cis_banner_final_en.png
Chiến lược năng lượng tái tạo của Ấn Độ và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

02/07/2019


Chiến lược năng lượng tái tạo của Ấn Độ và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam



ThS Nguyễn Thị Thu Hiền*
Tóm tắt
Ấn Độ là quốc gia có diện tích lớn thứ chín thế giới và nằm trong khu vực nhiệt đới, quanh năm nắng gió. Tận dụng ưu thế của mình, với một một chiến lược rõ ràng và bài bản cùng với hệ thống chính sách ổn định, hợp lý và toàn diện, Ấn Độ đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo và trở thành một trong những quốc gia hàng đầu khá thành công về năng lượng tái tạo. Ấn Độ đã trở thành một trong năm quốc gia hàng đầu trên thế giới về công suất năng lượng tái tạo và là nhà sản xuất các thiết bị công nghệ năng lượng tái tạo toàn cầu cạnh tranh với Mỹ, châu Âu, Trung Quốc. Năm 2016, trong bảng xếp hạng hàng năm của 40
thị trường năng lượng tái tạo hàng đầu thế giới, xét về mặt hấp dẫn, Ấn Độ đã vượt qua Mỹ để trở thành nước hấp dẫn thứ hai thế giới về đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, chỉ xếp sau Trung Quốc. Ấn Độ hiện cũng là nhà sản xuất năng lượng gió lớn thứ năm thế giới.
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển năng lượng mới và năng lượng tái tạo nhưng thị trường năng lượng tái tạo còn nhỏ và mới ở giai đoạn sơ khai. Những thành công của Ấn Độ trong lĩnh vực sản xuất năng lượng tái tạo là bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với Việt Nam đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức về an ninh năng lượng do lượng tiêu thụ năng lượng của Việt Nam tương đối lớn so với các nước trong khu vực và thế giới.
Abstract
Energy and energy security has been a direct agent that influences the social-economic development of most of countries in the world. In the situation that the prominent energies such as coal and oil have been running out, and faceing the threat of being rare in the next 50 years, especially the impacts of climate change threatens the stability of life and social-economic status of everyone, every country, the global trend now is to reduce the energy that cause impacts on environment and enhance the use of new and renewable energies.
India is the nineth biggest country in the world, it is in the area of tropical, with sunny and windy days in all year round. Taking full advantages of the country, with a clear strategy, and a stable, reasonable and comprehensive system of policies, India has created the favourable conditions for developing the renewables resources and becomes one of the leading successful countries in renewable energy. India is oon the top five countries with the highest renewable energy efficiency and is a big producer of equipment for renewable energies production, competing to the US, Europe, China. In 2016, in the annual ranking of top 40 markets for renewable energies, India had exceeded the US and became the second attractive investor in renewable energies, after China. India is the fifth biggest wind power of th world.
Vietnam has been evaluated as having a lot of potentials in renewable energies development, and the development is still in its pre-maturity. The success of India in producing renewable energies has many implications for Vietnam, particularly when Vietnam has been facing up with many many challenges in energy securities due to the high demand of Vietnam on energy, compared to the average energy consumption in the region and on the world.
*******
 
Năng lượng và an ninh năng lượng từ lâu đã trở thành nhân tố tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, xã hội hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh các nguồn năng lượng chủ yếu như dầu mỏ, than đá và khí đốt ngày càng khan hiếm dần và có nguy cơ cạn kiệt trong 50 năm tới, đặc biệt là những tác động của biến đổi khí hậu đe dọa trực tiếp đến sự ổn định, đời sống kinh tế - xã hội của tất cả con người, mọi quốc gia trên hành tinh, xu hướng thế giới là giảm bớt sử dụng năng lượng ảnh hưởng đến môi trường và đẩy mạnh phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Nhìn chung, việc phát triển năng lượng xanh và sạch đang được khẳng định là xu thế không thể đảo ngược trên thế giới.
1. Chiến lược năng lượng tái tạo của Ấn Độ
Ấn Độ là quốc gia có diện tích lớn thứ chín thế giới và nằm trong khu vực nhiệt đới, quanh năm nắng gió. Tận dụng ưu thế của mình, với một hệ thống chính sách ổn định, hợp lý và toàn diện, Ấn Độ đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo và trở thành một trong những quốc gia hàng đầu khá thành công về năng lượng tái tạo.
