cis_banner_final_en.png
Ý nghĩa chiến lược của hợp tác năng lượng Việt Nam - Ấn Độ

02/07/2019


Ý nghĩa chiến lược của hợp tác năng lượng Việt Nam - Ấn Độ



Đại sứ, TS Tôn Sinh Thành*
 
Tóm tắt
Việt Nam và Ấn Độ là hai quốc gia có tốc độ tăng trưởng thuộc loại cao nhất trên thế giới, đồng nghĩa với việc nhu cầu năng lượng của cả hai quốc gia đều tăng nhanh. Hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Ấn Độ là một trong những lĩnh vực hợp tác hiệu quả nhất, không chỉ đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu an ninh năng lượng của hai nước, mà còn có ý nghĩa chiến lược to lớn, góp phần quan trọng vào việc triển khai mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước và đóng góp vào sự cân bằng chiến lược cũng như hòa bình ổn định trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Abstract
Vietnam and India are among the global fastest growing economies; consequently, the demands for energies of the two countries are increasing rapidly. Cooperation in energy between Vietnam and India is one of the most effective fields of cooperation. It does not only contribute to the energy security but also has the great strategic implications, contributes to the comprehensive strategic partnership of the two countries, and to the strategic balance, peace and stability in Indo-Pacific. 
*******
 
