cis_banner_final_en.png
Chương trình phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam và hoạt động hợp tác Việt Nam - Ấn Độ (Phần 1)

02/07/2019


Chương trình phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam và hoạt động hợp tác Việt Nam - Ấn Độ (Phần 1)



TS Lê Văn Hồng*
Tóm tắt
Cung cấp năng lượng đầy đủ và tin cậy, đặc biệt là điện năng, không những cần thiết cho sự phát triển kinh tế mà còn cần thiết cho sự ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Sự thiếu hụt năng lượng trầm trọng, cả hiện tại lẫn trong tương lai, thường dẫn tới những bất ổn và mâu thuẫn tiềm tàng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia. Vì vậy, cung cấp năng lượng một cách an toàn, tin cậy với chi phí hợp lý là một yêu cầu chính trị, kinh tế và xã hội thiết yếu, đồng thời cũng là một thách thức.
Để đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện năng một cách an toàn, ổn định và bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, Nhà nước đã có chính sách về tận dụng tối đa các nguồn tài nguyên năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo trong nước, kết hợp chặt chẽ với sử dụng tiết kiệm điện năng, nhập khẩu thêm điện từ các nước láng giềng và chuẩn bị cho phát triển điện hạt nhân.
Báo cáo trình bày các quyết sách của Nhà nước về phát triển điện hạt nhân; các hoạt động của cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc triển khai thực hiện Dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận; các kết quả đạt được và giá trị còn lại của nó sau khi dừng Dự án. Báo cáo cũng trình bày định hướng mục tiêu về phát triển điện hạt nhân của Việt Nam trong giai đoạn tới và hoạt động hợp tác trong lĩnh vực này giữa Việt Nam và Ấn Độ.
Abstract
Producing power adequately and reliably, particularly electricity, is not only necessary for economic development but also necessary for the national social and political stability. The severe shortage, both in the current and in the future, often cause uprisings and potential conflicts in each nation and inter-nations. Therefore, providing energy adequately, reliably at the reasonable price is an essential political, social and economic demand, as well as a challenge.
 To meet the electricity demands safely and stably for the development of social economic, national security and defense, and for the domestics usage, the Government has policies on making the full use of the potentials of conventional energies and renewable energies, combining with using electricity economically, importing electricity from other countries and preparing for atomic electricity.
This report analyses the policies of the government on developing atomic electricity; the performance of relevant organisations in implementing the Atomic Electricity Plant in Ninh Thuan; the achievements and its remaining values after the project termination. The report also presents the orientation for the goals to develop atomic electricity in Vietnam in the coming future and the cooperation in this industry between Vietnam and India.
*******
1. Mở đầu
Năng lượng là một thành phần cơ bản của cơ sở hạ tầng. Năng lượng có vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế  - xã hội của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phát triển năng lượng phải dựa trên quan điểm vĩ mô, dài hạn và phù hợp với nguyên tắc 3E: Phát triển kinh tế (Economic Development), An ninh năng lượng (Energy Security) và Bảo vệ môi trường (Environmental Protection).
Cung cấp năng lượng đầy đủ và tin cậy, đặc biệt là điện năng, không những cần thiết cho sự phát triển kinh tế mà còn cần thiết cho sự ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Sự thiếu hụt năng lượng trầm trọng, cả hiện tại lẫn tương lai, thường dẫn tới những bất ổn và mâu thuẫn tiềm tàng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia. Vì vậy, cung cấp năng lượng một cách an toàn, tin cậy với chi phí hợp lý là một yêu cầu chính trị, kinh tế và xã hội thiết yếu, đồng thời cũng là một thách thức.
Việt Nam là đất nước có nguồn tài nguyên năng lượng phong phú, bao gồm than, dầu khí, thuỷ năng và các dạng năng lượng khác. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu năng lượng của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao như hiện nay, Việt Nam từ một nước xuất khẩu năng lượng đã trở thành nước nhập khẩu năng lượng.
Để đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện năng một cách an toàn, ổn định và bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách về tận dụng tối đa các nguồn tài nguyên năng lượng truyền thống và phát triển năng lượng tái tạo, kết hợp chặt chẽ với sử dụng tiết kiệm điện năng, nhập khẩu thêm điện từ các nước láng giềng và chuẩn bị cho phát triển điện hạt nhân.