Đối với một đất nước rộng lớn như Ấn Độ, đứng thứ sáu thế giới về mức tiêu thụ năng lượng, sự phụ thuộc vào một nguồn đơn hoặc một công nghệ để thực hiện tất cả các nhu cầu về năng lượng trong khi giải quyết các vấn đề liên quan đến tác động môi trường và nguồn cung cấp nhiên liệu là điều không thực tế. Do đó, kết hợp các nguồn năng lượng không thải ra khí carbon đã trở thành một phần không thể thiếu để đạt được phát triển bền vững và giảm bớt gánh nặng về dự trữ nhiên liệu hóa thạch.
Để phát triển năng lượng trong khi vẫn phải ưu tiên an ninh năng lượng, Chính phủ Ấn Độ đã đề ra mục tiêu sản xuất năng lượng tái tạo vào năm 2022 là 175 GWW, bao gồm 100 GW năng lượng mặt trời và 60 GW năng lượng gió - một mục tiêu từng được coi là quá tham vọng. Theo tính toán của Chính phủ Ấn Độ, mặc dù nhu cầu về năng lượng của Ấn Độ sẽ tăng gấp đôi trong vòng 7 năm tới (theo tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay), thì đến năm 2030, Ấn Độ sẽ đáp ứng được 2/5 nhu cầu điện của mình từ các nguồn tái tạo. Chính các mục tiêu đầy tham vọng đã tạo ra các cơ hội to lớn cho việc phát triển một thị trường năng lượng tái tạo năng động và cũng đặt ra các thách thức để hoàn thành mục tiêu này.
Ấn Độ coi năng lượng tái tạo là một phần quan trọng trong chiến lược 10 năm về phát triển năng lượng xanh và sạch. Nhằm đạt được các mục tiêu về phát triển năng lượng sạch, Chính phủ Ấn Độ đã đưa ra các chính sách hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo cụ thể giúp đẩy nhanh việc triển khai và hoàn thành các mục tiêu. Chính hướng đi này đã đưa Ấn Độ gia nhập câu lạc bộ các cường quốc năng lượng sạch hàng đầu thế giới.
Ấn Độ đã có một chiến lược rõ ràng và bài bản để trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của thế giới. Trong chiến lược năng lượng của Ấn Độ, một mũi nhọn luôn được đề cao là năng lượng Mặt trời. Với hơn 300 ngày nắng mỗi năm, tiềm năng năng lượng mặt trời ở Ấn Độ rất lớn. Năm 2014, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi công bố mục tiêu 100 gigawatt năng lượng tái tạo vào năm 2022 – một mục tiêu từng được coi là quá tham vọng. Không dừng lại ở đó, năm 2015, mục tiêu này đã được nâng lên thành 175 GW, bao gồm 100 GW năng lượng mặt trời và 60 GW năng lượng gió. Giới chuyên gia cho rằng, New Delhi có thể đạt được mục tiêu này khi tiến độ sản xuất điện mặt trời của nước này đang diễn ra một cách nhanh chóng. Theo đó, chỉ riêng trong năm 2017, Ấn Độ đã sản xuất gấp đôi lượng điện mặt trời, từ 10 GW lên 20 GW.
 Ấn Độ cũng đã thông qua kế hoạch phát triển 50 thành phố điện mặt trời trong khắp cả nước. Chính phủ Ấn Độ đặt mục tiêu đến năm 2030, năng lượng phi hóa thạch sẽ chiếm 40% tổng công suất điện. Việc áp dụng linh hoạt các chính sách trợ giá điện từ nguồn tái tạo, khuyến khích thị trường năng lượng tái tạo cạnh tranh và miễn thuế cho các nhiên liệu sinh học đã đưa ra một sự kết hợp các chính sách thành công dẫn đến một thị trường năng động cho các nguồn năng lượng tái tạo phát triển.
