cis_banner_final_en.png
Việt Nam - Ấn Độ: những thách thức và triển vọng hợp tác trong lĩnh vực an ninh năng lượng

01/08/2019


Việt Nam - Ấn Độ: những thách thức và triển vọng hợp tác trong lĩnh vực an ninh năng lượng



ThS Đỗ Thị Hùng Thúy**
PGS, TS Phạm Minh Sơn*
Tóm tắt
Việt Nam và Ấn Độ có quan hệ truyền thống, hữu nghị lâu đời, nay đã được phát triển lên tầm Đối tác Chiến lược toàn diện. Cả hai nước đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn trong lĩnh vực an ninh năng lượng do có dân số đông, tốc độ tăng trưởng nhanh, nhu cầu sử dụng năng lượng không ngừng tăng cao. Tuy nhiên, hai nước cũng đang có nhiều triển vọng hợp tác trong lĩnh vực an ninh năng lượng nhất là phát triển năng lượng nguyên tử và năng lượng tái tạo. Việt Nam là nước đang có yêu cầu đối với việc phát triển năng lượng nguyên tử và có nhiều tiềm năng để phát triển năng lượng tái tạo, trong khi đó Ấn Độ đã hình thành, phát triển ngành năng lượng nguyên tử từ rất sớm và hiện là nước đứng thứ hai trên thế giới về sản xuất năng lượng tái tạo. Đây chính là cơ sở thuận lợi cho phép Việt Nam và Ấn Độ hợp tác chặt chẽ hơn trong lĩnh vực an ninh năng lượng.
*******
1. Đặt vấn đề
Năng lượng được hiểu chung nhất là các nguồn tài nguyên, nhiên liệu cung cấp, phục vụ cho đời sống, sản xuất và các nhu cầu thiết yếu của con người. Năng lượng có được từ hai nguồn: không tái tạo (nguồn carbon hóa thạch như dầu, khí, than đá, năng lượng nguyên tử,…) và năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời, gió, khí sinh học, địa nhiệt, thủy điện nhỏ,…).
Ngày nay, năng lượng là một trong những điều kiện tối kiên quyết của sự sống còn và phát triển của mỗi con người và toàn nhân loại. Ở cấp độ cá nhân, từ những sinh hoạt tối thiểu như ăn, ở đến các hoạt động lao động, vui chơi giải trí của con người đều cần đến năng lượng. Nhờ có năng lượng mà cuộc sống con người ngày càng được nâng cao với nhiều tiện nghi phục vụ cuộc sống. Do vậy, an ninh con người sẽ bị đe doạ nghiêm trọng một khi năng lượng không còn. Ở cấp độ nhà nước, năng lượng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội và cũng là một thành phần quan trọng trong phát triển bền vững. Năng lượng là tiền đề cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Bởi lẽ, sự đảm bảo về năng lượng sẽ giúp cho mọi hoạt động của quốc gia ổn định và phát triển. Còn ngược lại, khi năng lượng có nguy cơ suy giảm thì mọi hoạt động của quốc gia sẽ bị ngừng trệ, dẫn đến nhiều thiệt hại vô cùng nghiêm trọng. Do đó, mỗi quốc gia dù giàu hay nghèo đều coi việc đảm bảo nguồn năng lượng là tiền đề cần thiết cho sự phát triển bền vững của mình.
“An ninh năng lượng chính là việc bảo đảm đầy đủ những nguồn cung cho nhu cầu sản xuất và đời sống và là sự đảm bảo đầy đủ năng lượng dưới nhiều dạng khác nhau, sạch và rẻ”
[1]. Việc đảm bảo an ninh năng lượng đòi hỏi không những phải đáp ứng nguồn năng lượng đầy đủ phục vụ nhu cầu phát triển, mà còn phải đảm bảo cho cơ cấu năng lượng sạch, ít các-bon nhằm hạn chế hiện tượng biến đổi khí hậu. Ngoài ra, đảm bảo an ninh năng lượng còn là đảm bảo việc tiếp cận nguồn năng lượng được thuận tiện và bình đẳng, hiệu suất sử dụng năng lượng cao.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày nay, an ninh năng lượng là một lĩnh vực quan trọng gắn với vấn đề an ninh quốc gia và cũng đang nổi lên như những vấn đề toàn cầu hết sức bức thiết. Trước hết, đó là do vai trò quyết định của an ninh năng lượng đối với an ninh của mỗi cá nhân con người và sự phát triển bền vững của từng quốc gia. An ninh năng lượng hiện đang trở thành một vấn đề toàn cầu còn do việc thực hiện nó mang tính chất xuyên quốc gia, đòi hỏi sự tham gia hợp tác của tất cả các quốc gia trên thế giới. Không một quốc gia nào trên thế giới dù giàu mạnh đến mấy có khả năng tự mình đảm bảo được an ninh năng lượng, mà đều cần có sự hợp tác với các quốc gia khác, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi sự phụ thuộc giữa các quốc gia đang ngày càng gia tăng mạnh mẽ.
