầu khí hải ngoại Trung Quốc mua lại tập đoàn dầu khí Unocal của Mỹ. Tìm mọi cách cản trở Nga lắp đặt đường ống dẫn dầu từ biển Siberia cho Trung Quốc,…
Đối với Trung Quốc, ngoại giao năng lượng đã trở thành một trong những trụ cột của chính sách ngoại giao Trung Quốc. Ngay từ năm 2000, Trung Quốc đã thiết lập kế hoạch tiếp cận các nguồn dầu mỏ thế giới. Tại châu Phi, các công ty dầu khí Trung Quốc đã có mặt ở hầu hết các quốc gia có dầu, Trung Quốc thậm chí đã đưa quân đội đến bảo vệ các dự án năng lượng tại Sudan. Bên cạnh đó, Trung Quốc bắt tay với Iran và Venezuela. Một chiến lược khác trong chính sách ngoại giao năng lượng của Trung Quốc là ưu tiên đảm bảo nguồn cung dầu lửa. Hiện nay, 80% dầu nhập khẩu của Trung Quốc là qua eo biển Malacca. Do đó, để giảm thiểu sự phụ thuộc vào tuyến vận tải quan trọng nhưng nhiều rủi ro này, Trung Quốc đã tích cực thúc đẩy các dự án xây dựng đường ống dẫn dầu qua Myanmar, phát triển hệ thống đường sắt xuyên Á hay mở một “kênh đào Suez” qua miền Đông Bắc Thái Lan,... Những kế hoạch khổng lồ này không chỉ giúp Trung Quốc đảm bảo an ninh năng lượng mà còn là một sự khẳng định vị thế và ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực này.
Nga là cường quốc số hai thế giới về xuất khẩu dầu và số một về khí đốt. Năng lượng là công cụ của ngoại giao Nga trên con đường tìm lại vị thế cường quốc của mình. Nga tích cực sử dụng yếu tố dầu khí trong quan hệ ngoại giao, buộc EU phải nhượng bộ trong các quyết định quan trọng khác. Nga đang nỗ lực hình thành vành đai năng lượng từ các nước EU qua Trung Á - Trung Đông tới Bắc Phi, tạo thế "gọng kìm năng lượng" với EU từ hai phía, đẩy mạnh các thỏa thuận mua bán năng lượng để ràng buộc các quốc gia khu vực biển Caspia và Trung Đông (thành lập liên minh xuất khẩu khí đốt với Iran và Qatar), tăng cường sự hiện diện tại khu vực Mỹ Latinh bằng các hợp đồng trị giá nhiều tỷ USD về hợp tác dầu khí và năng lượng hạt nhân, thúc đẩy đầu tư dầu khí với các nước khu vực châu Phi để giành ưu thế trước Trung Quốc. Đặc biệt, Nga đang hướng trọng tâm vào châu Á, coi Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ là thị trường xuất khẩu dầu khí có nhiều triển vọng và thông qua đó để củng cố quan hệ đối tác chiến lược.
Đối với Nhật Bản, Trung Đông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt kinh tế vì đây là nơi cung cấp 88,9% lượng dầu cho Nhật. Nhật Bản vừa tăng cường quan hệ với Trung Đông, vừa ủng hộ Mỹ duy trì sự ổn định tương đối ở khu vực này. Bên cạnh đó, Nhật Bản còn tăng cường hợp tác toàn diện với ASEAN. Một trong những nguyên nhân sâu xa của sự hợp tác này là: Nhật Bản muốn đảm bảo an ninh tối đa cho con đường vận tải dầu lửa huyết mạch đi qua vùng biển Đông - Nam Á.
Tóm lại, vấn đề an ninh năng lượng, cụ thể là an ninh dầu lửa và khí đốt, đã và đang tạo ra một bức tranh đa dạng và phức tạp trong quan hệ quốc tế. Tất cả các nước lớn đều ra sức tranh giành ở các khu vực có nhiều năng lượng, từ đó gây ra rất nhiều các mối quan hệ căng thẳng, phức tạp và không ổn định giữa các quốc gia tranh giành với nhau và giữa các quốc gia tìm kiếm năng lượng và các quốc gia sở tại, tạo ra những bất ổn cho các nước sở tại, dẫn đến những tình trạng xung đột, biểu tình, giao tranh,… hết sức thương vong. Có thể nói, khu vực như Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á,… luôn luôn là những điểm nóng trên thế giới mà chưa biết bao giờ mới có thể chấm dứt tình trạng này.