Năng lượng Mặt trời đang dần trở thành nền tảng trong chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu của Ấn Độ, giúp Ấn Độ thoát khỏi sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch. Trên phạm vi cả nước, 34 công viên năng lượng mặt trời đang được triển khai xây dựng tại Ấn Độ. Thời gian qua, giá năng lượng mặt trời đã giảm mạnh so với than, cho thấy những chính sách đẩy mạnh khai thác nguồn năng lượng tái tạo này là sáng suốt đối với quốc gia 300 triệu người sống trong tình trạng thiếu điện này. Hiện mức giá năng lượng mặt trời đang cao hơn khoảng 15% so với than đá. Theo các chuyên gia, xu hướng này sẽ tiếp tục và cho đến năm 2020, nguồn năng lượng mặt trời thậm chí sẽ rẻ hơn 10% so với than đá.
Bên cạnh vấn đề về giá thành, lợi ích về mặt môi trường của năng lượng mặt trời đối với Ấn Độ là rất lớn. Than đá hiện đang chiếm tới 60% sản lượng năng lượng của Ấn Độ chính là một trong những nguyên nhân khiến 13 thành phố của nước này rơi vào top 20 đô thị ô nhiễm nhất thế giới. Đây là điều dễ hiểu bởi than đá Ấn Độ vốn có hàm lượng tro cao, giải phóng độc tố, kim loại vào không khí trong quá trình đốt cháy.
Chiến lược
năng lượng sạch của Ấn Độ đã nhận được sự ủng hộ lớn. Riêng Ngân hàng Thế giới đã cam kết cho Ấn Độ vay 1 tỷ USD trong tài khóa 2017 để thực hiện chiến lược đầy tham vọng trên. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất mà Ngân hàng Thế giới từng dành cho một nước để phát triển lĩnh vực năng lượng sạch.
Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong thiết kế và triển khai chính sách, nhưng nhìn chung Ấn Độ có một khuôn khổ chính sách ổn định và cam kết mạnh mẽ từ Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các nguồn nănglượng tái tạo trong nước. Ấn Độ đã trở thành một trong năm quốc gia hàng đầu trên thế giới về công suất năng lượng tái tạo và là nhà sản xuất các thiết bị công nghệ năng lượng tái tạo toàn cầu cạnh tranh với Mỹ, châu Âu, Trung Quốc. Năm 2016, trong bảng xếp hạng hàng năm của 40
thị trường năng lượng tái tạo hàng đầu thế giới xét về mặt hấp dẫn, Ấn Độ đã vượt qua Mỹ để trở thành nước hấp dẫn thứ hai thế giới về đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, chỉ xếp sau Trung Quốc. Ấn Độ hiện cũng là nhà sản xuất năng lượng gió lớn thứ năm thế giới.
2. Kinh nghiệm đối với Việt Nam
Đối với Việt Nam, vấn đề năng lượng và an ninh năng lượng tác động rất lớn đến nước ta, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết. Hiện nay sự gia tăng phát triển kinh tế khoảng 7% năm và lượng điện tiêu thụ gia tăng khoảng 20% năm, Việt Nam thuộc nhóm những nước tiêu thụ năng lượng tương đối lớn so với khu vực và thế giới trong khi đó giá dầu, than, khí đốt tăng cao và chủ yếu sẽ phải nhập khẩu nên sẽ gây khó khăn cho an ninh năng lượng quốc gia. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần khoảng 240.000-300.000MW công suất điện, sản lượng điện quốc gia đạt từ 450-500 tỷ kWh. Hiện Việt Nam mới có chưa đầy 47.000MW công suất và sản lượng điện chưa đầy 200 tỷ kWh. Theo kế hoạch phát triển năng lượng đến 2030, Việt Nam sẽ phải sản xuất 55GW (55 tỷ kW) điện từ các nhà máy nhiệt điện. Điều này có nghĩa là ít nhất trong 20 năm tới, nhiệt điện vẫn là nguồn cung năng lượng trọng yếu của đất nước. Như vậy, sự lệ thuộc vào nguồn than nhập khẩu (chủ yếu từ Trung Quốc) và gánh nặng tài chính khổng lồ cho nhập khẩu là rất lớn. Với mức trung bình 10 triệu tấn than phải nhập khẩu mỗi năm, những rủi ro về môi trường, thất thoát nguồn ngoại tệ và lệ thuộc an ninh năng lượng là nguy hiểm hơn những gì mà những con số thống kê đang phản ánh.