Đặt vấn đề
Vấn đề năng lượng và hợp tác năng lượng luôn mang ý nghĩa chiến lược. An ninh năng lượng là yêu cầu của tất cả các quốc gia và cũng là một vấn đề lớn trong quan hệ quốc tế trong thời đại hiện nay. An ninh năng lượng quyết định sự phát triển, thậm chí sự sống còn của các quốc gia. Các quốc gia đấu tranh và hợp tác với nhau cũng vì năng lượng và bằng công cụ năng lượng. Cục diện thế giới, tương quan lực lượng thế giới đã từng thay đổi do những tác động của giá dầu những năm 70 của thế kỷ trước. Sự biến động của giá dầu trong những năm gần đây cũng có những tác động mạnh tới kinh tế thế giới cũng như cục diện thế giới nói chung.
Việt Nam và Ấn Độ là hai quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc nhu cầu năng lượng của cả hai quốc gia đều tăng nhanh. Hợp tác để đáp ứng nhu cầu đó rõ ràng là một yêu cầu tất yếu của hai nước. Nhưng hợp tác năng lượng giữa hai nước còn có những ý nghĩa chiến lược vượt ra ngoài yêu cầu kinh tế thuần túy. Trước khi đi sâu xem xét kỹ ý nghĩa chiến lược này của hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Ấn Độ, bài viết này sẽ đánh giá khai quát về nhu cầu năng lượng của Việt Nam và Ấn Độ và sự hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực này.
Nhu cầu năng lượng của Việt Nam và Ấn Độ
Điều không khó nhận thấy là kể từ khi đổi mới tại Việt Nam năm 1986 và cải cách tại Ấn Độ từ 1991 đến nay, kinh tế Việt Nam và Ấn Độ tăng trưởng liên tục từ 6-8%, khiến cho quy mô của cả hai nền kinh tế với mở rộng rất nhanh chóng. Để duy trì tốc độ tăng trưởng đó, cả Việt Nam và Ấn Độ đều đã phải nỗ lực gấp đôi trong việc đảm bảo năng lượng.
Việt Nam
Trong những năm trước đây, Việt Nam chủ yếu dựa vào than. Việt Nam đã từng khai thác than cung cấp đủ cho nhu cầu của sản xuất và đời sống, thậm chí còn xuất khẩu, có năm lên đến 20 triệu tấn. Tuy nhiên, nguồn than dự trữ là có hạn, hơn nữa điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, nên sản lượng than khai thác than giảm đi nhanh chóng và cho đến nay Việt Nam đã phải nhập khẩu than mới đáp ứng được nhu cầu. Kể từ năm 1986, Việt Nam tập trung vào việc khai thác dầu và khí đốt, sản lượng khai thác dầu đạt mức đỉnh với sản lượng trên 20 triệu tấn/năm vào năm 2004, hiện nay sản lượng khai thác dầu trong nước chỉ đạt mức 15 triệu tấn/năm. Ban đầu, phần lớn dầu thô khai thác được phải xuất khẩu, trong khi Việt Nam lại phải nhập xăng dầu cho nhu cầu trong nước. Nhưng kể từ khi Việt Nam đưa vào vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đầu tiên từ tháng 5/2010, sản xuất được trên 30% nhu cầu xăng dầu, góp phần cung cấp ổn định nhu cầu xăng dầu cho kinh tế và quốc phòng, đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước. Trong thời gian tới, các dự án lọc dầu mới như Nghi Sơn và Tổ hợp hóa dầu miền Nam đi vào vận hành có thể đáp ứng được 100% nhu cầu trong nước và có xuất khẩu. Bên cạnh đó, Việt Nam bắt đầu khai thác khí thiên nhiên từ năm 1995 với sản lượng rất lớn, tạo nguồn cung sản xuất ra lượng điện trên 39 tỷ kWh/năm (chiếm 33% sản lượng điện toàn quốc). Tóm lại, Việt Nam đã trở thành một trong các quốc gia sản xuất dầu mỏ trên thế giới và là nước đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á về khai thác dầu khí, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế trong nước và đảm bảo hơn vấn đề an ninh năng lượng quốc gia. Dầu khí là ngành đóng góp trên 10% ngân sách  và khoảng 20 - 26% GDP.
Tuy nhiên, tỷ lệ giữa nhu cầu sử dụng năng lượng so với mức tăng trưởng GDP của Việt Nam cao gấp khoảng 2 lần, trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ này dưới 1. Tiêu hao năng lượng trong công nghiệp của Việt Nam gấp 1,5 - 1,7 lần so với các nước cùng trong  khu vực Đông Nam Á. Với mức tăng này, trong tương lai, việc đáp ứng nhu cầu về năng lượng là một thách thức lớn. Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt năng lượng và có thể sẽ trở thành nước nhập khẩu năng lượng.
Để đáp ứng nhu cầu năng lượng tăng nhanh, Việt Nam đang cố gắng tăng sản lượng dầu khí, mở rộng phạm vi hoạt động tiến hành tìm kiếm và khai thác các lô mới với sự giúp đỡ, hợp tác với các công ty nước ngoài. Tuy nhiên, trong những năm tới, nguồn than và dầu khí khai thác khó gia tăng, nên Việt Nam cũng cần phát triển các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời.
Ấn Độ
Tăng trưởng nhanh những năm qua đã đưa Ấn Độ trở thành nước có nhu cầu sử dụng năng lượng xếp thứ tư trên thế giới sau Mỹ, Trung Quốc và Nga. Dầu mỏ đã trở thành một nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến nền kinh tế của Ấn Độ. Theo tính toán của Chính phủ Ấn Độ, nếu GDP của Ấn Độ tăng 1% thì nhu cầu dầu mỏ của nước này phải tăng 3%. Theo tính toán của Viện Nghiên cứu năng lượng Tata (TERI), Ấn Độ phải nhập khẩu 1,5 triệu thùng dầu một ngày. Lượng dầu phải nhập khẩu hiện vào khoảng 75%.  Dự đoán, nhu cầu về năng lượng của Ấn Độ sẽ tăng gấp 5 lần vào năm 2030 so với hiện nay
