cis_banner_final_en.png
Năng lượng tinh thần, an ninh năng lượng tinh thần, sự giao lưu giữa Việt Nam và Ấn Độ trong lĩnh vực này

05/08/2019


Năng lượng tinh thần, an ninh năng lượng tinh thần, sự giao lưu giữa Việt Nam và Ấn Độ trong lĩnh vực này



GS, TS Nguyễn Hùng Hậu*
Tóm tắt
Năng lượng tinh thần là năng lượng được tạo nên bởi sức mạnh tinh thần, tinh thần tạo ra năng lượng. Năng lượng tinh thần bị tiêu hao khi sử dụng nó; dùng quá tải, nó sẽ kiệt sức và tổn thương; ít dùng thì nó sẽ ù lì và yếu đi. Đức Phật đã phát hiện ra quy luật bảo toàn chuyển hóa năng lượng tinh thần. An ninh năng lượng tinh thần là sự chuyển hóa năng lượng tinh thần theo hướng tích cực. Sự giao lưu giữa Ấn Độ và Việt Nam về năng lượng tinh thần có từ thời Ashoka (thế kỷ II tr.CN). Phật giáo Ấn Độ đã cung cấp cho Việt Nam một năng lượng tinh thần to lớn được bản địa hóa, góp phần cho dân tộc Việt Nam tránh được sự đồng hóa từ phía Bắc; cung cấp cho con người Việt Nam tinh thần “Vô bố úy” trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược; một số nhà sư đã trở thành những cố vấn về an ninh năng lượng tinh thần cho các vị quân vương; luật nhân quả mang một năng lượng tinh thần quan trọng quy định lối sống, cách ứng xử của người Việt Nam; hướng tới cái tâm thiện là một dạng năng lượng tinh thần vô giá mà Phật giáo đã cung tiến cho người Việt Nam; giới, định, tuệ là cách bồi bổ năng lượng tinh thần, đồng thời cũng là cách hay về an ninh năng lượng tinh thần; cung cấp bức thông điệp: quản lý cao nhất là quản lý được cái tâm, cái tinh thần, phát huy năng lượng tinh thần theo hướng tích cực của con người.
*******
 
1. Năng lượng tinh thần
Đã từ lâu người ta nhận biết rằng sức mạnh của chúng ta không chỉ nằm ở phần thể lực, mà phụ thuộc rất nhiều vào tinh thần. Thậm chí, một khi tinh thần đã sa sút, dù cho thể lực có mạnh mẽ đến đâu người ta cũng tự cảm thấy yếu đuối và chẳng làm được gì. Điều này không chỉ các nhà tư tưởng phương Đông như Khổng Tử, Mạnh Tử, Đức Phật; mà cả các nhà tư tưởng phương Tây đã nhìn ra. Như vậy, năng lượng sống của mỗi chúng ta không chỉ được tạo nên bởi năng lượng vật chất, năng lượng cơ thể, năng lượng vật lý, mà còn được tạo nên bởi năng lượng tinh thần, năng lượng tâm lý. Khác với năng lượng tinh thần, năng lượng vật chất được tạo nên bởi các hiện tượng tự nhiên bao quanh chúng ta như năng lượng mặt trời, năng lượng than đá, năng lượng gió, năng lượng dầu mỏ, năng lượng nhiên liệu sinh khối, năng lượng thủy điện, năng lượng đại dương,  năng lượng, hạt nhân, năng lượng pin nhiên liệu, năng lượng phản vật chất, năng lượng sóng biển, năng lượng thủy triều, năng lượng dòng chảy, năng lượng địa nhiệt, năng lượng từ rong biển, năng lượng từ tuyết, năng lượng men sinh học, năng lượng dầu thực vật phế thải, năng lượng khí metan, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh, …Thậm chí cả năng lượng cơ thể. Còn năng lượng tinh thần là năng lượng được tạo nên bởi sức mạnh tinh thần, hay nói cách khác, tinh thần tạo ra năng lượng. Chẳng hạn, tinh thần đoàn kết, tinh thần dân tộc, và hiện nay là tinh thần khởi nghiệp, …. Trong cuộc sống hàng ngày, ý thức cũng vô cùng quan trong, như ý thức pháp luật, ý thức đạo đức, ý thức giao thông, ý thức bảo vệ Tổ quốc, ... Thậm chí, tư duy cũng có vai trò không kém, như tư duy chính trị, tư duy kinh tế, tư duy đối ngoại, … Trong cuộc sống cá nhân mỗi người, ý nghĩ cũng tạo nên năng lượng. Khi người ta nghĩ nhiều quá cơ thể nóng lên. Khi thất tình trong yêu đương, cơ thể trở nên tiều tụy. Khi buồn chán, người ta không thiết làm bất cứ điều gì. Khi ghen tuông, thù hận, người ta có thể làm những chuyện hết sức điền rồ. Giận lên mà phát cơn điên; người khôn hóa dại, người hiền hóa ngu. Có một nhà quân sự bị vây thành, chỉ sau một đêm suy nghĩ, sáng hôm sau, đầu tóc đã bạc phơ. … v.v và v.v. Khi một người mang năng lượng tinh thần tiêu cực và mất quân bình thì hệ thống miễn dịch cũng bị suy giảm. Theo nghiên cứu y khoa, khoảng 70%- 90% các chứng bệnh lý thuộc về thể chất có nguồn gốc từ tinh thần.