2. Những thách thức đối với an ninh năng lượng của Việt Nam và Ấn Độ
Việt Nam và Ấn Độ là hai quốc gia nằm trong khu vực châu Á và có nhiều nét tương đồng. Ấn Độ là quốc gia có vị thế quan trọng ở Nam Á, có dân số đứng thứ hai thế giới, còn Việt Nam là quốc gia có dân số đứng thứ hai và có vai trò quan trọng ở Đông Nam Á. Đồng thời, Việt Nam và Ấn Độ là hai quốc gia đang đứng trước những thách thức lớn đối với vấn đề an ninh năng lượng.
* Những thách thức đối với vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam
Trong những năm qua, ngành năng lượng Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân sinh. Tuy nhiên, trước yêu cầu bảo đảm nhu cầu về năng lượng để duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian dài, nghĩa là phát triển bền vững, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và không ngừng cải thiện đời sống nhân dân,… ngành năng lượng Việt Nam đang đứng trước những thách thức rất lớn.
Tốc độ tăng trưởng nhanh
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh trên thế giới, dẫn đến nhu cầu năng lượng ngày càng tăng. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (năm 2018 đạt mức 7,08%) và liên tục (trung bình 6-6,7%/năm) nhưng “nhu cầu về năng lượng của Việt Nam đã tăng gấp hai lần tốc độ tăng trưởng GDP”
[2] và thuộc nhóm những nước tiêu thụ năng lượng tương đối lớn so với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, cán cân cung cầu năng lượng của Việt Nam bắt đầu dấu hiệu thiếu hụt: năm 2015, khả năng khai thác than đá đáp ứng từ 96%-100% nhu cầu sử dụng nhưng đến năm 2020, khả năng khai thác chỉ đáp ứng được 60%, Việt Nam bắt đầu phải nhập khẩu than đá từ Australia từ năm 2015. Để đáp ứng nhu cầu năng lượng hiện nay, Việt Nam hiện phải nhập 2,4% tổng tiêu thụ năng lượng sẽ tiếp tục tăng khoảng 7-10% cho đến năm 2030. Như vậy, thách thức chủ yếu mà ngành năng lượng Việt Nam đã, đang và sẽ phải đối mặt là nguy cơ thiếu hụt nguồn điện cho phát triển kinh tế đất nước do hạn chế về nguồn cung năng lượng sơ cấp trong nước, dẫn đến sự phụ thuộc ngày càng tăng vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu.
Công nghệ lạc hậu, tài chính hạn hẹp
Hiện nay, Việt Nam chưa có nghiên cứu chính thức nào về đánh giá trình độ công nghệ nói chung và công nghệ năng lượng nói riêng. Tuy vậy, theo ý kiến nhiều chuyên gia, công nghệ năng lượng ở Việt Nam còn khá lạc hậu
[3]. Trong khai thác, sản xuất, chế biến năng lượng chủ yếu sử công nghệ cũ, hiệu suất thấp, giá thành khai thác cao, ô nhiễm. Để khắc phục cho tình trạng trên, đồng thời đáp ứng cho nhu cầu năng lượng tăng cao, đòi hỏi vốn đầu tư cho hạ tầng cơ sở ngành năng lượng lớn. Tuy nhiên, trong bối cảnh nợ công tăng cao và quá trình cổ phần hóa chưa thuận lợi thì đây cũng là một thách thức đối với vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam. Cùng với đó là thách thức về tác động môi trường của các hoạt động cung cấp năng lượng ngày càng gia tăng do nhu cầu năng lượng trong nước tăng nhanh.