Việt Nam hiện nay đang được xếp là nước tiêu thụ than đá cho sản xuất điện lớn thứ 20 thế giới. Nhưng với kế hoạch đạt 55GW cùng với hàng loạt dự án xây mới nhà máy nhiệt điện đến 2030, Việt Nam sẽ vươn lên là nước tiêu thụ than lớn thứ 8, bằng với mức tiêu thụ của Nga và Indonesia cộng lại mặc dù dân số Việt Nam lúc đó dự tính chỉ bằng 2/3 của Nga và 1/3 của Indonesia.
Một thách thức nữa cho chính sách an ninh năng lượng của Việt Nam đến từ giải pháp nhập khẩu thủy điện. Việt Nam vừa là quốc gia ở thượng nguồn trong lưu vực 3S (Sesan-Serepok-Sekong) hưởng lợi từ phát triển thủy điện nhưng cũng vừa là hạ nguồn của dòng chính Mê Công, phải chịu tác động của việc xây dựng thủy điện thiếu bền vững trên thượng nguồn. Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ sẽ đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nhập khẩu điện lớn nhất của khu vực. Điều này sẽ tạo động lực thúc đẩy xây dựng các đập thủy điện trên sông Mê Công với tốc độ nhanh chóng. Hệ lụy trước mắt và lâu dài chính là các tác động xuyên biên giới của các công trình này tới an ninh lương thực và lượng trầm tích giàu dinh dưỡng vốn rất cần thiết cho vùng châu thổ sông Mê Công (Việt Nam và Campuchia).
Các phân tích này cho thấy tình cảnh “tiến thoái lưỡng nan” mà Việt Nam phải đối mặt trong khi vừa phải chấp nhận theo đuổi chính sách phát triển năng lượng thiếu bền vững vừa nỗ lực ứng phó các nguy cơ bất ổn về môi trường và xã hội để đảm bảo phát triển bền vững. Rõ ràng, Việt Nam cần một cách tiếp cận mới để có thể tối ưu hóa mối liên hệ đánh đổi giữa năng lượng, an ninh môi trường, lương thực và bảo vệ được tính bền vững trong mục tiêu phát triển. Việc bổ sung, đa dạng hóa nguồn năng lượng sơ cấp, trong đó có năng lượng tái tạo, là cần thiết để phục vụ phát triển bền vững, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra.
Trong tương lai, đến năm 2030, tiềm năng thủy điện lớn của Việt Nam sẽ được khai thác hết. Trong khi đó, tiêu hao năng lượng cho một đơn vị sản phẩm trong nhiều ngành công nghiệp của Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Từ một nước xuất khẩu năng lượng, Việt Nam phải nhập khẩu năng lượng, khiến nền kinh tế giảm năng lực cạnh tranh và tụt hậu so với các nước trong khu vực. Mặc dù mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo đã được Chính phủ đề ra cách đây hơn 10 năm, nhưng đến nay phát triển rất chậm. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam sẽ buộc phải đẩy cao tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu công nghiệp năng lượng quốc gia bởi mức độ ô nhiễm ngày càng lớn từ nhiệt điện và quan trọng hơn là nguồn dầu khí khai thác ngoài khơi ngày một khó khăn do diễn biến tranh chấp ở Biển Đông.
Theo bản đồ phân bố tiềm năng các nguồn năng lượng tái tạo thế giới, Việt Nam nằm ở khu vực có tiềm năng trung bình về nước sông, nắng, gió, sóng, triều, nhiệt (dưới đất và dưới biển) - nghĩa là có thể khai thác hiệu quả, nhưng phải lựa chọn thận trọng công nghệ phù hợp và quy hoạch hợp lý. Nghiên cứu, khai thác và sử dụng các dạng năng lượng tái tạo ở nước ta gần 30 năm qua chủ yếu tập trung vào thủy điện. Các dạng năng lượng khác chưa nghiên cứu đánh giá tiềm năng đầy đủ, cũng như chưa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ, đầu tư đúng mức.