2. An ninh năng lượng tinh thần
Năng lượng tinh thần thể hiện ở rất nhiều dạng, vô cùng phong phú, như ý chí, nguyện vọng, ước vọng, lòng ham muốn, mong muốn, sự cảm thông, lòng yêu thương, lòng ghen tức, sự giận giữ, nỗi đau buồn, lòng thù hận, buồn chán, …Ý chí càng mãnh liệt, mục tiêu càng dễ đạt được. “Quyết chí ắt làm nên”. Nguyện vọng, mong muốn, lòng ham muốn càng cháy bỏng càng dễ đi đến đích. Lòng yêu thương có thể cảm hóa được con người. Năng lượng tinh thần không thể xuất hiện và biến đi ngay lập tức. Khi chúng ta muốn quên đi một nỗi đau, hoặc dập tắt một cơn giận dữ... thường thì chúng ta luôn luôn thất bại. Cũng giống như bất kỳ một loại năng lượng nào khác, năng lượng tinh thần được con người sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, và chúng có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Đây là quy luật bảo toàn chuyển hóa tinh thần mà Đức Phật đã phát hiện ra. Trong chiến tranh, chúng ta thường nghe khẩu hiệu: “Biến đau thương thành hành động.” Đó cũng là một cách chuyển hóa. Người ta không thể tự nhiên quên đi nỗi đau, nhưng họ có thể chuyển hóa nó thành sự căm thù, giận dữ. Để có được cuộc sống hạnh phúc, điều quan trọng là chúng ta cần học biết chuyển hóa những nguồn năng lượng tinh thần theo một cách tích cực, mang lại sự yên vui, thanh thản cho tâm hồn ta. Qua đó, chúng ta có thể tạm phân chia năng lượng tinh thần thành hai nhóm: nhóm năng lượng tích cực góp phần thúc đẩy cuộc sống yên vui, hạnh phúc, chẳng hạn như lòng yêu thương, sự cảm thông... ; nhóm năng lượng tiêu cực góp phần thúc đẩy con người theo chiều hướng ngược lại, nghĩa là dẫn đến sự khổ đau, buồn chán, chẳng hạn như lòng thù hận, sự giận dữ... Việc phân chia này chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện qua cảm nhận của riêng mình, bằng vào sự hiểu biết, nhận thức của chính chúng ta; từ đó tạo ra sẽ sự chuyển hóa năng lượng tiêu cực trở thành tích cực.
Khi ta tức giận ai đó, ta cảm thấy sự thôi thúc phải làm một điều gì đó để giải tỏa sự tức giận. Ta bị cuốn hút về đối tượng đã gây nên sự tức giận của ta, và cảm thấy bị thôi thúc phải nói hoặc làm bất cứ điều gì để gây thương tổn cho người ấy. Sự thôi thúc ấy làm ta bị nung nấu trong đau khổ và cho rằng chỉ khi nào ta làm được điều gì đó gây thương tổn cho đối tượng ta mới hết tức giận. Nếu chúng ta bình tĩnh phân tích vấn đề, chúng ta sẽ thấy rằng nguyên nhân chính của cơn giận không nằm ở nơi đối tượng. Sự giận dữ thường phát sinh từ một sự bất mãn, không hiểu biết, kiêu ngạo, tham lam... Vì thế, chúng hoàn toàn nằm ngay trong ta, và đối tượng của sự tức giận chỉ là một nguyên nhân phụ thuộc. Trong phần lớn trường hợp, nếu chúng ta chịu suy xét, tìm hiểu về nguyên nhân một sự việc, chúng ta sẽ dễ dàng cảm thông và tha thứ. Chúng ta sẽ nhận ra rằng nhiều khi đối tượng cơn giận của ta vốn dĩ đáng được thương hại hơn là tức giận. Khổ đau, buồn chán, thù hận... đều có thể được chuyển hóa bằng vào sự hiểu biết và cảm thông. Điều này ông Phật hoàn toàn đúng. Khi chúng ta thiếu sự hiểu biết và cảm thông, chúng ta sống trong đau khổ và gây ra đau khổ cho người khác. Thực ra, sự hiểu biết và cảm thông là một kỹ năng cần có quá trình rèn luyện. Nói cách khác đi, sự thiếu hiểu biết và không cảm thông vốn là một thói quen tập nhiễm từ rất lâu mà ta không dễ loại trừ ngay trong chỉ một đôi lần. Đôi khi, những cơn giận nổi lên mà ta không sao kiềm chế được cho dù ta biết là mình hoàn toàn vô lý. Nhưng với một sự tỉnh thức và kiên nhẫn, qua nhiều lần như vậy chúng ta sẽ dần dần kiểm soát được chúng.