Sức ép về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu đang là thách thức lớn cho quá trình phát triển bền vững của tất cả các quốc gia trên thế giới và gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến an ninh năng lượng, làm gia tăng hơn nữa mức độ phụ thuộc năng lượng, dẫn đến những tác động tiêu cực trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo các nghiên cứu quốc tế, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu do có bờ biển dài và nhiều lưu vực sông rộng lớn. Việt Nam nằm trong số 10 nước bị tác động nặng nề nhất trong vòng 20 năm qua và là một trong 6 nước chịu tác động lớn nhất trong 4 năm gần đây
[4]. Với tốc độ tăng trưởng năng lượng khá cao như hiện nay, Việt Nam cần quan tâm, thực thi những giải pháp hữu hiệu để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, giải quyết vấn đề phát triển năng lượng bền vững.
Những thách thức đối với vấn đề an ninh năng lượng của Ấn Độ
Dân số đông
Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ hai thế giới (chỉ sau Trung Quốc), là nơi cư trú của 1/5 dân số thế giới, với 1 tỷ 345 triệu người (2018). Đây chính là nguyên nhân chính khiến Ấn Độ là nước tiêu thụ năng lượng lớn thứ ba thế giới (sau Trung Quốc và Mỹ).
Tốc độ tăng trưởng nhanh
GDP năm 2017 của quốc gia Nam Á này đạt 2.597 tỷ USD. Với dự báo tăng trưởng khoảng 7,3% trong vòng 2 năm tới, Ấn Độ đang là một trong những nền kinh tế mới nổi tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Ngân hàng Thế giới dự báo tốc độ tăng trưởng của Ấn Độ sẽ đạt khoảng 7,5% trong năm 2019-2020. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ấn Độ sẽ thành nền kinh tế lớn thứ tư thế giới vào năm 2022. Còn theo Ngân hàng HSBC, Ấn Độ có thể vượt qua Nhật và Đức để trở thành nền kinh tế thứ ba thế giới trong thập kỷ tới. Dự báo này cũng nhận được đồng tình của hãng tư vấn Price Waterhouse Coopers (PwC)
[5].
Thiếu hụt năng lượng
Là một quốc gia rộng lớn và đông dân, Ấn Độ hiện là nước đứng thứ sáu thế giới về tiêu thụ năng lượng. Từ năm 2012 đến 2017, tình trạng thiếu công suất đỉnh là 11,1% và thiếu hụt năng lượng tổng thể là 8,5%. Đồng thời, nhu cầu về điện sẽ tăng mỗi năm 5,7%
[6]. Điều này đang tạo ra áp lực không nhỏ đối với vấn đề an ninh năng lượng của Ấn Độ.
Khó khăn trong nhập khẩu năng lượng
Là quốc gia nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Ấn Độ nhập khẩu năng lượng chủ yếu thông qua tuyến đường biển đi qua Ấn Độ Dương, eo biển Malacca, Biển Đông và biển Hoa Đông. Tuy nhiên, tuyến đường này vốn có tranh chấp chủ quyền và nhiều khó khăn do vấn nạn cướp biển. Mặt khác, Syria, Iraq, Iran,… là những quốc gia xuất khẩu dầu mỏ lớn lại thường xuyên đối mặt với xung đột, bất ổn chính trị hay bao vây, trừng phạt kinh tế.
3. Triển vọng hợp tác phát triển an ninh năng lượng Việt Nam - Ấn Độ
* Về phía Ấn Độ
Là quốc gia có dân số đông, tốc độ tăng trưởng nhanh và là nước tiêu thụ năng lượng lớn trên thế giới, Ấn Độ đối mặt với tình trạng thiếu hụt năng lượng khá sớm. Tuy nhiên, Chính phủ Ấn Độ cũng đã sớm áp dụng khoa học công nghệ và đã có những biện pháp tối ưu nhằm bảo đảm an ninh năng lượng.
