cis_banner_final_en.png
Chương trình phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam và hoạt động hợp tác Việt Nam - Ấn Độ (Phần 2)

02/07/2019


Chương trình phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam và hoạt động hợp tác Việt Nam - Ấn Độ (Phần 2)


(Tiếp theo phần 1)

TS Lê Văn Hồng*

4. Điện hạt nhân trên thế giới và mục tiêu chiến lược của Việt Nam
4.1 Tình hình chung về phát triển điện hạt nhân hiện nay
Theo thống kê của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), tính đến tháng 11/2018, hiện có 454 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động tại 35 quốc gia trên thế giới, với tổng công suất 400.285 MWe, 54 tổ máy với tổng công suất 55.013 MWe đang được xây dựng và 160 tổ máy đang lên kế hoạch xây dựng trong tương lai. Tính đến nay, điện hạt nhân đã đạt được 17.813 lòxnăm kinh nghiệm vận hành.
Trong năm 2017, tổng sản lượng điện hạt nhân cung cấp là 2.488 tỷ kWh, chiếm khoảng 11% tổng sản lượng điện toàn cầu. Hiện có 16 quốc gia có sản lượng điện hạt nhân chiếm tỷ lệ trên 25%. Pháp là quốc gia có tỷ lệ điện hạt nhân cao nhất, đạt khoảng 75%. Hungary, Slovakia và Ukraina điện hạt nhân chiếm hơn 50% tổng sản lượng. Bỉ, Cộng hòa Séc, Phần Lan, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Slovenia, Bulgary và cả Hàn Quốc, tỷ lệ điện hạt nhân trên 30%. Đặc biệt, một số quốc gia như Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Anh…, tuy tỷ lệ điện hạt nhân chỉ chiếm khoảng 20%, nhưng con số tuyệt đối về sản lượng điện năng lại rất cao.
Sau sự cố Fukushima Daiichi xảy ra vào ngày 11 tháng 3 năm 2011, cũng có nhiều lo ngại về tương lai phát triển điện hạt nhân trên thế giới. Nhưng nhìn chung, hầu hết các nước không thay đổi về chính sách của mình đối với điện hạt nhân. Một số quốc gia còn cho rằng, chính sự cố Fukushima đã trở thành đòn bẩy, thúc đẩy nâng cao tính năng an toàn của các nhà máy điện hạt nhân. Sau sự cố Fukushima, tất cả các nhà máy điện hạt nhân đã thực hiện kiểm tra đánh giá lại an toàn, các thiết kế mới nâng cao an toàn theo yêu cầu nghiêm ngặt hơn, tăng thêm tính năng dự phòng các sự cố nghiêm trọng. Đặc biệt hệ thống pháp quy hạt nhân của các nước được hoàn thiện hơn sau Fukushima.
Về công nghệ và thiết kế điện hạt nhân hiện nay: đa số các nhà máy điện hạt nhân đang vận hành trên thế giới hiện nay thuộc thế hệ II (lò PWR, BWR, VVER, CANDU). Trong những năm gần đây, thiết kế thế hệ III và III+ được đưa vào xây dựng và vận hành tại nhiều nước (thế hệ III như ABWR, VVER-AES91/92, thế hệ III+ như VVER-AES2006/V491/V392M, AP1000, EPR1600). Thế hệ lò III có cấp độ an toàn nâng cao hơn so với thế hệ lò II. Lò thế hệ III+ đảm bảo an toàn cao hơn, không gây ảnh hưởng cho con người và môi trường ngay cả khi sự cố nghiêm trọng xảy ra. Nhiều thiết kế thế hệ III+ có hệ thống an toàn phối hợp chủ động và thụ động, hệ thống an toàn có thể vận hành ngay cả khi mất điện hoàn toàn như sự cố Fukushima (VVER-AES2006, AP1000).
Hình 5. Phát triển các thế hệ công nghệ lò