Sự thiếu hiểu biết thường là do không chịu lắng nghe từ người khác. Bởi vì có những điều chúng ta không thể suy ra được mà cần phải được nghe người khác giải thích. Nhưng thói quen của chúng ta khi nóng giận thường là không chịu lắng nghe người khác. Và điều đó dẫn đến sự thiếu hiểu biết. Phật giáo đã tổng kết: từ tham dẫn đến sân, từ sân dẫn đến si, đó là Tam độc của nhà Phật.
Nhà tâm lý xã hội học Barbaba Dafoe Whitecheas cho rằng năng lượng vật lý và năng lượng tâm lý là hai dạng năng lượng thuộc hai phạm trù: vật chất và tinh thần; chúng có quan hệ biện chứng và chuyển hóa lẫn nhau. Rất nhiều trường hợp lời nói, ngôn ngữ, câu chữ đã nhen nhóm tâm năng và chuyển hóa thành động năng. Phép biện chứng đã soi sáng nguyên lý chuyển hóa năng lượng: sức mạnh tư tưởng biến thành sức mạnh thể lực, nguồn lực tinh thần chuyển thành sức mạnh vật chất, sức mạnh lòng tin biến thành sức mạnh nghị lực...An ninh năng lượng tinh thần là sự chuyển hóa năng lượng tinh thần theo hướng tích cực. Điều quan trọng nhất mà chúng ta cần phải nhớ là, khi chúng ta tức giận, hận thù, đau khổ... thì những cảm xúc ấy là ở nơi ta, không thuộc về bất cứ một người nào khác. Chúng ta chỉ có thể chuyển hóa những năng lượng tinh thần tiêu cực ấy bằng chính sự hiểu biết và cảm thông của mình, không thể bằng cách tác động vào ai đó như một đối tượng để trút, làm giảm lòng căm tức, hận thù hoặc đau khổ. Những năng lượng tinh thần tiêu cực đó giống như những ngọn lửa; chúng cần có gì đó để thiêu đốt. Khi chúng ta thiếu sự hiểu biết, chúng sẽ thiêu đốt chính bản thân ta. Nếu chúng ta chuyển hóa được chúng, chúng sẽ trở thành lòng yêu thương, sự hiểu biết và cảm thông chia sẻ... thì những nguồn năng lượng tiêu cực sẽ biến thành tích cực thúc đẩy ta làm được những điều tốt đẹp cho chính mình và cho mọi người xung quanh ta.
Năng lượng tinh thần chịu ảnh hưởng phần lớn từ cảm xúc. Cảm xúc khó chịu tiêu hao năng lượng, còn cảm xúc dễ chịu tạo thêm năng lượng. Năng lượng tinh thần của một người phụ thuộc rất nhiều vào khả năng quản lý cảm xúc của người đó. Nếu thường ở trong trạng thái tích cực, năng lượng của bạn sẽ cao; còn thường xuyên bực bội, buồn rầu thì năng lượng sẽ thấp. Năng lượng tinh thần bị tiêu hao khi bạn xài nó để học tập, làm việc. Đây là hoạt động quan trọng mà bạn ưu tiên. Năng lượng tinh thần cũng như cơ bắp; bạn dùng quá tải, nó sẽ kiệt sức (khó tập trung) và tổn thương (stress, mệt mỏi, buồn chán, bứt rứt); bạn ít dùng thì nó sẽ ù lì và yếu đi (dễ chán, khó tập trung lâu). Vậy nên cách phát triển năng lượng cũng giống cách phát triển cơ bắp: tập luyện kết hợp với nghỉ ngơi. Tập luyện bằng cách làm những thứ đòi hỏi tư duy và tập trung sâu. Việc này tùy thuộc vào chuyên môn, sở thích của mỗi người. Còn phục hồi năng lượng xoay quanh bốn thứ sau: ăn, ngủ, thể dục, thiền. Áp dụng tương tự như năng lượng thể chất. Đây là bốn hoạt động “vàng”, thiết yếu cho cả thể chất và tinh thần. Đó cũng là những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm an ninh cho năng lượng tinh thần.
3. Sự giao lưu giữa Việt Nam và Ấn Độ trong lĩnh vực an ninh năng lượng tinh thần
Sự giao lưu, tiếp xúc giữa Việt Nam và Ấn Độ diễn ra khá sớm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng những nông sản gắn với chữ “ tây” như khoai tây, chuối tây, dâu tây, … đều có xuất xứ ít nhiều từ Ấn Độ. Nhiều câu chuyện cổ có xuất xứ từ Ấn Độ khi sang Việt Nam đã được Việt Nam hóa. Các học giả cho rằng vào khoảng thế kỷ III tr. CN, Hoàng đế Ashoka (A Dục)(272-232 tr.CN) có gửi nhiều phái đoàn truyền giáo ra nước ngoài trong đó có Đông Nam Á, Việt Nam. Dựa vào tài liệu Trung Hoa (vì những tài liệu cổ ở Việt Nam đã bị thiêu hủy hầu hết với mục đích đồng hóa), có nhà nghiên cứu cho rằng Thành Nêlê ở Giao Châu, nơi có Bảo tháp của Ashoka chính là Đồ Sơn (Hải Phòng) hiện nay. Theo Lê Mạnh Thát, thành Nêlê mà đoàn truyền giáo của vua A Dục cho xây rất có thể là chân núi Thạch Bàn, Tam Đảo.