Sau đây sẽ trình bày các quyết sách của Đảng và Nhà nước về phát triển điện hạt nhân; hoạt động của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc triển khai thực hiện Dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận; các kết quả đạt được và giá trị còn lại của nó sau khi dừng Dự án. Báo cáo cũng trình bày định hướng mục tiêu về phát triển điện hạt nhân của Việt Nam trong giai đoạn tới và tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực này giữa Việt Nam và Ấn Độ.
2. Các quyết sách của Đảng và Nhà nước về phát triển điện hạt nhân
Nhận thức rõ tầm quan trọng của điện hạt nhân trong cán cân năng lượng Việt Nam tương lai, ngày 29/5/2001 tại công văn số 40/TB-VPCP, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho hai Bộ: Công thương và Bộ Khoa học & Công nghệ phối hợp cùng các cơ quan hữu quan thực hiện 3 nhiệm vụ:
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề liên quan đến ch­ương trình phát triển điện hạt nhân;
- Xây dựng Chiến lược ứng dụng năng l­ượng nguyên tử vì mục đích hoà bình;
- Lập Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam.
Hình 1. Tổ công tác chỉ đạo về điện hạt nhân của Chính phủ

Kết quả làm rõ 7 vấn đề liên quan đến phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam, bao gồm: Quy hoạch, kế hoạch, công nghệ, an toàn, xử lý chất thải, đào tạo nhân lực, nguồn nhiên liệu và trữ lư­­ợng, đề xuất cơ chế chính sách và biện pháp cần thiết đã được trình Thủ trướng Chính phủ trong Tờ trình số 4402/BCN-NLDK, ngày 17 tháng 08 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Công thương, Tổ trưởng Tổ công tác Điện hạt nhân. Trong Tờ trình này cũng nêu rõ: “Phát triển điện hạt nhân là một chương trình dài hạn. Cùng với việc đòi hỏi phải huy động nhiều nguồn lực của đất nước, chương trình phát triển điện hạt nhân còn cần phải có sự quyết tâm rất cao của lãnh đạo các cấp, sự tham gia của nhiều bộ, ngành, sự chấp nhận và ủng hộ của dân chúng. Để thực hiện thành công chương trình này, chúng ta cần phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo cùng với những giải pháp đồng bộ về nhiều mặt để tiếp thu, sử dụng hiệu quả và an toàn công nghệ điện hạt nhân, tăng dần tỷ lệ tham gia của công nghiệp trong nước và từng bước nội địa hoá ngành công nghiệp hạt nhân”.
Kết quả xây dựng Dự thảo Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 đã được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ký trình Thủ tướng Chính phủ tại Tờ trình số 2541/TTr-BKHCN, ngày 27 tháng 09 năm 2005, trong đó nêu rõ mục tiêu là ”Xây dựng và đưa nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào vận hành an toàn, khai thác hiệu quả. Đồng thời, xây dựng cơ sở vững chắc cho chương trình dài hạn về phát triển điện hạt nhân, từng bước nâng tỷ lệ điện hạt nhân đạt mức hợp lý trong tổng sản lượng điện năng quốc gia”.
Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án xây dựng nhà máy Điện hạt nhân tại Việt Nam được Viện Năng lượng thực hiện với sự hợp tác giúp đỡ của công ty tư vấn Nhật Bản JCI. Bên cạnh đó, các chuyên gia Việt Nam đã có sự hợp tác chặt chẽ và hiệu quả với các chuyên gia làm việc lâu năm trong lĩnh vực điện hạt nhân của Hàn Quốc, Pháp, Nga và Canada. Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án xây dựng nhà máy Điện hạt nhân tại Việt Nam bao gồm 19 nội dung liên quan đã hoàn thành theo Đề cương ban đầu đề ra và đã được trình Chính phủ vào 10/8/2005.
Sau khi có những kết quả nghiên cứu của 3 nhiệm vụ nêu trên, lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước đã xem xét và quyết định triển khai thực hiện chương trình phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam. Đây là quyết định căn bản, có tính bước ngoặt quan trọng trong chương trình phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam và được nêu tại các văn bản sau:
- Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ngày 03 tháng 01 năm 2006 của Thủ t­­ướng Chính phủ về phê duyệt Chiến l­­ược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình đến 2020;
- Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2007 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược năng lượng quốc gia của Việt Nam đến 2020 tầm nhìn 2050;
- Nghị quyết số 41/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, gồm 2 nhà máy, mỗi nhà máy có 2 tổ máy để cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước và tỉnh Ninh thuận.