 
Về tính kinh tế, điện hạt nhân hiện nay có suất chi phí đầu tư USD/kW cao hơn so với 10 năm trước đây do bổ sung hệ thống an toàn. Các nhà máy xây dựng tại các nước châu Âu có chi phí đầu tư cao hơn so với các nhà máy xây dựng tại Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, hoặc Ấn Độ. Do tuổi thọ nhà máy hiện nay đều được thiết kế mức 60 năm hoặc hơn, nên giá thành điện hạt nhân vẫn có tính cạnh tranh so với các loại hình phát điện khác như khí, khí hoá lỏng. Điện hạt nhân ở Pháp có giá thành cạnh tranh nên giá điện ở Pháp thấp hơn hẳn so với ở Đức và một số nước trong khối EU. Điện hạt nhân ở Hàn Quốc có giá thành thấp hơn nhiệt điện. Điện hạt nhân ở Mỹ và nhiều nước châu Âu, đặc biệt là Đông Âu có giá thành rất thấp vì đa số các tổ máy đều được kéo dài tuổi thọ sau khi đã hết khấu hao và hết thời gian vận hành theo thiết kế ban đầu (30-40 năm). Điện hạt nhân ở Nga có giá thành không cao so với các loại hình phát điện khác.
Ấn Độ hiện nay có 22 tổ máy điện hạt nhân, đang xây dựng 6 tổ máy khác. Điện hạt nhân đóng góp khoảng 3,3% sản lượng điện hiện tại. Tương lai, Ấn Độ dự kiến sẽ đạt 14.600 MW vào năm 2024 và 63.000 MW vào năm 2032, tiến tới cung cấp 25% sản lượng điện năng từ điện hạt nhân vào năm 2050.
Ấn Độ là đất nước có chiến lược phát triển điện hạt nhân trong nhiều thập niên qua và thực sự hiện nay đã tự chủ trong công nghệ điện hạt nhân. Ấn Độ tiếp nhận công nghệ điện hạt nhân của Canada (công nghệ lò nước nặng), và hiện nay tự thiết kế, xây dựng và vận hành được các tổ máy này. Ấn Độ cũng là nước đi đầu trên thế giới về công nghệ lò tái sinh nhanh (FBR). Hiện nay, ngoài 2 loại công nghệ tự có, Ấn Độ hợp tác với Nga, Mỹ để xây dựng và vận hành lò nước nhẹ (VVER-1000, AP1000).

Hình 6. Phát triển công nghệ lò loại VVER của LB Nga
Một điểm đáng chú ý, là chính vì có chiến lược phát triển, tự chủ điện hạt nhân nên khoa học, công nghệ và công nghiệp của Ấn Độ đã phát triển mạnh mẽ trong mấy chục năm qua (do sự đòi hỏi của ngành hạt nhân). Các ngành thực sự đã được phát triển và tự chủ có thể kể đến là vật lý hạt nhân, cơ học dòng chảy, thiết kế, cơ khí chế tạo, vật liệu thép hợp kim, công nghệ hóa học, tự động điều khiển, nhiên liệu hạt nhân… Chính sự phát triển mạnh mẽ của các ngành này đã giúp Ấn Độ tự chủ trong phát triển kinh tế và giữ vững quốc phòng đất nước.
Trong khu vực, các nước như Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Singapore đều có mục tiêu chiến lược cho phát triển điện hạt nhân và đang tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cơ sở hạ tầng và đội ngũ cán bộ.