Cho đến nay, hầu hết các học giả đều cho rằng Phật giáo Ấn Độ vào nước ta vào đầu thế kỷ I, khi nước ta nội thuộc nhà Hán. Bởi lẽ sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại vào năm 43, một nữ tướng của Hai Bà Trưng là Bát Nàn Phu Nhân đã xuất gia đi tu và người Việt khi đó đã biết trồng hoa uất kim hương, tức hoa tuylíp để cúng Phật. Theo Nguyễn Lang, trong ba trung tâm Phật giáo là Luy Lâu (Việt Nam), Bành Thành (Trung quốc), Lạc Dương (Trung Quốc) thì có nhiều dữ kiện khiến chúng ta nghĩ trung tâm Luy Lâu tại Giao Chỉ được thành lập sớm nhất, và trung tâm này đã làm bàn đạp cho sự thành lập các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Hoa. Ông còn chứng minh trung tâm Lạc Dương được thành lập từ trung tâm Bành Thành. Đến lượt mình, trung tâm Bành Thành được thành lập là do sự thăm viếng của các tăng sĩ xuất phát từ trung tâm Luy Lâu.
Có lợi cho lập luận trên, ta thấy vào thời Sĩ Nhiếp (187 - 226) Phật giáo không chỉ có mặt, mà còn rất hưng thịnh ở nước ta, đến nỗi trong Phật giáo đã xuất hiện tệ nạn trái với giới luật của nhà Phật. Trung tâm Phật giáo nổi tiếng - Luy Lâu được thành lập do sự viếng thăm của các thương gia và tăng sĩ Ấn Độ trực tiếp bằng đường biển. Đạo Phật ở Giao Châu là do Phật giáo Ấn Độ trực tiếp truyền vào, chứ không phải từ Trung Hoa truyền xuống. Ngay trong hai khái niệm Bụt (phiên âm trực tiếp từ tiếng Ấn Độ cổ Buddha) và Phật (phiên âm từ tiếng Trung Quốc Phô) thì chữ "Bụt" trong dân gian có trước và sớm hơn chữ  “Phật” nhiều. Theo lời của một pháp sư Trung Quốc Đàm Thiên, đời Tùy :" Xứ Giao Châu có đường thông trực tiếp với Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới đến Giang Đông (Trung Quốc) chưa đầy đủ thì ở thủ đô Luy Lâu của Giao Châu đã có tới 20 bảo tháp (chùa), độ được 500 vị tăng và dịch được 15 cuốn kinh rồi … Như vậy là Phật giáo truyền đến Giao Châu trước khi truyền đến Giang Đông (Trung Quốc) vậy. Hồi ấy có các vị tăng như Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác… cư trú tại đó”. Đoạn văn trên còn được chứng minh bởi câu chuyện Khương Tăng Hội từ Luy Lâu chống gậy Đông du vào năm Xích ô thứ 10 (225) (trong Cao Tăng truyện của Huệ Hạo nói là năm Xích ô thứ 2 - 247) để truyền bá Phật pháp ở vùng Giang Tả (đất Ngô Tôn Quyền thời Tam quốc).
Trong "Đại Việt sử ký toàn thư" có nói về thời Sĩ Vương (Sĩ Nhiếp 187 - 226, một người khoan hậu, khiêm tốn, sáng suốt, mưu trí),  khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết, kèn sáo thổi vang, ngựa xe đầy đường, người Hồ (chỉ các nhà sư Ấn Độ và Trung Á) đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người.  Như vậy, Sĩ Nhiếp không chỉ xây dựng được một chính quyền độc lập mà còn xây dựng được một nền văn hóa độc lập, nền văn hóa mới kết hợp văn hóa Âu Lạc với văn hóa Ấn Độ mà đại  diện là Phật giáo, đủ sức chống trả sự đồng hoá về văn hóa từ phía Bắc.