3. Các hoạt động triển khai thực hiện Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận
3.1. Các chủ thể chính và công tác chỉ đạo, điều hành
Trong quá trình triển khai xây dựng dự án điện hạt nhân, thông thường sẽ có nhiều cơ quan, tổ chức tham gia thực hiện. Tuy nhiên, có 2 chủ thể chính liên đới trực tiếp đến dự án, đó là Chủ đầu tư của dự án và Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn hạt nhân. Để bảo đảm an toàn cho dự án điện hạt nhân trong suốt vòng đời hoạt động của nó, cả 2 chủ thể nêu trên đều cần tới sự trợ giúp về mặt chuyên môn ở mức chuyên sâu và trình độ cao của 1 chủ thể thứ ba, đó là các cơ quan hỗ trợ kỹ thuật (Technical Support Organizations - TSOs).
Hình 3. Minh họa tương tác hoạt động của 3 chủ thể trong thực hiện Dự án Điện hạt nhân

Cơ quan hỗ trợ kỹ thuật có chức năng chính là phân tích, đánh giá, thẩm định về mặt an toàn đối với các công trình hạt nhân nhằm giúp Cơ quan quản lý có đủ cơ sở vững chắc về khoa học và kỹ thuật cho việc ra quyết định cấp phép xây dựng hoặc hoạt động, đồng thời nó cũng trợ giúp cho Chủ đầu tư cơ sở hạt nhân các luận cứ khoa học, các giải pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn trong quá trình lựa chọn địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo dưỡng và tháo dỡ công trình hạt nhân.  (Hình 3).
Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, các cơ quan hỗ trợ kỹ thuật - TSOs cho chương trình phát triển điện hạt nhân thường là các viện nghiên cứu và các trường đại học - nơi tập trung đông đảo các nhà khoa học và các chuyên gia đầu ngành trong mọi lĩnh vực. Do nguyên lý độc lập trong quản lý an toàn hạt nhân nên một cơ quan hỗ trợ kỹ thuật sẽ chỉ hỗ trợ hoặc cho Chủ đầu tư dự án hoặc cho Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn hạt nhân.
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam là viện nghiên cứu đầu ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Tại quyết định số 265/QĐ-TTg ngày 5/3/2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch xây dựng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thành cơ quan hỗ trợ kỹ thuật quốc gia độc lập về kiểm tra chất lượng và bảo đảm chất lượng; bảo đảm an toàn, an ninh và bảo vệ môi trường cho phát triển điện hạt nhân.

Hình 4. Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận

Trong quá trình triển khai thực hiện Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, Chủ đầu tư của Dự án đã được giao cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN); Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn hạt nhân là Cục An toàn bức xạ và hạt nhân; Cơ quan hỗ trợ kỹ thuật là Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.
Để điều phối hoạt động của 3 chủ thể chính nêu trên và các cơ quan, tổ chức liên quan khác, ngày 4/5/2010, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 580/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quá trình thực hiện Dự án. Ban chỉ đạo do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban và có đại điện lãnh đạo của các bộ/ngành liên quan khác.
3.2. Hoạt động quản lý trực tiếp và triển khai thực hiện Dự án
 Sau khi Quốc hội có Nghị quyết số 41 về xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 vào năm 2009 và Chính phủ ký Hiệp định Liên Chính phủ xây dựng các nhà máy điện hạt nhân với Liên bang Nga và Nhật Bản vào tháng 10/2010, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã ký quyết định thành lập Ban Quản lý Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận (NPB) ngày 1/5/2011, giao 1 Phó Tổng Giám đốc của EVN làm Trưởng ban.