4.2. Mục tiêu chiến lược của Việt Nam

* Nhận thức

Điện hạt nhân là một nguồn cung cấp điện năng ổn định, có tính cạnh tranh kinh tế, ít phát thải cacbon, thân thiện với môi trường. Công nghệ điện hạt nhân ngày càng được hoàn thiện với sự ra đời của các thế lò III+ và IV. An toàn điện hạt nhân ngày càng được nâng cao với việc sử dụng những hệ thống an toàn chủ động và thụ động. Trong tương lai, điện hạt nhân vẫn tiếp tục phát duy trì, phát triển ở các cường quốc công nghiệp và tiếp tục lan tỏa rộng rãi sang các nước đang phát triển – nơi có nhu cầu năng lượng tăng nhanh.
Việt Nam - quốc gia một trăm triệu dân với nền kinh tế đang phát triển, nhu cầu năng lượng còn tiếp tục tăng cao. Việt Nam - đất nước có nguồn tài nguyên năng lượng sơ cấp phong phú nhưng hữu hạn, không còn đáp ứng được nhu cầu sản xuất điện trong tương lai gần. Điện hạt nhân sẽ là một trong những lựa chọn như một nhu cầu tất yếu, khách quan.
Phát triển điện hạt nhân không phải là một giải pháp nhất thời nhằm bù đắp sự thiếu hụt về năng lượng, mà là một chương trình dài hạn, đòi hỏi một chủ trương nhất quán, lâu dài của Đảng, Nhà nước và một sự cố gắng, nỗ lực rất cao của toàn quốc gia.
Việt Nam đã từng bắt đầu triển khai dự án điện hạt nhân. Mặc dù còn nhiều vấn đề tồn tại và hạn chế, nhưng những kết quả tích lũy được về khoa học-công nghệ điện hạt nhân, về cơ sở hạ tầng pháp quy hạt nhân, về đào tạo nguồn nhân lực và một số kinh nghiệm trong công tác quản lý, thực hiện dự án… vẫn còn nguyên giá trị và là điều kiện thuận lợi để Việt Nam tái khởi động chương trình phát triển điện hạt nhân.
* Mục tiêu chiến lược
Từng bước xây dựng và phát triển ngành điện hạt nhân Việt Nam góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia lâu dài và bền vững; tăng cường tiềm lực khoa học - công nghệ quốc gia và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ của đất nước.
* Mục tiêu cụ thể
(thời điểm chính xác khởi công xây dựng và vận hành nhà máy còn phụ thuộc vào tính toán cân đối nguồn điện, tuy nhiên, tạm thời có thể đề xuất như dưới đây)
Đến năm 2030:
- Thực hiện dự án điện hạt nhân nhân số 1: Khởi công xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên và đưa vào vận hành tổ máy số 1 năm 2035, tổ máy số 2 năm 2036; chuẩn bị đầy đủ điều kiện cần thiết để triển khai các dự án tiếp theo.
- Bảo đảm bảo an toàn hạt nhân: hoàn thiện và ban hành đủ các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quy trình, thủ tục phục vụ cho việc cấp phép vận hành, bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân; tăng cường năng lực cho Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, bảo đảm thực thi nhiệm vụ của Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn hạt nhân.
- Tăng cường năng lực hỗ trợ kỹ thuật: tiếp tục xây dựng Viện NLNTVN như một cơ quan hỗ trợ kỹ thuật độc lập hoàn chỉnh, đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ: phân tích, thẩm định, đánh giá an toàn hạt nhân; quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường; kiểm định và hiệu chuẩn thiết bị hạt nhân; ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân.
Đến năm 2045:
- Thực hiện dự án điện hạt nhân nhân số 2&3: Xây dựng và đưa vào vận hành nhà máy điện hạt nhân thứ 2 và thứ 3. Đưa điện hạt nhân thành một trong những nguồn năng lượng quan trọng của đất nước; chuẩn bị đầy đủ điều kiện cần thiết để triển khai các dự án tiếp theo, từng bước tăng dần tỷ lệ điện hạt nhân một cách hợp lý.
- Đảm bảo an toàn hạt nhân: hoàn thiện, cập nhật, bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo năng lực của cơ quan quản lý an toàn hạt nhân phù hợp với sự phát triển của chương trình điện hạt nhân tại thời điểm năm 2045.
- Tăng cường năng lực hỗ trợ kỹ thuật: tăng cường, bổ sung tiềm lực cho cơ quan hỗ trợ kỹ thuật độc lập và cho các viện nghiên cứu liên quan, các trường đại học phù hợp với nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật của chương trình điện hạt nhân tại thời điểm năm 2045.
5. Hợp tác Viêt Nam - Ấn độ trong lĩnh vực Năng lượng nguyên tử
5.1. Một số điểm mốc quan trọng
- Ngày 15 tháng 3 năm 1986, Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Ấn Độ về hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đã được ký kết. Hiệp định này đã được gia hạn nhiều lần. Lần gia hạn gần đây nhất vào tháng 9 năm 2013 kéo dài hiệu lực của Hiệp định đến tháng 5 năm 2017.
- Ngày 10 tháng 2 năm 1998, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và Ủy ban Năng lượng nguyên tử Ấn Độ đã ký Biên bản ghi nhớ về quan hệ hợp tác giữa hai cơ quan.
- Năm 2001, Việt Nam đã tiếp nhận và khánh thành Trung tâm Khoa học hạt nhân Việt Nam - Ấn Độ tại Đà Lạt, với thiết bị nghiên cứu trị giá 225.000 USD do Chính phủ Ấn Độ tặng.
- Tháng 7 năm 2005 Đoàn chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu nguyên tử BARC do Giám đốc S. Banerjee dẫn đầu sang thăm Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt và Trung tâm chiếu xạ Hồ Chí Minh.
- Tháng 9 năm 2008, Thỏa thuận giữa Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế, Ấn Độ, Việt Nam được ký kết, theo đó Ấn Độ đã cung cấp thiết bị Teletherapy cho Bệnh viện ung bướu Cần Thơ.
- Ngày 9 tháng 12 năm 2016. Hiệp định liên chính phủ Việt Nam và Ấn Độ về sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đã ký lại tại New Delhi, Ấn độ và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, chính thức có hiệu lực ngày 16/8/2017.