Ấn Độ là quốc gia xây dựng chương trình năng lượng hạt nhân từ những năm 50 của thế kỷ XX. Ngay từ thời điểm mới giành độc lập, Chính phủ Ấn Độ đã dành những ưu tiên hàng đầu cho phát triển năng lượng để phục vụ công nghiệp và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đất nước. Nhà vật lý lý thuyết người Ấn Độ - Homi J. Bhabha đã sớm nhận thấy tiềm năng năng lượng từ chuỗi phản ứng phân hạch hạt nhân và là người đặt mốc khởi đầu cho sự phát triển của năng lượng nguyên tử Ấn Độ. Homi J.Bhabha đã đề xuất ý tưởng về chương trình điện hạt nhân lên Jawaharlal Nehru - Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, và nhận được sự đồng thuận. Đến tháng 4/1948, Ấn Độ thông qua Luật Năng lượng nguyên tử. Tháng 8/1949, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử (nay là Bộ Năng lượng Nguyên tử) Ấn Độ được thành lập và được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng. Tháng 8/1957, Trường Đào tạo năng lượng nguyên tử đi vào hoạt động. Thời gian tiếp theo, Ấn Độ thành lập một loạt tập đoàn cũng như hội đồng năng lượng khác như Tập đoàn Năng lượng nguyên tử (1/1967), Tập đoàn Nhiên liệu hạt nhân (12/1968), Hội đồng điều khiển năng lượng nguyên tử (11/1983)
[7]...
Như vậy, Ấn Độ đã tính đến việc hình thành nền khoa học về nguyên tử nói chung, và khả năng xây dựng các nhà máy điện hạt nhân nói riêng từ rất sớm. Đến nay, Ấn Độ đã trở thành là quốc gia có ngành năng lượng nguyên tử rất phát triển, có nền khoa học công nghệ hạt nhân tiên tiến và có nhiều ứng dụng rộng rãi trong các ngành, đóng góp thực sự cho phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt, hiện nay Ấn Độ đang đẩy mạnh phát triển điện hạt nhân để đảm bảo nguồn cung cấp điện năng ổn định và góp phần chống biến đổi khí hậu. Ấn Độ có thể tự thiết kế, xây dựng và vận hành các nhà máy điện hạt nhân, tự chế tạo lò phản ứng và các thiết bị,… bằng công nghệ bản địa của mình với hiệu suất sử dụng tốt và độ an toàn cao có thể sánh vai với các cường quốc năng lượng nguyên tử trên thế giới.
Những năm gần đây, Ấn Độ tập trung phát triển các nguồn năng lượng xanh, sạch và có tham vọng rất lớn trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Năm 2014, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi công bố mục tiêu 100 gigawatt năng lượng tái tạo vào năm 2022. Năm 2015, mục tiêu này đã được nâng lên thành 175 gigawatt. Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn chưa dừng lại ở đó. Cuối năm 2015, Chính phủ Ấn Độ đặt mục tiêu đến năm 2030, năng lượng phi hóa thạch sẽ chiếm 40% tổng công suất điện
[8]. Trong đó, năng lượng mặt trời là lĩnh vực đang được ưu tiên đầu tư, phát triển và có tiềm năng lớn tại Ấn Độ. Trong năm 2017-2018, Ấn Độ đã trở thành nước lắp đặt năng lượng mặt trời lớn thứ hai thế giới, với tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực này đạt 300%. Ngoài ra, với một hệ thống chính sách ổn định, hợp lý và toàn diện đến năm 2017, Ấn Độ là quốc gia khá thành công và đứng thứ hai trên thế giới (sau Trung Quốc) về sản xuất năng lượng từ các nguồn tái tạo[9] và “là nhà sản xuất các thiết bị công nghệ năng lượng tái tạo toàn cầu cạnh tranh với Mỹ, châu Âu, Trung Quốc”[10].
* Về phía Việt Nam
Trong những năm qua, Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển năng động, với nhịp độ phát triển khá cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ngành năng lượng đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, quá trình phát triển năng lượng đã bộc lộ những yếu kém, bất cập trong việc cung cấp và sử dụng năng lượng, đặc biệt là sử dụng điện kém hiệu quả, lãng phí. Trong đó, những nguyên nhân chủ yếu là: Thứ nhất, do rào cản kỹ thuật: công nghệ lạc hậu, các thiết bị sản xuất cũ kỹ và chậm đổi mới, tỷ lệ hao hụt quá nhiều trong khâu chuyển tải; sự thiếu hiểu biết về tiết kiệm năng lượng, thiếu công cụ đo, thiếu thông tin về công nghệ tiết kiệm năng lượng,... Đây là lý do chủ yếu. Thứ hai, do rào cản kinh tế: thiếu vốn đầu tư, thiếu vốn phát triển công nghệ mới tiết kiệm năng lượng. Thứ ba, do rào cản về thể chế, chính sách: thiếu các chính sách thúc đẩy sử dụng năng lượng theo hướng tiết kiệm, hiệu quả.