NPB (EVN) là những đơn vị trực tiếp quản lý và triển khai thực hiện dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. NPB đã mở Văn phòng chính thức tại Phan Rang (Ninh Thuận) và tập hợp đội ngũ cán bộ làm việc tại Văn phòng, thời điểm cao nhất gần 130 người làm việc để trực tiếp triển khai các nhiệm vụ liên quan đến 2 dự án điện hạt nhân. Những nhiệm vụ đã được NPB thực hiện có thể tóm tắt như sau:
- Chuẩn bị và ký Hợp đồng triển khai Nghiên cứu khả thi (FS) và Hồ sơ phê duyệt địa điểm (SAD) với Công ty E4 để triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 (NT1) với Liên bang Nga và với Công ty JAPC để triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2 (NT2) với Nhật Bản;
- Giám sát việc triển khai NT1 và NT2, phối hợp cùng với Tư vấn quản lý dự án (Ký Hợp đồng tư vấn với Công ty AF Consult - Thuỵ Sĩ hỗ trợ giám sát thực hiện dự án) - giai đoạn từ 2011 đến 2016;
- Nghiên cứu, xây dựng và ra Quyết định (Bộ Công thương) về tiêu chí lựa chọn công nghệ cho hai dự án NT1 và NT2, đảm bảo an toàn và kinh tế dự án;
- Chuẩn bị tài liệu, hồ sơ Nghiên cứu khả thi (FS) và Hồ sơ địa điểm (SAD) của 2 dự án NT1 và NT2 trình Cục An toàn bức xạ và hạt nhân thẩm định các báo cáo;
Nhìn chung, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã nỗ lực cố gắng để triển khai dự án tốt nhất có thể, trong điều kiện thời gian gấp rút, thiếu nguồn nhân lực và cán bộ có chuyên môn sâu về hạt nhân. Các kết quả đạt được:
Đối với dự án NT1 hợp tác với Liên bang Nga: báo cáo FS và SAD được hoàn thành vào cuối năm 2013. Công ty E4 đề xuất công nghệ VVER1000 (AES-91, thiết kế đã được xây dựng tại Thiên Tân, Trung Quốc). Phía Việt Nam đã đưa ra các tiêu chí và yêu cầu về lựa chọn công nghệ, đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn mới nhất hậu Fukushima. Do đó, phía Nga đã xem xét lại và cuối năm 2014, FS và SAD đã được hoàn thiện lại, với đề xuất công nghệ hiện đại hơn là VVER1200 (AES2006, thiết kế V491), công nghệ đã được triển khai tại nhà máy điện hạt nhân Leningrad (Sankt Peterburg, Liên bang Nga).
Đối với dự án NT2 hợp tác với Nhật Bản: JAPC của Nhật Bản đã hoàn thành báo cáo FS và SAD cho dự án NT2 vào tháng 5 năm 2013, tuy nhiên, trong báo cáo FS của JAPC, vấn đề công nghệ điện hạt nhân (thiết kế cụ thể bao gồm BWR, PWR của Nhật Bản, hay ATMEA1 của Pháp và Nhật Bản, hay AP1000 của Nhật Bản và Mỹ) vẫn chưa được lựa chọn. Đây là nhiệm vụ khá khó khăn trong hoàn cảnh hậu Fukushima, phía Việt Nam đưa ra tiêu chí và yêu cầu công nghệ phải hiện đại, đáp ứng tốt nhất yêu cầu an toàn, phải được kiểm chứng, đáp ứng chỉ tiêu kinh tế. Mặc dù hai bên Nhật Bản và Việt Nam đã nỗ lực đàm phán, tìm phương án lựa chọn, nhưng đến thời điểm dừng dự án (11/2016) vấn đề lựa chọn công nghệ (thiết kế) vẫn chưa được ngã ngũ.
Trong năm 2015, báo cáo FS và SAD của cả hai dự án NT1 và NT2 đã được trình Cục An toàn bức xạ và hạt nhân để xem xét và thẩm định về an toàn. Hiện tại đang bị dừng lại theo Nghị quyết số 31 của Quốc hội khoá 13 ngày 22/11/2016 về việc dừng triển khai Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận.
3.3. Hoạt động quản lý bảo đảm an toàn hạt nhân
Quản lý bảo đảm an toàn hạt nhân được thực hiện thông qua các hoạt động sau:
- Soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân để ban hành hoặc trình ban hành;
- Thẩm định và tổ chức thẩm định an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân;
- Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân.
 Các hoạt động này được thực hiện chủ yếu bởi Cục An toàn bức xạ và hạt nhân.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phát triển điện hạt nhân và an toàn hạt nhân bao gồm luật, nghị định, thông tư và các văn bản quy phạm khác như quy trình, thủ tục phục vụ phê duyệt địa điểm, thiết kế và cấp phép xây dựng, cấp phép vận hành NMĐHN… do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và hệ thống các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Hiện nay, Việt Nam đã ban hành Luật Năng lượng nguyên tử được Quốc hội Khóa XII thông qua tháng 6/2008 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009. Đây là một trong những văn bản pháp luật quan trọng nhất trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, quy định các vấn đề liên quan tới tổ chức hệ thống quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân, về phát triển và ứng dụng năng lượng nguyên tử. Luật Năng lượng nguyên tử quy định nội dung, trình tự và thủ tục lập hồ sơ địa điểm, phê duyệt dự án, xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân; quy định các vấn đề liên quan tới đảm bảo an toàn, bảo vệ chống bức xạ, quản lý chất thải phóng xạ, vận chuyển chất phóng xạ, bảo đảm an ninh hạt nhân, không phổ biến hạt nhân và ứng phó sự cố bức xạ hạt nhân. Ngoài ra, Luật Năng lượng nguyên tử cũng quy định các vấn đề liên quan tới thực hiện các điều ước và công ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là nước thành viên.