Các tham vấn độc lập gần đây của các chuyên gia từ Trung tâm Stimson và Phòng thương mại Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh (AMCHAM, 2015) đều chỉ ra rằng, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo là một chìa khóa chính sách đáng giá để giúp Việt Nam đảm bảo nguồn cung năng lượng bền vững. Thực tế, Việt Nam có bức xạ mặt trời vào loại cao trên thế giới và có tiềm năng to lớn về năng lượng gió dọc bờ biển Trung - Nam. Tiềm năng đáng kể về năng lượng gió và mặt trời ở các vùng núi và ven biển của Việt Nam đã được đánh giá và ghi nhận thuộc nhóm dẫn đầu ở khu vực. Theo kết quả đánh giá của Chương trình Năng lượng châu Á do Ngân hàng Thế giới thực hiện năm 2016, ước tính tiềm năng gió của Việt Nam (trên độ cao 65 mét) đạt 513.360 MW, lớn hơn 200 lần công suất nhà máy thủy điện Sơn La và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển năng lượng mới và năng lượng tái tạo.Tuy nhiên, hiện số lượng dự án “điện sạch” được triển khai là rất hạn chế. Trong khi đó, nhiều thách thức đã được chỉ ra cho thấy viễn cảnh đầy khó khăn cho phát triển nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam.
Việt Nam đã đưa ra “Chiến lược Phát triển năng lượng quốc gia” đến năm 2020, tầm nhìn 2050 (19/12/2007)
[1] mặc dù vấn đề thực hiện còn nhiều hạn chế do phụ thuộc vào nhiều nhân tố, nhưng nhìn chung với chiến lược kể trên, tương lai Việt Nam có nhiều cơ hội để mở rộng hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, khai thác, sử dụng và sản xuất năng lượng với các quốc gia, tổ chức khu vực và trên thế giới.
Trong khi thị trường năng lượng tái tạo của nước ta còn nhỏ và mới ở giai đoạn sơ khai. Để đạt thực hiện chiến lược này, Chính phủ Việt Nam cần phải có các chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo phát triển nhằm hiện thực hóa các mục tiêu. Do đó, việc học hỏi kinh nghiệm chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo tại Ấn Độ là hết sức cần thiết, từ nghiên cứu ở trên có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
- Điều kiện tiên quyết để năng lượng tái tạo phát triển thành công là có sự ủng hộ chính trị mạnh mẽ của nhà nước và cam kết hỗ trợ dài hạn tạo sự ổn định và tin tưởng chocác nhà đầu tư. Các kế hoạch dài hạn này cũng là căn cứ để xây dựng hoàn thiện khung chính sách và luật pháp hỗ trợ sự phát triển của năng lượng tái tạo, hướng tới phát triển bền vững nền kinh tế và khuyến khích đầu tư mạnh mẽ vào năng lượng tái tạo. Việt Nam cần đặc biệt chú trọng ưu tiên nghiên cứu, phát triển và quản lý là nguồn năng lượng gió, mặt trời, sóng biển, thủy triều, thủy điện nhỏ và sinh khối.
- Sớm xây dựng Luật Năng lượng tái tạo Việt Nam để tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở pháp lý và chính sách phát triển năng lượng tái tạo. Xây dựng chính sách và biện pháp khuyến khích thích hợp để khuyến khích các nhà phát triển chuyển đổi từ cơ chế dựa trên đầu tư sang chế độ ưu đãi dựa trên sản xuất, để các nhà máy thực sự tập trung vào vận hành và sản xuất điện. Việc này giúp tránh được chạy theo thành tích công suất lắp đặt mà chưa chắc đem lại hiệu quả về vận hành và thực phát của các địa phương.
 - Xây dựng Quỹ năng lượng mới và tái tạo từ nguồn thuế thu từ các nguồn  năng lượng hóa thạch tại Việt Nam hiện nay. Chính sách này sẽ giúp Việt Nam có thêm nguồn vốn đầu tư đáng kể cho nghiên cứu và phát triển các công nghệ năng lượng mới và tái tạo, tài trợ cho các dự án đầu tư mới và làm tăng khả năng cạnh tranh. Nhà nước cần phối hợp với các chuyên gia năng lượng tái tạo và các nhóm đầu tư tư nhân độc lập chỉnh sửa và công bố chính sách về năng lượng tái tạo cũng như các quy định liên quan để tạo thuận lợi cho việc thu hút có hiệu quả nguồn vốn tư nhân.