Một điều đáng lưu ý: Mâu Tử và Khương tăng Hội đều là những người học Phật ở Luy Lâu, chứ không phải là những nhà truyền giáo đầu tiên. Trong năm tăng sĩ nêu ra trong “Thiền uyển tập anh” có đến 4 tăng sĩ người Ấn Độ và Trung Á, chỉ có Mâu Tử là người Thương Ngô, chứ chưa có tăng sĩ người Hán. Điều đó càng chứng tỏ Phật giáo Việt Nam ở giai đoạn đầu là Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ấn Độ bằng đường biển. Hơn nữa, các tăng sĩ Giao Châu khi đó về sắc phục, nghi lễ, nếp sống đều theo quy tắc sinh hoạt của tăng già Ấn Độ, nên trong “Lý hoặc luận” mới có những thắc mắc như “Tăng sĩ mặc áo vải đỏ, trong giao tiếp, không cư xử theo khuôn phép nghi lễ của thánh Nho”. Từ đó ta có thể khẳng định, trước Vô Ngôn Thông (820), tăng sĩ Giao Châu chỉ có thể sinh hoạt theo quy chế của tăng già Ấn Độ. Qua việc thắc mắc tại sao tăng sĩ Giao Châu lại mặc áo cà sa đỏ (áo mà các tăng sĩ ở Ấn Độ mặc khi đó) cũng chứng tỏ Phật giáo Giao Châu chịu ảnh hưởng trực tiếp của Phật giáo Ấn Độ. Để chứng minh cho tính chất Ấn Độ của Phật giáo Giao Châu, ta còn thấy trong “Đại Việt sử ký toàn thư” còn ghi, khi Sĩ Nhiếp ra vào thì đánh chuông khánh uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, ngựa xe đầy đường, người Hồ (chỉ các tăng sĩ ấn Độ) đi sát bánh xe đốt hương thường có đến mấy mươi người.
Luy Lâu là trung tâm kinh tế chính trị của Giao Chỉ. Một số học giả cho rằng chữ “Giao” trong “Giao chỉ” có nghĩa là giao nhau, môi giới, giao tiếp; giao tiếp giữa lục địa nhà Hán với nước ngoài, giữa Bắc và Nam, giữa đất liền với hải đảo. Giao Chỉ nằm giữa ngã ba giao lưu văn hoá giữa nhà Hán và các nước phía Nam, giữa đất liền với biển Thái Bình Dương, nó là cửa ngõ để đi vào đại lục Trung Quốc. Với ý nghĩa đó về sau dưới con mắt của người phương Tây, người ta đã gọi ba nước trên bán đảo này là Indo - Chine (bán đảo Ấn-Trung) là như vậy. Luy Lâu nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng (hiện nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh), từ đây có những đường thuỷ, bộ tản đi khắp nơi, đến những kinh thành lớn. Chính vì vậy mà Sĩ Nhiếp chọn Luy Lâu làm thủ phủ của mình.
Luy Lâu là trung tâm chính trị của Giao Chỉ thế kỷ II - III. Những nghi lễ quan trọng có tính quốc gia đều diễn ra ở đây, chẳng hạn như lễ rước Phật ở chùa Dâu vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Sĩ Nhiếp có ý đồ thành lập một quốc gia riêng tách khỏi Trung Quốc, nên ông đã bỏ ra khá nhiều công sức để biến Luy Lâu thành một đô thị lớn, một thành luỹ vững chắc.
Cũng chính vì là ngã ba giao lưu kinh tế, văn hoá, mà nhiều thương gia nước ngoài thường lui tới làm ăn buôn bán tấp nập. Câu chuyện Tiên Dung, Chử Đồng Tử nói tới nhiều khách buôn ngoại quốc. Việc buôn bán tấp nập ở trung tâm Luy Lâu vào thế kỷ II - III còn được minh chứng bởi sự di cư sang buôn bán tại đây của gia đình Khương Tăng Hội. Nếu không phải là trung tâm kinh tế, thương mại thì không có ai lại rời cả gia đình đến đó để buôn bán. Luy Lâu nằm trên bờ sông Dâu. Từ sông Dâu ra sông Đuống, sông Hồng rồi ra biển thuyền bè ra vào thuận tiện, nhiều đường thuỷ, bộ quan trọng khi đó đều qua Dâu. Gọi Dâu có lẽ nơi đây từ xa xưa đã có nghề trồng dâu nuôi tằm
*, do đó chắc nghề tơ lụa, vải vóc đã phát triển. Nhiều hàng hoá như gỗ quí, trầm hương, sừng tê, ngà voi, v.v… được tập trung về đây, rồi cùng với vải vóc, đồ sành sứ, đường mật, tơ lụa,… lại đi khắp ngả trong và ngoài nước. Các khách buôn Trung Quốc, Ấn Độ, Trung Á thường lui tới đây để buôn bán, trao đổi. Như vậy, Luy Lâu là một trung tâm văn hoá, thương mại lớn có tính quốc tế khi đó.