3. Tình hình năng lượng khu vực Đông Nam Á hiện nay và tác động của nó tới quan hệ quốc tế trong khu vực
3.1. Tình hình năng lượng ở khu vực Đông Nam Á hiện nay
Sự phát triển kinh tế nhanh chóng của các quốc gia Đông Nam Á đã kéo theo nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng lớn tại khu vực này. Mức sử dụng năng lượng bình quân đầu người của 10 quốc gia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hiện vẫn còn khá thấp, khoảng 0,61 tấn dầu/người, so với con số 1,1 tấn/người ở Trung Quốc, 4,7 tấn/người ở Nhật Bản và 1,69 tấn/người là mức trung bình của thế giới. Tuy nhiên, việc sử dụng năng lượng thương mại của các quốc gia ở khu vực đã tăng lên đáng kể trong 25 năm kể từ năm 1992 tới 2017. Trình độ phát triển về kinh tế và năng lượng của các nước Đông Nam Á rất không đồng đều. Năm 2015, ít nhất 134 triệu người trong khu vực, chiếm 22% dân số, không được tiếp cận với điện năng hiện đại. Khu vực này có hàng ngàn hòn đảo, phần lớn nằm ở Indonexia và Philippines, cực kỳ khó khăn trong việc tiếp cận năng lượng.
Kể từ khi Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu được phê chuẩn vào tháng 12/2015, cũng như cam kết của các quốc gia về môi trường (INDC) được ký kết vào tháng 11/2016, các nước trong khu vực đã chú ý hơn đến việc áp dụng các giải pháp chuyển đổi sang sử dụng nguồn năng lượng thải ra ít carbon hơn. Với tốc độ phát triển như hiện nay, các chuyên gia dự báo việc cung cấp năng lượng của các nước Đông Nam Á dự kiến sẽ tăng đều đặn từ mức tương đương 619 triệu tấn dầu mỏ vào năm 2013 lên 1.685 triệu tấn vào năm 2040, với mức tăng trung bình hàng năm là 4,7%. Mức tăng dự kiến này cao hơn mức tăng trung bình 4,2%/năm trong thời gian 1990-2013. Khí thải có carbon trong giai đoạn này dự báo cũng sẽ tăng 4%/năm. Việc chuyển đổi sang sử dụng năng lượng sạch đang được các quốc gia trong khu vực quan tâm và đầu tư rất mạnh. Chính sách này dự kiến sẽ đi vào thực tế trong những năm tới và góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt năng lượng của khu vực. Các khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng cung cấp năng lượng sạch để đáp ứng các mục tiêu của an ninh năng lượng được dự đoán sẽ tăng đều đặn và đến năm 2030 sẽ cần đến 2.100 tỷ USD cho các nước ASEAN. Khoảng 46% số ngân sách này sẽ phục vụ cho nhu cầu cơ sở hạ tầng của ngành điện, tiếp đó là khoảng 17% cho hiệu suất năng lượng.
3.2. Tác động của tình hình năng lượng ở khu vực Đông Nam Á hiện nay lên quan hệ quốc tế giữa các nước trong khu vực
Những thách thức về an ninh năng lượng trong tình hình mới đã tác động đến việc hình thành và triển khai chính sách đối ngoại của các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á. Thông thường quan hệ quốc tế dưới tác động của các lợi ích sẽ chạy theo hai xu hướng là hợp tác và cạnh tranh. Tuy nhiên, về cơ bản, các nước ASEAN hướng tới các hoạt động hợp tác để giải quyết các vấn đề về an ninh năng lượng trong khu vực. Qua đó hình thành các cơ chế song phương và đa phương ở khu vực Đông Nam Á trong bảo đảm an ninh năng lượng.
ASEAN tham gia quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc, hình thành các cơ chế hợp tác với Trung Quốc như Diễn đàn Năng lượng Trung Quốc - Indonesia (tháng 2-2002), tham gia Hội nghị Bộ trưởng năng lượng ASEAN+3 (tháng 6-2004), mở ra hướng đi và cơ chế mới cho Trung Quốc và ASEAN trong việc tăng cường đối thoại về an ninh năng lượng.
ASEAN cũng tham gia các cơ chế hợp tác với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc nhằm ổn định việc vận chuyển năng lượng trên biển. Các cơ chế hợp tác trong khuôn khổ ASEAN+3 về an ninh năng lượng góp phần thúc đẩy xu hướng hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trong khu vực. Sôi động nhất là quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực với các nước cung cấp năng lượng ở Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh, Nga, Đông Nam Á.
Các nước trong khu vực ASEAN đẩy mạnh hợp tác và chia sẻ nguồn lực đảm bảo an ninh năng lượng thông qua việc mở rộng kết nối lưới điện cũng như phát triển năng lượng tái tạo. ASEAN thống nhất tăng cường hợp tác năng lượng với các đối tác bao gồm các quốc gia và các tổ chức năng lượng quốc tế để ASEAN có được sự đảm bảo về an ninh năng lượng, đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho người dân cũng như chuyển dịch năng lượng hướng tới sử dụng các nguồn năng lượng sạch hơn trong khu vực.