- Ngày 16 tháng 11 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1594/QĐ-TTg về việc thành lập Phân ban Việt Nam trong Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Ấn độ về năng lượng nguyên tử.
5.2. Một số hoạt động hợp tác cụ thể
* Trong lĩnh vực điện hạt nhân, nhiên liệu, vật liệu hạt nhân
Trong thời gian từ năm 2000 đến nay, theo chương trình hợp tác giữa Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và Ủy ban Năng lượng nguyên tử Ấn Độ, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã cử nhiều lượt cán bộ sang Ấn Độ tham gia các khóa thực tập từ 3 đến 6 tháng về điện hạt nhân, nhiên liệu và vật liệu hạt nhân.
Các bộ của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã được học tập, đào tạo tại BARC về tính toán, phân tích an toàn nhà máy điện hạt nhân; và học tập, đào tạo tại một số cơ sở hạt nhân khác của Ấn Độ về kỹ thuật chế tạo bột gốm nhiên liệu hạt nhân, các phương pháp đánh giá, kiểm tra viên nhiên liệu hạt nhân.
Các bộ của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam sau khi được đào tạo trở về Viện đều phát huy rất tốt những kiến thức đã học tập được tại nước Bạn.
* Trong lĩnh vực công nghệ bức xạ
Ấn Độ đã cử chuyên gia sang Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam để xem xét khả năng cung cấp nguồn Co-60 cho Việt Nam và nâng cấp thiết bị chiếu xạ của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Ấn Độ đã cung cấp và lắp đặt nguồn Co-60 100kCi cho Trung tâm Chiếu xạ thành phố Hồ Chí Minh và giúp Trung tâm  đào tạo cán bộ trong lĩnh vực này.
Năm 2010, trong khuôn khổ Chương trình phòng chống ung thư (PACT) của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế, Ấn Độ đã tặng Bệnh viện U bướu Cần Thơ thiết bị điều trị Bhabhatron II Teletherapy. Chuyên gia Ấn Độ đã vào Việt Nam giúp lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng thiết bị và hướng dẫn cán bộ Việt Nam về thiết bị này.
Năm 2017, sau khi Hiệp định có hiệu lực, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị và đối tác Ấn Độ, đặc biệt là Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động hợp tác giữa hai nước. Kết quả bước đầu đã gần như giải quyết được việc vận chuyển nguồn Co-60 vốn bị mắc tại Ấn Độ gần 8 năm qua về Việt Nam; mở ra các hướng hợp tác mới về lò phản ứng, y học hạt nhân, ứng dụng kỹ thuật hạt nhân cho điều trị ung thư tại Việt Nam, thiết lập kênh cung cấp nguồn phóng xạ từ Ấn Độ tới Việt Nam và đào tạo nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
* Trong lĩnh vực đào tạo
Chính phủ Ấn Độ đã thực hiện Dự án viện trợ cho Việt Nam trị giá 215000 USD để thiết lập Trung tâm đào tạo Việt Nam - Ấn Độ tại Viện NCHN Đà Lạt với 18 hệ thiết bị cơ bản về đo lường bức xạ và phân tích hạt nhân. Phía Ấn Độ đã cử các đoàn chuyên gia sang lắp đặt, hiệu chỉnh thiết bị thuộc Dự án. Khi Dự án hoạt động phía Ấn Độ cũng cử chuyên gia sang giúp bảo dưỡng thiết bị của Dự án và hàng năm đều tổ chức các khóa đào tạo tạo chuyên môn cho cán bộ Việt Nam.
5.2. Tiềm năng hợp tác Việt Nam - Ấn Độ
Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Ấn độ về năng lượng nguyên tử đã tổ chức cuộc họp đầu tiên vào ngày 23 tháng 2 năm 2018 tại Mumbai, Ấn Độ. Các kế hoạch hợp tác chi tiết cho giai đoạn tới đang được thảo luận.
Ngoài những hướng hợp tác truyền thống về các ứng dụng phi năng lượng của năng lượng nguyên tử thì hai bên còn tiềm năng rất lớn về hợp tác trong điện hạt nhân. Ấn Độ đã làm chủ công nghệ lò nước nặng kiểu CANDU, nay Ấn Độ đang tiếp thu và tiến tới làm chủ các công nghệ lò nước nhẹ tiên tiến của Nga, Nhật Bản, Hoa Kỳ.
Các công nghệ lò nước nhẹ tiên tiến của Nga, Nhật Bản, Hoa kỳ cũng là loại công nghệ mà Việt Nam đã và dự kiến lựa chọn cho nhà máy điện hạt nhân NT1 và NT2. Do đó, các tri thức về phân tích đánh giá công nghệ; về phân tích đánh giá an toàn; các kinh nghiệm về xây dựng, vận hành loại công nghệ này tại vùng nhiệt đới… là rất có giá trị với Việt Nam. Đây thực sự là tiềm năng to lớn cho sự hợp tác giữa hai bên.
6. Kết luận và kiến nghị
6.1. Kết luận
6.1.1. Mục tiêu chiến lược liên quan đến kế hoạch phát triển điện hạt nhân nêu trong Nghị quyết 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2007 của Bộ Chính trị Nghị quyết số 41/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009 của Quốc hội là hoàn toàn đúng đắn. Các Nghị quyết này là cơ sở để triển khai chiến lược phát triển năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, trong đó có chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận.
6.1.2. Trong quá trình triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, mặc dù còn có những hạn chế nhất định, nhưng những kết quả đã thực hiện được là không thể phủ nhận. Các kết quả đúc kết trong bộ Hồ sơ địa điểm (SAD) và bộ Hồ sơ Nghiên cứu khả thi (FS) của 2 dự án NT1 và NT2 vẫn còn nguyên giá trị. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phát triển và quản lý an toàn điện hạt nhân tuy chưa đầy đủ, hoàn chỉnh nhưng vẫn còn giá trị sử dụng trong tương lai. Tiềm lực khoa học và công nghệ và năng lực hỗ trợ kỹ thuật cho chương trình phát triển điện hạt nhân của Việt Nam đã được nâng lên một mức. Đội ngũ cán bộ quản lý các cấp ở các bộ, ngành và đội ngũ cán bộ chuyên môn ở các viện nghiên cứu, các trường đại học đã được hình thành. Đây là nền tảng quan trọng ban đầu khi chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân được tái khởi động.