Mặt khác, Luy Lâu còn là cửa ngõ để vào đại lục Trung Hoa nên các đoàn sứ thần ở các nước phía Nam, trước khi đến kinh đô Trung Hoa thường dừng lại một thời gian ở Luy Lâu để một mặt, thăm hỏi điều tra tình hình bên Trung Quốc; mặt khác, học thêm ngoại ngữ và tìm hiểu thêm văn hoá, phong tục tập quán của nước mà mình định tới. Điều này dễ hiểu vì Luy Lâu khi đó vẫn thuộc nhà Hán, chữ Hán tương đối phổ biến trong giới trí thức lúc bấy giờ. Điều này phù hợp với các tăng sĩ Ấn Độ, Srilanca, Trung Á có ý định qua truyền giáo Trung Hoa. Ngược lại, các nhà buôn, tăng sĩ Trung Quốc muốn đi các nước phía Nam hay Ấn Độ cũng tìm cách dừng lại ở Luy Lâu để gặp gỡ, tiếp xúc với người những nước đó ở đây, thông qua đó học ngôn ngữ, tìm hiểu văn hoá, tìm ra con đường tốt nhất đến các nước này. Như vậy, Luy Lâu thế kỷ II - III là bước đệm, khâu trung gian tối cần thiết để giao lưu kinh tế, văn hoá, thương mại giữa Trung Hoa đại lục với các nước phía Nam đặc biệt là với đại lục Ấn Độ, nó là dấu nối giữa hai đại lục (Indo - Chine).
Luy Lâu còn là trung tâm văn hoá của Giao Chỉ ở thế kỷ II - III. Sau khi Hán Linh Đế băng hà (189), thiên hạ nhiễu loạn chỉ Giao Châu tạm yên, nên người phương Bắc trong đó có nhiều học giả, trí thức kéo nhau đến ở. Ngay Mâu Tử cũng phải kéo mẹ đi lánh nạn tại Luy Lâu. Điều này không chỉ nói trong "Lý hoặc luận", mà trong “Đại Việt sử ký toàn thư” còn ghi: “Vương (Sĩ Nhiếp) độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là Vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người”. Mặt khác, những người Ấn Độ, Trung Á đến buôn bán, họ còn mang theo vốn kiến thức sẵn có trong mình để giới thiệu cho người bản xứ, đặc biệt là văn thơ Ấn Độ trong đó có Phật giáo. Luy lâu vô hình chung đã trở thành nơi hội tụ của các luồng văn hoá, ngôn ngữ. Cũng chính vì vậy mà không khí học thuật của Giao Châu lúc này rất cởi mở phóng khoáng, tự do thoải mái. Ta có thể cảm nhận không khí này trong tác phẩm  “Lý hoặc luận” của Mâu Tử. Các đạo, các luồng tư tưởng tự do phát triển, tự do tranh luận đúng sai với nhau. Một  không khí cởi mở, mở cửa ở một ngã ba giao lưu văn hoá này tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho Phật giáo phát triển.
Theo “Thiền Uyển tập anh” năm 580 Vinitaruci (Tìniđalưuchi) sang Việt Nam, nước của một vị vua là con Phật, họ Lý (Lý Phật Tử), ở chùa Pháp Vân và lập nên thiền phái đầu tiên ở nước ta. Như vậy, thiền ở Việt Nam trở thành tông phái bắt đầu từ Tìniđalưuchi, kéo dài cho đến cuối Lý đầu Trần, tức tồn tại trong vòng sáu thế kỷ, gồm 19 thế hệ và 28 vị thiền sư còn ghi lại được trong “Thiền uyển tập anh”.
Đặc điểm của thiền phái này là vẫn mang nặng màu sắc của Phật giáo Ấn Độ, mặc dù Vinitaruci có qua Trung Hoa và trở thành đệ tử của Tam tổ Tăng Xán. Như vậy, ngay từ những thế kỷ đầu tiên khi Phật giáo du nhập cho đến thế kỷ IX (trước khi thiền phái Vô Ngôn Thông xuất hiện) Phật giáo Việt Nam mang nặng màu sắc Ấn Độ, là Phật giáo Ấn Độ. Giai đoạn này lại hầu như trùng với thời kỳ Bắc Thuộc. Điều này nói lên điều gì? Điều này nói lên rằng trong những buổi đầu dựng nước và giữ nước, vô tình hay hữu ý, ông cha ta đã biết né tránh sự đồng hóa về mặt văn hóa từ phía Bắc, bằng cách đề cao một nền văn hóa khác đồ sộ không kém gì văn hóa Trung Hoa – đó là văn hóa Ấn Độ mà đại diện là Phật giáo Ấn Độ. Cũng chính điều đó phần nào lý giải rằng chính Phật giáo Ấn Độ cùng với tín ngưỡng văn hoá bản địa đã góp phần giúp cho nhân dân Việt Nam tránh được sự đồng hoá về văn hoá từ phía Bắc. Tất nhiên, nguyên nhân không bị đồng hóa có nhiều, song đây là một trong những nguyên nhân quan trọng. Qua đó ta cũng thấy được vai trò của văn hóa Ấn Độ mà đại diện là Phật giáo Ấn Độ đối với Việt nam khi đó. Sự xuất hiện thiền phái Vô Ngôn Thông (820) bên cạnh thiền phái Tìniđalưuchi phải chăng nói nên rằng ở Việt Nam thế kỷ IX đã diễn ra một cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa văn hoá Ấn Độ và văn hoá Trung Hoa mà đại diện là Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa? Sự biến mất của phái Tìniđalưuchi thời Trần, phải chăng nói lên khuynh hướng Trung Hoa thời kỳ này đã thắng thế và đó phải chăng là bước quá độ để văn hoá Trung Hoa mà đại diện là Nho giáo chiếm vai trò chủ đạo, chiếm thế thượng phong ở thời Lê ?