Riêng với Ấn Độ, ASEAN đang ngày càng tăng cường hợp tác trên mọi lĩnh vực, trong đó có cả lĩnh vực năng lượng tái tạo. Tranh chấp lãnh thổ hiện nay giữa một số nước ASEAN với Trung Quốc tại Biển Đông là thách thức đối với hòa bình và ổn định của khu vực. Ấn Độ đang có “lợi ích quan trọng” về tự do hàng hải tại Biển Đông, đồng thời có lợi ích kinh tế trong hoạt động khai thác dầu khí tại khu vực này, với việc ONGC Videsh Ltd. (OVL), chi nhánh toàn cầu của tập đoàn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên Ấn Độ Oil và Natural Gas Ltd. ONGC đang thăm dò hai lô dầu 127, 128 thuộc chủ quyền của Việt Nam. Việc lực lượng hải quân Trung Quốc ngày càng thể hiện sức mạnh tại Biển Đông làm cho Ấn Độ nhận thấy sự cần thiết phải “duy trì vị thế” và “bảo vệ lợi ích” của mình trong khu vực. Điều này có nghĩa là Ấn Độ cần tiếp tục tăng cường sự can dự của lực lượng hải quân đối với vùng biển này. Ấn Độ có thể trở thành một đối tác chính trong việc duy trì an ninh, hòa bình tại Biển Đông. Chính vì vậy, bất chấp sự phản đối của Trung Quốc, Ấn Độ phải tăng cường hơn nữa hợp tác hàng hải với các nước ASEAN.
Kết luận
An ninh năng lượng trên thế giới và khu vực vẫn luôn luôn bị đe dọa bởi nguồn tài nguyên thì có hạn mà việc khai thác thì không ngừng tăng. Trong tương lai, xu thế cạnh tranh và hợp tác vẫn là hai xu thế chính, tuy nhiên với những nước nhỏ như Việt Nam thì việc tăng cường hợp tác trong khu vực và quốc tế cũng như xây dựng những nguồn lực từ bên trong mới là con đường đi lâu dài./.
Tài liệu tham khảo
  1. Trịnh Cường (2012), “Kinh tế thế giới trước “cú sốc” dầu và cuộc đua tìm nguồn năng lượng thay thế”, Tạp chí Cộng sản.
  2. Trần Trọng (2017), “Dầu mỏ và những biến động trong quan hệ quốc tế”, Tạp chí Cộng sản.
  3. Nguyễn Minh Mẫn (2014), “An ninh năng lượng thế giới những năm đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí khoa học đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Lê Sơn (2015), “Về ngoại giao khí đốt của Nga với châu Âu”, Tạp chí nghiên cứu Biển Đông, số ra ngày 23/9/2015.
  5. http://www.hoahocngaynay.com/vi/hoa-hoc-va-doi-song/hoa-hoc-dau-khi/463-10-nuoc-co-tru-luong-dau-mo-lon-nhat-the-gioi.html
  6. http://www.baomoi.com/Chien-luoc-nang-luong-cua-cac-nuoc-Trung-A/c/4089521.epi
  7. http://www.tinmoi.vn/quyen-luc-nang-luong-cua-nga-o-chau-au-011056085.html
  8. http://www.tinbiendong.com/nd5/detail/kho-tu-lieu/bien-dong-co-bao-nhieu-dau-mo/932.010.html
  9. http://ven.vn/vi-VN/vi/chuyen-muc-tin-tuc/thong-tin-du-bao/eia-du-doan-tinh-hinh-thi-truong-nang-luong-the-gioi_t114c425n13339
 
* Viện Kinh tế chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
[1] Nguyễn Minh Mẫn (2011), “An ninh năng lượng thế giới những năm đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí khoa học đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh.
[2] http://www.hoahocngaynay.com/vi/hoa-hoc-va-doi-song/hoa-hoc-dau-khi/463-10-nuoc-co-tru-luong-dau-mo-lon-nhat-the-gioi.html
[3] http://www.baomoi.com/Chien-luoc-nang-luong-cua-cac-nuoc-Trung-A/c/4089521.epi
[4] http://www.tinmoi.vn/quyen-luc-nang-luong-cua-nga-o-chau-au-011056085.html
[5] http://www.tinbiendong.com/nd5/detail/kho-tu-lieu/bien-dong-co-bao-nhieu-dau-mo/932.010.html
[6] http://ven.vn/vi-VN/vi/chuyen-muc-tin-tuc/thong-tin-du-bao/eia-du-doan-tinh-hinh-thi-truong-nang-luong-the-gioi_t114c425n13339
[7] http://ven.vn/vi-VN/vi/chuyen-muc-tin-tuc/thong-tin-du-bao/eia-du-doan-tinh-hinh-thi-truong-nang-luong-the-gioi_t114c425n13339
[8]http://www.worldenergyoutlook.org/media/weowebsite/factsheets/weo2013_factsheets.pdf
[9] Electrocity, 2015.
[10] Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên WWF, 2011.
[11] http://ec.europa.eu/dgs/energy_transport/figures/trends_2030/5_chap4_en.pdf
[12] Số liệu công bố tại Hội nghị Thượng đỉnh EU ngày 22/5/2013.

Bình luận của bạn