[1]. Để đảm bảo an ninh năng lượng, Ấn Độ, một mặt, tích cực triển khai công tác thăm dò, khai thác dầu khí trong nước. Mặt khác, Ấn Độ cũng đa dạng hóa các nguồn cung cấp bên cạnh việc coi các nước Trung Đông là những bạn hàng truyền thống. Do bất ổn chính trị ở Trung Đông và áp lực của Mỹ yêu cầu Ấn Độ ngừng nhập khẩu năng lượng từ Iran, Ấn độ đã buộc phải đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng và hướng về phía Đông.
Ấn Độ quan tâm tới khu vực Biển Đông vì đây được đánh giá là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất trên thế giới. Theo báo cáo công bố 7/2/2013 của Cục Quản lý thông tin năng lượng Mỹ (EIA), Biển Đông nắm giữ trữ lượng khoảng 11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn tỷ feet khối khí
[2]. Việt Nam được xem là một nước có dự trữ dầu khí khoảng từ 3,8 tỷ tấn đến 4,2 tỷ tấn quy đổi (TOE) trong đó trữ lượng đã được xác định khoảng 60%. Chỉ tính riêng khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc về trữ lượng dầu. Với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên như vậy, Việt Nam có rất nhiều cơ hội để hợp tác phát triển kinh tế với các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng dầu khí.
Hợp tác năng lượng Việt Nam - Ấn Độ
Ấn Độ bắt đầu hợp tác năng lượng với Việt Nam ngay từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới, mở cửa. Cụ thể là Công ty Dầu khí quốc tế OVL (ONGC Videsh Ltd) đã thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam vào năm 1988 và lấy tên là Hydrocacbons India Private Limited. Từ đầu năm 1992, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Ấn Độ ONGC đóng góp 45% tương đương 228 triệu USD, vào một Hợp đồng liên doanh khai thác dầu với BP và PetroVietnam tại các mỏ Lan Tây và Lan Đỗ nằm tại Lô số 06.1 ở phía cực Nam của Việt Nam. Tháng 11/2002, mỏ Lan Tây bắt  đầu được khai thác và mỗi năm cung cấp 247 tỷ m3 khí. Cả Việt Nam và Ấn Độ đều đánh giá cao hiệu quả của dự án này. Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, Việt Nam tiêu thụ gần ¼ sản lượng dầu khí của OVL, bao gồm 5,5 triệu tấn dầu và 3,3 tỷ mét khối khí trong giai đoạn 2014 - 2015
[3].
ONGC đã  quyết định mở rộng đầu tư tại Việt Nam bằng việc mua lại 35% cổ phần của BP tại mỏ khí đốt Nam Côn Sơn trị giá 1,3 tỷ USD
[4]. ONGC cũng đang cùng với các đối tác tích cực triển khai hoạt động phát triển mỏ Phong Lan Dại (PLD), đưa vào khai thác từ Quý 4 năm 2018.
Ngoài 3 lô dầu khí các doanh nghiệp Ấn Độ đang khai thác, năm 2006, ONGC cũng đã trúng thầu thăm dò và khai thác hai lô 127 và 128 ở bồn trũng Phú Khánh, xa hơn về phía Bắc. Tuy nhiên, ONGC Videsh đã bỏ lô 127 vì không tìm thấy nhiều dầu khí, nhưng vẫn tiếp tục thăm dò tại lô 128.
Về mặt thương mại, Việt Nam không phải là nguồn cung cấp dầu cho Ấn Độ vì dầu thô của Việt Nam có thành phần mà các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ không xử lý được. Tuy nhiên, việc Việt Nam cung cấp khí đốt cho Ấn Độ cũng có thể được tính đến nếu một mạng lưới ống dẫn khí được xây dựng. Ấn Độ cũng có thể tính tới việc đầu tư một nhà máy khí hóa lỏng tại Việt Nam và vận chuyển về Ấn Độ. Bên cạnh đó, Tổng công ty Dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) hiện đang tham gia xây dựng các giàn khai thác cho một dự án của ONGC tại Ấn Độ. Ngoài ra, nhiều công ty năng lượng của Ấn Độ cũng đang rất quan tâm đến lĩnh vực năng lượng khác tại Việt Nam như điện, năng lượng tái tạo,… 
Ý nghĩa chiến lược của hợp tác năng lượng Việt-Ấn
Trước nguy cơ dầu mỏ đang ngày càng cạn kiệt và khan hiếm, chưa có một nguồn năng lượng nào có thể sinh ra đủ để đáp ứng hết nhu cầu sử dụng của thế giới, năng lượng đã trở thành mối lo ngại, mối quan tâm đặc biệt quan trọng, hàng đầu của mọi quốc gia trong đó có Ấn Độ. Ấn Độ đã có những đầu tư đáng kể vào ngành dầu khí Việt Nam. Dù đã có hơn 30 năm phát triển nhưng ngành dầu khí Việt Nam vẫn cần rất nhiều vốn nên vẫn cần phải thu hút đầu tư của nước ngoài đặc biệt là Ấn Độ - một đối tác lâu đời của Việt Nam. Đối với Ấn Độ, tuy nguồn năng lượng dầu khí ở Biển Đông không hoàn toàn có thể cung cấp được hết cho nhu cầu sử dụng năng lượng của Ấn Độ nhưng vẫn là sự lựa chọn ưu tiên để giải quyết các vấn đề thiếu hụt và an ninh năng lượng của nước này.
Hợp tác năng lượng giữa hai nước có ý nghĩa vượt xa những lợi ích năng lượng thuần túy. Hợp tác tìm kiếm và khai thác dầu khí là một yếu tố quan trọng hàng đầu giúp gắn kết chặt chẽ hơn mối quan hệ giữa Việt Nam và đất nước Ấn Độ. Đây không chỉ được coi là một phần rất quan trọng mà còn là mũi nhọn trong hợp tác kinh tế giữa hai nước. Đầu tư của Ấn Độ đạt khoảng 1 tỷ USD với hơn 130 dự án, trong đó trong đó đầu tư trong ngành dầu khí chiếm một phần quan trọng. Học giả Rajiv Bhatia, Giám đốc Hội đồng các vấn đề quốc tế Ấn Độ (ICWA) cho rằng, hợp tác năng lượng là trụ cột thứ ba trong quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Ấn Độ và Việt Nam. Hợp tác năng lượng Việt - Ấn ở Biển Đông được dẫn đường bởi những tính toán lâu dài về thương mại và an ninh năng lượng chứ không hẳn liên quan đến vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Các xu hướng tích cực trong quan hệ song phương xuất phát mong muốn của cả Ấn Độ và Việt Nam về một môi trường Đông Á hòa bình và ổn định