Tóm lại, văn hóa Ấn Độ mà đại diện là Phật giáo thời Bắc thuộc đã cung cấp cho người Việt Nam một năng lượng tinh thần to lớn góp phần quan trọng giúp Việt Nam tránh được sự đồng hóa về văn hóa từ phía Bắc.
Đó là Phật giáo giai đoạn đầu tiên, giai đoạn Bắc thuộc, còn Phật giáo sau này, tất nhiên, có sự hỗn dung cả yếu tố Trung Quốc, đặc biệt là Phật giáo Trung Quốc, nhưng gốc vẫn là Ấn Độ. Không chỉ góp phần quan trọng giúp Việt Nam tránh được sự đồng hóa về văn hóa từ phía Bắc, mà đối với Việt Nam, Phật giáo có thời gần như là quốc đạo, bởi vậy, ở mức độ ít hay nhiều, không thể tiến hành giải phóng dân tộc nếu không lôi kéo phong trào Phật giáo, không lôi kéo những người Phật tử, vì một lý do đơn giản là ở đây đa số nhân dân, quần chúng là Phật tử. Điều này thể hiện khá rõ ở Việt Nam thời Lý- Trần. Vào thời đó, các Phật tử đã cầm gươm lên ngựa, đánh đuổi quân xâm lược (cởi áo cà sa khoác chiến bào), với thông điệp mang năng lượng tinh thần “Vô bố úy”.
Ở những nước Phật giáo gần như là quốc đạo, các Phật tử đôi khi còn đứng đằng sau chỉ đạo chính trị, là cố vấn cho các vị quân vương. Điều này thể hiện rõ ở Phật giáo Việt Nam thời Lý Trần. Thiền sư Ngô Chân Lưu thế hệ thứ tư thiền phái Vô Ngôn Thông được Lê Đại Hành phong giữ chức Tăng thống, phàm các việc quân quốc trong triều, sư đều được tham dự. Thiền sư Đa Bảo thế hệ thứ tám dòng này cũng được Lý Thái Tổ cho tham dự, định đoạt các việc triều chính. Thiền sư Pháp Thuận thế hệ thứ chín thiền phái Vinitaruci đã có công dựng bàn hoạch định sách lược cho nhà Tiền Lê. …Tóm lại, các vị đã trở thành những cố vấn về an ninh năng lượng tinh thần cho các vị quân vương.
Đạo gắn với đời thể hiện không chỉ ở việc các Phật tử tham gia  đánh giặc cứu nước mà còn tham gia vào việc chống thiên tai, chống úng hạn, làm thuốc, dạy học, làm đường, sửa cầu, giúp và dạy dân làm các việc thiện, tức cung cấp không chỉ năng lượng vật chất mà cả năng lượng tinh thần cho dân tộc Việt Nam. Điều này ta thấy rõ ở Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập cho đến ngày nay.
Ở Việt Nam, không thể hiểu nổi lịch sử tư tưởng dân tộc nếu không đề cập đến Phật giáo. Phật giáo đã tham gia vào cấu trúc, xây dựng, tạo nên lịch sử tư tưởng Việt Nam, tạo dựng năng lượng tinh thần cho người Việt Nam. Phật giáo đã thấm sâu vào máu thịt của một bộ phận không nhỏ những người đất Việt. Đối với họ, trong cấu trúc thế giới quan, tư duy, yếu tố Phật giáo, năng lượng tinh thần của Phật giáo đã từng một thời là bao trùm.
Phật giáo là một trong những cơ sở quan trọng qui định tính chất tư duy hướng nội của người Việt Nam. Những quan niệm về nghiệp, luân hồi, nhân quả; lối sống theo kiểu ở hiền gặp lành, gieo gió gặp bão, đã ảnh hưởng sâu đậm lên nền văn hóa Việt Nam. Thử hỏi, nếu trên thế gian này, mọi người đều cho rằng chết là hết, do đó tất cả mọi hành động do mình gây ra như chém giết, tham lam, tàn bạo, . . . sau khi chết, mình hoàn toàn không còn chịu trách nhiệm gì hết, thì sự suy thoái  đạo đức đối với loài người sẽ trầm trọng như thế nào. Điều này thể hiện tính nhân văn trong thuyết nghiệp báo luân hồi của nhà Phật. Đây là một năng lượng tinh thần quan trọng qui định lối sống, cách ứng xử của người Việt Nam
Đạo Phật là đạo khuyến thiện trừ ác, là đạo tâm. Người quản lý lãnh đạo giỏi nhất là người thu phục được nhân tâm con người. Ngay trong mỗi con người đều có hai phần thống nhất hữu cơ với nhau: thân và tâm. Từ đó, con người có hai loại khổ, hai thứ bệnh: bệnh về thể xác, khổ về vật chất; bệnh về tinh thần, khổ tâm. Dĩ nhiên hai loại bệnh khổ này liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Nhưng nhìn chung, một trong những phương pháp chữa bệnh về tâm là phải an cho được cái  tâm, và đây là sở trường của Phật giáo. Mặt khác, an tâm là điều kiện cần đầu tiên để có một cái nhìn bình tĩnh, đúng đắn, khách quan đối với mọi sự vật, hiện tượng. Đây là một dạng năng lượng tinh thần vô giá mà Phật giáo đã cung tiến cho người Việt Nam.