Thực hiện giải quyết mối đe dọa từ an ninh năng lượng, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chủ trương rõ ràng và cụ thể. Năm 2010, Quốc hội đã thông qua Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, có chương trình thúc đẩy tăng trưởng xanh,… Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ nhiệm vụ: “Phát triển năng lượng sạch”
[11].
Ngày 25/11/2015, Trong Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại
Quyết định số 2068/QĐ-TTg, Chính phủ Việt Nam nêu hai quan điểm phát triển năng lượng dài hạn, thể hiện sự chú trọng của Chính phủ về an ninh năng lượng, tạo cơ sở cho việc giữ vững an ninh, bảo vệ độc lập, lợi ích quốc gia dân tộc trước mối đe dọa an ninh năng lượng. Theo đó, một trong những giải pháp an ninh năng lượng được cho là quan trọng và phù hợp với Việt Nam được thực hiện là: đa dạng hoá khai thác sử dụng các loại nguồn năng lượng khác nhau, chú trọng phát triển năng lượng tái tạo. Mặc dù năng lượng tái tạo có những đặc điểm hạn chế về tính phụ thuộc thời tiết, giá cả thiết bị cao, khả năng khai thác thiết bị thấp hơn các loại nguồn khác, nhưng Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách khuyến khích mạnh mẽ để dạng năng lượng này ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng thể các nguồn năng lượng.
Việt Nam là quốc gia sở hữu rất nhiều lợi thế về năng lượng gió, năng lượng mặt trời và khí thiên nhiên. Với hơn 3.260 km đường bờ biển (chưa kể các đảo), hơn một triệu km2 thềm lục địa trong vùng đặc quyền kinh tế và điều kiện gió rất thuận lợi. Ngoài ra, các nguồn năng lượng tái tạo từ biển khác như sóng, thủy triều và dòng chảy ở Việt Nam rất phong phú. Đây là những tiềm năng lớn để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, việc đầu tư cho phát triển năng lượng tái tạo tại nước ta vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh sẵn có. Trên phạm vi cả nước mới chỉ phát triển thủy điện nhỏ là chủ yếu (tính đến 2015, tổng công suất thủy điện nhỏ khoảng 2.300 MW), còn các nguồn điện gió, mặt trời, sinh khối không đáng kể (hiện mới chỉ có 159 MW điện gió và một số tổ phát điện sinh khối tại các nhà máy đường
[12].
Trong bối cảnh, thị trường năng lượng tái tạo của Việt Nam còn nhỏ và mới ở giai đoạn sơ khai. Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo, Chính phủ Việt Nam cần có các chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo phát triển, do đó, việc học hỏi kinh nghiệm và chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo của Ấn Độ là hết sức cần thiết. Trong bối cảnh thị trường năng lượng tái tạo của Việt Nam còn nhỏ và mới ở giai đoạn sơ khai, để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo, Chính phủ Việt Nam cần có các chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo phát triển, do đó, việc học hỏi kinh nghiệm và chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo của Ấn Độ là hết sức cần thiết. Thêm vào đó, trong khi Ấn Độ đang đẩy mạnh chính sách “Hành động phía Đông” là điều kiện rất thuận lợi để Ấn Độ tăng cường đầu tư, hợp tác với Việt Nam, trên cơ sở đó thắt chặt hơn nữa quan hệ hợp tác, đầu tư toàn diện,… giữa Việt Nam và Ấn Độ.
Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại nước ta, việc đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển năng lượng tái tạo quốc gia đang được cộng đồng quốc tế, doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng các bên liên quan rất hoan nghênh và hưởng ứng. Trên cơ sở đó, Việt Nam và Ấn Độ đã tích cực trao đổi các định hướng và biện pháp cụ thể để phát triển hợp tác về năng lượng tái tạo, thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực năng lượng tái tạo đi vào chiều sâu, thông qua các hoạt động nghiên cứu khảo sát cụ thể nhu cầu và tiềm năng của Việt Nam. Từ đó, Ấn Độ sẽ cử đoàn sang Việt Nam, xây dựng các chương trình hợp tác, tư vấn kỹ thuật một cách thấu đáo, trọng tâm và trọng điểm. Trong Tuyên bố chung nhân kết thúc chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind ngày 20/11/2018 đã nhấn mạnh: “Việt Nam hoan nghênh và nhất trí tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Ấn Độ đầu tư vào các dự án năng lượng mới và năng lượng tái tạo tại Việt Nam”
[13].