[5].
Ý kiến trên đây của Rajiv Bhatia cho thấy phần nào ý nghĩa chiến lược của hợp tác năng lượng giữa hai nước. Thực tế, hợp tác Việt Nam - Ấn Độ trong các hoạt động tìm kiếm năng lượng dầu khí là một phần quan trọng của việc triển khai mối quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ.  Ý nghĩa chiến lược của sự hợp tác này là ở chỗ nó đóng góp vào hòa bình ổn định trong khu vực Biển Đông nói riêng và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương nói chung.
Những biến động gần đây trên thế giới và trong khu vực, trong đó có sự nổi lên của Trung Quốc, nhất là việc Trung Quốc triển khai Kế hoạch vành đai con đường cùng những hành động của họ ở Biển Đông đang làm mất cân bằng cán cân quyền lực trong khu vực. Trung Quốc không chỉ có ý đồ độc chiếm Biển Đông mà còn mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình xuống Ấn Độ Dương. Trước những biến động đó, việc các nước triển khai chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và việc Ấn Độ triển khai “Chính sách Hành động hướng Đông”, tăng cường quan hệ với Việt Nam và ASEAN, nhất là sự can dự của Ấn Độ về kinh tế và an ninh hàng hải tại Biển Đông sẽ góp phần lập lại thế cân bằng chiến lược khu vực, làm giảm thiểu từ xa những tác động của Trung Quốc vào Ấn Độ Dương.
Vấn  đề lớn nhất là “Đường lưỡi bò” mà Trung Quốc vẽ ra để tuyên bố chủ quyền hầu hết Biển Đông đã chồng lấn lên nhiều vùng Đặc quyền  kinh tế và thêm lục địa của Việt Nam, kể cả một phần của lô 128. Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc theo “Đường lưỡi bò” là hoàn toàn đi ngược lại với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và đã bị Tòa trọng tài thường trực (PCA) năm 2016 bác bỏ, coi đây là một đòi hỏi phi lý, vô giá trị. Do vậy, việc Trung Quốc gây áp lực, cản trở Ấn Độ tham gia các hoạt động hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam tại Biển Đông là việc làm phi pháp. Các dự án hợp tác dầu khí giữa Việt Nam với Ấn Độ, trong đó có các dự án hợp tác tại lô 128, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, hoàn toàn thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, phù hợp với (UNCLOS), phù hợp với tập quán, thực tiễn quốc tế, các thỏa thuận đa phương và song phương mà Việt Nam ký kết. 
Ấn Độ đã khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với khu vực liên quan và khẳng định việc làm của Trung Quốc “không có cơ sở pháp lý”. Đồng thời Ấn Độ cũng đã thể hiện quyết tâm tiếp tục thăm dò lô 128 cũng như các kế hoạch hợp tác khác với Việt Nam trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Biển Đông, coi đây là một lĩnh vực hợp tác quan trọng giữa hai nước và mong muốn việc hợp tác này sẽ ngày càng được đẩy mạnh hơn trong tương lai.
Việc Ấn Độ tiếp tục hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam trên Biển Đông là một bước đi hoàn toàn chính xác. Nó không chỉ đứng về phía lẽ phải, bảo vệ thượng tôn pháp luật quốc tế, khẳng định chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế của mình mà còn góp phần ngăn chặn những đòi hỏi phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông, đặc biệt là những tuyên bố chủ quyền trái với công ước Luật biển 1982. Sự hợp tác đó không những đưa quan hệ ngoại giao hữu nghị Việt Nam và Ấn Độ lên thành đối tác chiến lược mà nó còn khẳng định vị thế của Ấn Độ tại khu vực Biển Đông, là khu vực mà Trung Quốc đang tìm cách độc chiếm.
 
Kết luận
Tóm lại, hợp tác thăm dò khai thác dầu khí nói riêng và hợp tác năng lượng nói chung giữa Việt Nam và Ấn Độ là một trong những lĩnh vực hợp tác hiệu quả nhất, đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu an ninh năng lượng của hai nước. Đồng thời, sự hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực này cũng có ý nghĩa chiến lược to lớn, không chỉ là một phần rất quan trọng của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước mà còn đóng góp vào sự cân bằng chiến lược cũng như hòa bình ổn định trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương./.
 
 
* Nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Ấn Độ .
[1] P.Darpan, Ed., General Studies Indian Economy. Unit of Pratiyogita Drapan publications. 2015: 66
[3] S.D. Muni, Girijesh Pant, “India’s Energy Security: Prospects for Cooperation with Extended Neighbourhood”, Observer Research Foundation, Rupa & Co, New Delhi, 2005.
[4] Suranjan Das, Tridib Chakraborti, Subhadeep Bhattacharya, “Indo-Vietnam Relations in emerging global order”, KW publishers Pvt Ltd, New Delhi, 2018
[5] The Asian Age ngày 1/11/14

Bình luận của bạn