- Việt Nam cần xác định các biện pháp cụ thể để thực hiện chiến lược và đạt được các mục tiêu, cần nhiều công cụ chính sách khác nhau để thúc đẩy, hỗ trợ việc phát triển năng lượng tái tạo. Trong số đó có: mức trợ giá, nghĩa vụ năng lượng tái tạo, giao dịch chứng chỉ, các khoản miễn thuế, miễn thuế nhập khẩu, ưu đãi cho vay,  nghĩa  vụ  nhiên  liệu  sinh  học,...  từ  đó hoàn thiện hơn bộ công cụ chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo của Việt Nam.
- Chính phủ hiện chưa có chính sách tổng thể và rõ ràng cho phát triển năng lượng sạch. Đây là rào cản dẫn đến thiếu hụt quyết tâm chính trị và thu hẹp cơ hội cho các nhà đầu tư muốn dấn thân vào lĩnh vực này. Vì vậy, Chính phủ cần xây dựng một lộ trình tiếp cận cụ thể và minh bạch để làm thước đo và cơ sở cho phát triển nguồn năng lượng này.
Mặc dù còn nhiều tồn tại hạn chế, song những năm gần đây, việc phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể.
Nhằm khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời ở Việt Nam
[2], trong đó có ưu đãi về vốn và thuế; ưu đãi về đất cũng như giá bán điện (9,35 UScents/kWh). Chính cơ chế này đã tạo nên một “làn sóng” đầu tư vào các dự án điện mặt trời trong thời gian qua. Trong đó có các công ty lớn của Ấn Độ như Tata Power, Adani Energy, Hero Future Energy, KCP Group,… đã đầu tư vào các lĩnh vực điện, đặc biệt là năng lượng tái tạo - năng lượng mặt trời, gió tại Việt Nam.
Số liệu của Bộ Công Thương cho thấy, tính đến ngày 18/6/2018, cả nước đã có 100 dự án điện mặt trời quy mô lớn được bổ sung vào quy hoạch điện cấp tỉnh/quốc gia. Riêng dự án điện mặt trời lắp mái là khoảng gần 750 dự án với tổng công suất 11,55 MWp. Và mới đây, ngày 27/4/2019, tổ hợp năng lượng tái tạo điện mặt trời và điện gió của Việt Nam đã khánh thành tại huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận do Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Trung Nam (Trung Nam Group) làm chủ đầu tư. Đây là tổ hợp năng lượng tái tạo đầu tiên của Việt Nam hòa lưới điện trong năm 2019. Dự án có tổng vốn đầu tư 10.000 tỷ đồng và tổng sản lượng khai thác lên đến 1 tỷ KWh điện mỗi năm. Theo đó, tổ hợp gồm trang trại điện gió với tổng vốn đầu tư 4.000 tỷ đồng và trang trại điện mặt trời với tổng vốn đầu tư 6.000 tỷ đồng. Nguồn điện khai thác được đấu nối trực tiếp hệ thống điện quốc gia qua Trạm biến áp 220KV Tháp Chàm. Tổ hợp dự án năng lượng tái tạo của Trung Nam Group đã góp phần vào việc chung tay bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, hỗ trợ an ninh năng lượng quốc gia, xây dựng nguồn năng lượng bền vững cho tương tai đất nước.  Đây cũng là một trong những minh chứng Việt Nam cam kết với quốc tế về phát triển năng lượng sạch./.
 
* Viện Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 
[1] http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-1855-QD-TTg-chien-luoc-phat-trien-nang-luong-quoc-gia-Viet-Nam-den-nam-2020-tam-nhin-2050-vb61256t17.aspx
[2] https://thukyluat.vn/vb/quyet-dinh-11-2017-qd-ttg-co-che-khuyen-khich-phat-trien-du-an-dien-mat-troi-tai-viet-nam-5473f.html

Bình luận của bạn