Bên cạnh việc coi trọng phát triển năng lượng tái tạo, Việt Nam cũng ý thức được vai trò của năng lượng hạt nhân “là động lực của việc thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ”
[14]. Trong bối cảnh công nghệ hạt nhân đang được ứng dụng rộng rãi không chỉ trong ngành công nghiệp năng lượng mà còn ở nhiều lĩnh vực khác. Việc ứng dụng các công nghệ này trong quá trình sản xuất đã mang đến giải pháp cho việc đương đầu với những thách thức của quá trình phát triển toàn cầu, như đảm bảo an ninh năng lượng, môi trường, an toàn thực phẩm hay thúc đẩy sự tiến bộ của nền khoa học. Nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của điện hạt nhân đối với sự phát triển của đất nước, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu triển khai Chương trình Điện hạt nhân quốc gia. Bộ Công Thương Việt Nam đã ủy quyền cho Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) thực hiện một số nghiên cứu, cũng như đạt được những bước tiến nhất định nhằm phục vụ mục tiêu sử dụng điện hạt nhân vì mục đích hoà bình vào năm 2020.
Việt Nam và Ấn Độ bắt đầu hợp tác về năng lượng nguyên tử vào năm 1978, từ thỏa thuận song phương nhân dịp Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Ấn Độ. Tháng 3/1986, hai bên đã ký Hiệp định Hợp tác nguyên tử. Từ đó đến nay, hai bên đã tăng cường trao đổi đoàn cùng nhiều hoạt động cụ thể khác. Trong đó phải kể đến Hiệp định khung về Hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình giữa Việt Nam và Ấn Độ được ký kết ngày 9/12/2016. Theo đó, Việt Nam và Ấn Độ đã trao đổi các định hướng hợp tác về năng lượng nguyên tử, trong đó thời gian sắp tới sẽ tập trung thúc đẩy hợp tác trong các hướng chính là Ấn Độ hỗ trợ, hợp tác với Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam trong việc xây dựng Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân. Theo kế hoạch, hai bên sẽ xây dựng lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu mới, triển khai ứng dụng năng lượng nguyên tử trong lĩnh vực y tế (y học hạt nhân), đặc biệt là sản xuất đồng vị phóng xạ và phát triển các phương pháp chữa trị cho bệnh nhân ung thư; ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ trong công nghiệp, nông nghiệp, phục vụ xuất khẩu và đào tạo nguồn nhân lực hạt nhân. Tháng 3/2018, đã ký kết Bản ghi nhớ giữa Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và Trung tâm Năng lượng hạt nhân toàn cầu Ấn Độ, mở đường cho những dự án hợp tác sắp tới hai bên.
4. Kết luận
Việt Nam và Ấn Độ là hai quốc gia nằm trong khu vực châu Á, dân số đông, tốc độ phát triển nhanh và đang chịu những áp lực của vấn đề an ninh năng lượng. Hiện nay hai nước cũng đang có nhiều triển vọng hợp tác trong lĩnh vực an ninh năng lượng, nhất là phát triển năng lượng nguyên tử và năng lượng tái tạo. Việt Nam là nước đang có yêu cầu phát triển năng lượng nguyên tử và có nhiều tiềm năng để phát triển năng lượng tái tạo, trong khi đó Ấn Độ đã hình thành, phát triển ngành năng lượng nguyên tử từ rất sớm và hiện là nước đứng thứ hai trên thế giới về sản xuất năng lượng tái tạo.

Việt Nam và Ấn Độ có mối quan hệ truyền thống, hữu nghị lâu đời, được các thế hệ lãnh đạo hai nước gìn giữ và liên tục phát triển trên tầm cao mới. Tháng 9/2016, nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Ấn Độ Narendra Modi, lãnh đạo hai nước đã nhất trí nâng quan hệ hai nước lên tầm Đối tác Chiến lược toàn diện. Đây cũng chính là điều kiện thuận lợi cho phép hai bên mở rộng và triển khai tất cả các lĩnh vực hợp tác, trong đó có lĩnh vực an ninh năng lượng./.