Trên cơ sở Luật Năng lượng nguyên tử được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng và ban hành 04 Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật, bao gồm:
- Nghị định số 07/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử;
- Nghị định số 70/2010/NĐ-CP ngày 22/6/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử về nhà máy điện hạt nhân;
- Nghị định số 107/2013/NĐ-CP ngày 20/9/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; và
- Nghị định số 124/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ người đi đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Để triển khai thực hiện các Nghị định của Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương đã xây dựng và ban hành nhiều thông tư hướng dẫn và các tiêu chuẩn kỹ thuật Việt Nam về an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân, trong đó đáng chú ý là:
- Thông tư số 13/2009/TT-BKHCN ngày 20/5/2009 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc hướng dẫn đánh giá sơ bộ về an toàn hạt nhân đối với địa điểm nhà máy điện hạt nhân trong giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư;
- Thông tư số 28/2011/TT-BKHCN ngày 28/11/2011 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định yêu cầu về an toàn hạt nhân đối với địa điểm nhà máy điện hạt nhân;
- Thông tư số 29/2012/TT-BKHCN ngày 19/12/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định nội dung Báo cáo phân tích an toàn sơ bộ trong hồ sơ đề nghị phê duyệt địa điểm nhà máy điện hạt nhân;
- Thông tư số 30/2012/TT-BKHCN ngày 28/12/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định yêu cầu về an toàn hạt nhân đối với thiết kế nhà máy điện hạt nhân;
- Thông tư số 20/2013/TT-BKHCN ngày 06/9/2013 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thủ tục kiểm tra, quy trình và thủ tục thanh tra an toàn hạt nhân trong quá trình khảo sát, đánh giá địa điểm nhà máy điện hạt nhân;
- Thông tư số 21/2013/TT-BKHCN ngày 12/9/2013 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định việc áp dụng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về an toàn hạt nhân trong lựa chọn địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành và tháo gỡ tổ máy điện hạt nhân;
- Thông tư số 23/2013/TT-BCT ngày 18/10/2013 của Bộ Công Thương quy định nội dung, quy trình thẩm định và phê duyệt thiết kế công trình nhà máy điện hạt nhân;
- Thông tư số 24/2013/TT-BCT ngày 21/10/2013 của Bộ Công Thương quy định danh mục, quản lý, sử dụng hồ sơ tài liệu liên quan đến nhà máy điện hạt nhân;
- Thông tư số 08/2014/TT-BKHCN ngày 26/5/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định nội dung Báo cáo phân tích an toàn trong hồ sơ phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân;
- Thông tư số 12/2015/TT-BKHCN ngày 20/7/2015 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về phân tích an toàn đối với nhà máy điện hạt nhân.
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên tuy chưa được đầy đủ nhưng đã tạo thành cơ sở sở pháp lý quan trọng để 3 chủ thể chính của Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận và các cơ quan, tổ chức liên quan khác triển khai thực hiện các hoạt động của mình theo chức năng, nhiêm vụ được giao.
3.4. Hoạt động hỗ trợ kỹ thuật
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, với tư cách là cơ quan hỗ trợ kỹ thuật, sẽ trợ giúp cho Chủ đầu tư dự án và Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn hạt nhân về các hoạt động:
- Tư vấn về phân tích, đánh giá và đề xuất lựa chọn công nghệ điện hạt nhân;
- Thẩm định, phân tích, đánh giá an toàn hạt nhân cho các giai đoạn phê duyệt địa điểm, phê duyệt thiết kế, cấp phép xây dựng và cấp phép vận hành;
- Hỗ trợ thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế thi công xây dựng công trình nhà máy điện hạt nhân;
- Quan trắc và đánh giá tác động môi trường, xử lý ô nhiễm môi trường;
- Hỗ trợ kỹ thuật cho nhiệm vụ ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân (khi cần);
- Kiểm tra chất lượng và bảo đảm chất lượng cho các thiết bị và công trình xây dựng nhà máy điện hạt nhân;
- Hỗ trợ kỹ thuật cho việc thực hiện các công ước quốc tế về an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân, ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân.