6.1.3. Điện hạt nhân là một nguồn điện ổn định và bền vững. Trong bối cảnh cung cầu điện năng của nước ta hiện nay và tương lai, việc xem xét tái khởi động chương trình phát triển điện hạt nhân là cần thiết.
6.1.4. Việc tiếp tục đào tạo, củng cố phát triển nguồn nhân lực hạt nhân, đặc biệt đội ngũ chuyên gia đầu đàn là hết sức cần thiết trong thời gian tiếp theo. Nguồn nhân lực hạt nhân, đội ngũ chuyên gia cũng cần thiết để có thể hỗ trợ các nhiệm vụ liên quan đến tính toán, phân tích, dự báo, lên kế hoạch ứng phó với các nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc đang vận hành gần biên giới nước ta.

6.1.5. Hoạt động hợp tác Việt Nam - Ấn Độ về năng lượng nguyên tử trong giai đoạn vừa qua tuy chưa nhiều nhưng rất hiệu quả. Tiềm năng hợ tác hai bên còn rất lớn, cần thúc đẩy hơn nữa.

6.2. Kiến nghị
6.2.1. Cần có quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng Việt Nam. Tính toán cân bằng cung cầu và xác định thời điểm cụ thể về sự cần thiết xuất hiện điện hạt nhân trong hệ thống phát triển nguồn điện quốc gia và đưa vào Quy hoạch điện VIII sắp tới.
6.2.2. Cần giữ lại hai địa điểm Phước Dinh và Vĩnh Hải tại tỉnh Ninh Thuận cho việc phát triển điện hạt nhân trong tương lai. Hai địa điểm này đã được nghiên cứu, khảo sát và đánh giá kỹ lưỡng về mọi mặt liên quan tới yêu cầu của một địa điểm dùng cho xây dựng nhà máy điện hạt nhân; đã được lập thành hồ sơ để lưu giữ và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị phê duyệt.
6.2.3. Cần thúc đẩy hơn nữa các hoạt động hợp tác Việt Nam - Ấn Độ về năng lượng nguyên tử. Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn trình độ cao làm cán bộ đầu đàn, dẫn dắt và phát triển các nhóm chuyên môn trong từng lĩnh vực của khoa học công nghệ điện hạt nhân./.

* Nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng Việt Nam

Bình luận của bạn