 
* Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Assoc. Prof. Dr. Pham Minh Son, Deputy Director General, Academy of Journalism and Communication, Ho Chi Minh National Academy of Politics).
** Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (MA. Do Thi Hung Thuy, Researcher, Academy of Journalism and Communication, Ho Chi Minh National Academy of Politics).
[1] Võ Minh Tập (2013), “An ninh năng lượng một số khu vực trên thế giới trong chiến lược toàn cầu”, Tạp chí Năng lượng Việt Nam, http://nangluongvietnam.vn/news/vn/an-ninh-nang-luong-va-moi-truong/an-ninh-nang-luong-mot-so-khu-vuc-tren-the-gioi-trong-chien-luoc-toan-cau.html
[2] Hải Vân (2019), “Nhu cầu năng lượng gấp hai lần tốc độ tăng trưởng GDP”, Tạp chí Nhịp cầu Đầu tư, https://nhipcaudautu.vn/thuong-truong/nhu-cau-nang-luong-gap-hai-lan-toc-do-tang-truong-gdp-3328349/
[3] Bùi Huy Phùng (2016), “Năng lượng bền vững ở Việt Nam: Thách thức và kiến nghị phát triển”, Tạp chí Năng lượng Việt Nam, http://nangluongvietnam.vn/news/vn/nhan-dinh-phan-bien-kien-nghi/phan-bien-kien-nghi/nang-luong-ben-vung-o-viet-nam-thach-thuc-va-kien-nghi-phat-trien.html
[4] Như Tầm (2019), “Việt Nam là quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu”, Báo Đầu tư Online, https://baodautu.vn/viet-nam-la-quoc-gia-chiu-tac-dong-nang-ne-nhat-cua-bien-doi-khi-hau-d94635.html
[5] Hoài Thu (2018), “Ấn Độ vượt Pháp trở thành nền kinh tế lớn thứ sáu thế giới”, Báo Vneconomy, http://vneconomy.vn/an-do-vuot-phap-tro-thanh-nen-kinh-te-lon-thu-6-the-gioi-20180712111021228.htm
[6] Nguyễn Hùng Cường (2015), “Chính sách năng lượng tái tạo của Ấn Độ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí khoa học trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, số 6 (45) 2015.
[7] Nguyễn Văn Lịch (2008), “Năng lượng nguyên tử của Ấn Độ và khả năng hợp tác với Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản (2008), http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-van-de-su-kien/2008/738/Nang-luong-nguyen-tu-cua-An-Do-va-kha-nang-hop-tac.aspx
[8] Hoài Thu (2017), “Chiến lược năng lượng tái tạo đầy tham vọng của Ấn Độ”, Báo điện tử VTV News, https://vtv.vn/cong-nghe/chien-luoc-nang-luong-tai-tao-day-tham-vong-cua-an-do-20170517171238507.htm
[9] Hải Long (2017), “Quốc gia nào đứng đầu thế giới về tiêu thụ năng lượng?”, Tạp chí Năng lượng Việt Nam, http://nangluongvietnam.vn/news/vn/bao-ton-nang-luong/quoc-gia-nao-dung-dau-the-gioi-ve-tieu-thu-nang-luong.html
[10] Nguyễn Hùng Cường, “Chính sách năng lượng tái tạo của Ấn Độ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí khoa học trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, số 6 (45) 2015.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H., tr.78.
[12] Nguyễn Mạnh Hiến (2019), “Năng lượng Việt Nam: Hiện trạng và triển vọng phát triển”, Tạp chí Năng lượng Việt Nam, http://nangluongvietnam.vn/news/vn/nhan-dinh-phan-bien-kien-nghi/nang-luong-viet-nam-hien-trang-va-trien-vong-phat-trien.html
[13] “Tuyên bố chung Việt Nam- Ấn Độ”, Báo Nhân dân điện tử, http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/38305102-tuyen-bo-chung-viet-nam-an-do.html
[14] Nguyễn Thùy Linh (2017), “Vai trò công nghệ hạt nhân trong sự phát triển bền vững”, Tạp chí Năng lượng Việt Nam, http://nangluongvietnam.vn/news/vn/dien-hat-nhan-nang-luong-tai-tao/dien-hat-nhan/vai-tro-cong-nghe-hat-nhan-trong-su-phat-trien-ben-vung.html

Bình luận của bạn