Từ khi có chủ trương triển khai thực hiện Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận, đặc biệt, sau khi có sự cố Fukushima, đội ngũ cán bộ về điện hạt nhân của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã nghiên cứu và tư vấn cho Chính phủ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) về các nhiệm vụ liên quan đến an toàn điện hạt nhân và đặc biệt là về lựa chọn công nghệ đảm bảo an toàn. Viện đã cùng EVN xây dựng Bộ Tiêu chí lựa chọn công nghệ cho NT1 và NT2 và đã được Bộ Công Thương quyết định ban hành. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phía Việt Nam thương thảo với các đối tác và quyết định lựa chọn công nghệ cho nhà máy điện hạt nhân NT1 và NT2, bảo đảm an toàn cao nhất và bảo đảm lợi íc quốc gia.
Trong thời gian xem xét Báo cáo phân tích an toàn của Dự án Điện hạt nhân NT1 (SAR NT1), đội ngũ cán bộ an toàn hạt nhân của Viện đã tính toán kiểm tra lại mức độ an toàn của toàn bộ các trạng thái hoạt động của nhà máy điện hạt nhân NT1, bao gồm: vận hành bình thường, các sự cố trong cơ sở thiết kế và kịch bản các tai nạn nghiêm trọng. Kết quả thu được khá phù hợp với kết quả tính toán của các chuyên gia Nga (các chuyên gia Nga sử dụng phần mềm mô phỏng của Nga như COSAR, SOCRAT, còn các chuyên gia Việt Nam sử dụng phần mềm mô phỏng của Hoa Kỳ như RELAP, MELCOR). Kết quả này đã một lần nữa khẳng định năng lực tính toán, phân tích, đánh giá an toàn của các các chuyên gia Việt Nam.
Trong quá trình triển khai dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận, đội ngũ cán bộ an toàn hạt nhân của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã phối hợp và hỗ trợ Cục An toàn bức xạ và hạt nhân trong việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về phân tích, đánh giá và thẩm định an toàn hạt nhân. Đồng thời, với năng lực và uy tín chuyên môn của mình, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã được các đối tác nước ngoài (cùng với sự cho phép của Bộ Khoa học và Công nghệ) lựa chọn là nhà thầu phụ trong hồ sơ đấu thầu nhiệm vụ thẩm định an toàn dự án đầu tư (Báo cáo FS) nhà máy điện hạt nhân NT1. Đối với nhiệm vụ thẩm định an toàn dự án đầu tư (Báo cáo FS) nhà máy điện hạt nhân NT2, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã được Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ xác định sẽ là nhà thầu chính và đối tác nước ngoài là nhà thầu phụ. Rất tiếc rằng, các nhiệm vụ này đã không được triển khai do có Nghị quyết 31 của Quốc hội về việc dừng các dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận.
3.5. Một vài kết luận
Trong quá trình triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, mặc dù còn có những hạn chế nhất định, nhưng những kết quả đã thực hiện được là không thể phủ nhận, đặc biệt là:
- Các kết quả đúc kết trong bộ Hồ sơ địa điểm (SAD) và bộ Hồ sơ Nghiên cứu khả thi (FS) của 2 dự án NT1 và NT2 vẫn còn nguyên giá trị.
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phát triển và quản lý an toàn điện hạt nhân tuy chưa đầy đủ, hoàn chỉnh nhưng vẫn còn giá trị sử dụng trong tương lai.
- Tiềm lực nghiên cứu và phát triển và năng lực hỗ trợ kỹ thuật của Việt Nam đã được nâng lên một mức, sẵn sàng hỗ trợ cho chương trình phát triển điện hạt nhân.
- Đội ngũ cán bộ quản lý các cấp ở các bộ, ngành và đội ngũ cán bộ chuyên môn ở các viện nghiên cứu, các trường đại học đã được hình thành.
Đây là nền tảng quan trọng ban đầu khi chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân được tái khởi động. (Xem tiếp phần 2)
* Nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng Việt Nam 

Bình luận của bạn