Phật giáo là một trong những yếu tố cấu trúc nên nền văn hóa, văn minh Việt Nam, bởi vậy, không thể nói đến văn hóa Việt Nam nếu không nói đến Phật giáo. Ở Việt Nam, văn học Phật giáo chiếm một tỷ trọng đáng kể. Nhiều bài văn, bài thơ đầu tiên ở Việt Nam là của Phật giáo. Phật giáo làm cho ngôn ngữ ở Việt Nam nói riêng và các nước phương Đông nói chung thêm phong phú. Những hội họa, kiến trúc, điêu khắc Phật giáo, đó là những vốn văn hóa qúi giá đối với chúng ta ngày nay. Ảnh hưởng của Phật giáo lên hội họa, cách viết, lối làm vườn, trà đạo, kiếm thuật, vũ, thi ca của nhiều nước phương Đông trong đó có Việt Nam là rất lớn. Ngoài ra, Phật giáo còn ảnh hưởng đến phong tục, tập quán, lễ hội ở Việt Nam. Ở những thần điện, thậm chí lối thờ cúng đối với nhiều nước châu Á trong đó có Việt Nam cũng mang nhiều yếu tố Phật giáo. Ngày nay, ở nhiều nước phương Đông trong đó có Việt Nam, đạo đức mang tính chất Phật giáo, ở mức độ nhất định vẫn còn nhiều yếu tố phù hợp với luân lý đạo đức hiện đại. Đây là một thông điệp mang năng lượng tinh thần vô giá của Phật giáo.
Trong lịch sử Việt Nam, ngôi chùa đã từng là trường học, trung tâm văn hóa của nước nhà; nhà sư đã từng là thày giáo dạy kiến thức, văn hóa, đạo sống cho nhiều người. Không phải  ngẫu nhiên mà ở nhiều nơi  họ được tôn vinh là thày. Ngoài di tích, danh thắng, ngôi chùa ở Việt Nam tượng trưng cho cái  tôn nghiêm, trong sạch, thanh tịnh; nơi gửi gắm niềm tin, hy vọng, an ủi cuộc sống cho một bộ phận không nhỏ con người đất Việt. Đó cũng là năng lượng tinh thần vô cùng quý giá của Phật giáo đối với con người Việt Nam.
Giới, định, tuệ là cách bồi bổ năng lượng tinh thần, đồng thời cũng là cách hay về an ninh năng lượng tinh thần mà Ấn Độ nói chung và Phật giáo nói riêng mang lại cho người Việt Nam không chỉ trong quá khứ mà cả hiện tại.
Ngày nay ở Việt Nam, phong trào khởi nghiệp, tạo nghiệp, lập doanh nghiệp mới đang diễn ra sôi nổi. “Phần hồn” sẽ tạo ra một sức mạnh mới cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể vượt qua sóng gió khi có biến cố. Tình trạng kinh doanh khó khăn như hiện nay làm cho thu nhập, tiền thưởng và các chế độ bị cắt giảm, dễ tạo ra cảm xúc tiêu cực cho đội ngũ những người lao động. Chính đây là lúc doanh nghiệp cần sự thấu hiểu, đồng cảm và chia sẻ từ đội ngũ những người này. Doanh nghiệp phải chia sẻ sứ mệnh, tầm nhìn và các giá trị con người với họ để họ thống nhất hành động. Những nhà lãnh đạo với tầm nhìn, sự tận tâm, thành tâm, trong sáng, minh bạch và tính chính trực sẽ luôn tạo ra trong tổ chức của mình một không khí “trong lành“, nơi mà người lao động có thể thực sự khám phá chính bản thân mình, làm cho mỗi người lao động biết cách quản lý bản thân, biết làm thế nào để sống có ý nghĩa, biết gắn kết nội bộ và như vậy, doanh nghiệp sẽ giữ được người tài, năng suất làm việc tăng, tiết kiệm được chi phí. Và hiện có đến 60% lãnh đạo doanh nghiệp xác định việc chăm sóc tinh thần cho nhân viên là rất quan trọng, vì họ là tài sản quý giá nhất của công ty. Đến đây, ta lại quay lại triết lý nêu trên: quản lý cao nhất là quản lý được cái tâm, cái tinh thần, phát huy năng lượng tinh thần theo hướng tích cực của họ./.
* Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
* Đến thời Ỷ Lan, nhà Lý, nơi đây vẫn còn là một nương dâu ngút ngàn, từ đó đã xảy ra câu truyện tình sử giữa cô gái hái dâu (Ỷ Lan) với vua Lý Thánh Tông.

Bình luận của bạn