cis_banner_final_en.png
Tranh chấp chủ quyền Biển Đông tác động đến an ninh năng lượng khu vực và thế giới

05/08/2019


Tranh chấp chủ quyền Biển Đông tác động đến an ninh năng lượng khu vực và thế giới



TS Nguyễn Thanh Minh*
 
Tóm tắt
Tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán ở khu vực Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp, khó giải quyết, có ảnh hưởng rất lớn đến an ninh năng lượng của khu vực và thế giới. Vấn đề này xuất phát do từ quan điểm chủ quyền và biện pháp giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là khác nhau, tham vọng làm chủ Biển Đông vẫn còn hiện hữu trong chiến lược trở thành cường quốc biển. Do những tranh chủ quyền và quá trình quân sự hóa trên Biển Đông của Trung Quốc trong thời gian gần đây đã làm cho Biển Đông trở thành một trong những điểm nóng của thế giới. Nếu vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông không được giải quyết thấu đáo, các bên liên quan thiếu kiềm chế thì dễ dẫn đến nguy cơ xung đột vũ trang, dù ở cường độ thấp cũng sẽ làm cho khu vực rơi vào khủng hoảng, tác động không nhỏ đến lưu thông thương mại và quân sự ở Biển Đông, tác động tiêu cực đến an ninh năng lượng của khu vực và thế giới. Bài viết sẽ nghiên cứu tiềm năng của Biển Đông dước góc độ tiếp cận an ninh năng lượng, tình trạng tranh chấp chủ quyền và những tác động đến an ninh năng lượng khu vực và thế giới.
Từ khóa: Tranh chấp, Biển Đông, tác động, an ninh, năng lượng, khu vực.
*******
 
Tiềm năng và vai trò quan trọng của địa chiến lược Biển Đông - tiếp cận từ góc độ an ninh năng lượng
Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 3o lên đến vĩ độ 26o Bắc và từ kinh độ 100o đến 121o Đông. Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và vùng lãnh thổ Đài Loan. Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu người dân của các nước và vùng lãnh thổ xung quanh Biển Đông. Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn cả của châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ. Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng, cũng là nơi chứa đựng nguồn năng lượng tái tạo đa dạng cho đời sống của người dân và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật như thuỷ sản, khoáng sản như dầu khí, du lịch và là khu vực đang chịu sức ép lớn về bảo vệ môi trường sinh thái biển.
Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines. Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan,v.v., trong đó Indonesia là thành viên của OPEC.
Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ mét khối
1. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 7 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính. Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam đứng vào hạng trung bình trong khu vực, tương đương Thái Lan và Malaysia.
Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần. Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Nhà nước Việt Nam và các vùng biển quanh hai quần đảo.
Tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông
Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á. Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm có 4 tuyến cơ bản như: (i) Tuyến đi từ Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, Kênh đào Suez, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Australia, New Zealand; (ii) Tuyến đi từ Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; (iii) Tuyến đi từ Đông Á đi Australia và New Zealand, Nam Thái Bình Dương; (iv) Tuyến đi từ Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á. Đây được xem là những tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới chỉ đứng sau Địa Trung Hải. Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore và Hồng Công
2. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng gia tăng ở khu vực. Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc. Biển Đông được xem là huyết mạch thiết yếu để vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông3.
Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của châu Á có hai điểm trọng yếu: Một là, eo biển Malacca nằm giữa đảo Sumatra của lndonesia và Malaysia. Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hoá của các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua. Ba eo biển thuộc chủ quyền của lndonesia là Sunda, Blombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong tình huống eo biển Malacca ngừng hoạt động vì lý do gì đó. Tuy nhiên, nếu phải vận chuyển qua các eo biển này thì hàng hoá giữa Ấn Độ Dương sang ASEAN và Bắc Á sẽ chịu cước phí cao hơn vì quãng đường dài hơn. Hai là, vùng Biển Đông, nơi có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á là Malacca, Lombok, Sunda, Ombai - Wetar. Đặc biệt, eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới chỉ sau eo biển Hormuz. Nạn cướp biển và khủng bố trên Biển Đông ở mức cao, đặc biệt sau vụ tấn công khủng bố tự sát vào tàu chở dầu của Pháp tháng 10 năm 2002. Do đó, vùng biển này hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa - chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế, nhất là đối với Mỹ và Nhật Bản. Biển Đông còn có liên hệ và ảnh hưởng đến khu vực khác, nhất là Trung Đông.
Chính vai trò và tầm quan trọng của các tuyến đường hàng hải huyết mạch qua Biển Đông, cho nên việc Biển Đông bị một nước hoặc một nhóm nước liên minh nào khống chế, phong tỏa hoặc chiến sự bùng nổ sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích an ninh, chính trị, kinh tế của các nước khu vực. Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông
[1]. Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông. Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama.
Các nguồn năng lượng tái tạo có ở Biển Đông có thể khai thác có hiệu quả trong bối cảnh hiện nay
Khu vực Biển Đông chứa đựng nhiều nguồn năng lượng tái tạo quan trọng nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới.
 Năng lượng bức xạ mặt trời
Các tấm pin Mặt trời được lắp đặt ở ngoài trời để có thể hứng được ánh nắng tốt nhất từ Mặt trời nên được thiết kế với những tính năng và chất liệu đặc biệt, có thể chịu đựng được sự khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu, nhiệt độ v.v…Đây là nguồn năng lượng lớn và vô hạn và gần như hoàn toàn miễn phí cũng như không sản sinh ra chất thải hủy hoại môi trường.
Các công trình trên biển, hải đảo có thể ứng dụng được năng lượng bức xạ Mặt trời hiệu quả. Nhất là ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông. Trên thế giới đã có nhiều quốc gia rất coi trọng và phát triển năng lượng bức xạ mặt trời, đứng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ, sản xuất và ứng dụng các thiết bị sử dụng và ứng dụng các thiết bị sử dụng năng lượng Mặt trời là các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Đức, một số nước thuộc khối EU, Israel và Trung Quốc.
Năng lượng gió
Ở khu vực Biển Đông rất thuận lợi cho việc phát triển năng lượng gió, đây là nguồn năng lượng tái tạo vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Các quốc gia ven Biển Đông đã đang nghiên cứu và triển khai phát triển nguồn năng lượng gió có hiệu quả. Sự chuyển động của không khí dưới sự chênh lệch áp suất khí quyển tạo ra gió, nên đây cũng là một nguồn năng lượng, nguồn điện vô cùng tận so với đời sống con người. Với ưu điểm là nguồn năng lượng gió không bao giờ cạn và hoàn toàn miễn phí, những máy quay gió cũng như những cánh đồng máy quay gió đã ra đời. Loại hình này cũng không tạo ra chất thải ô nhiễm môi trường và gần như rất thích hợp cho những khu vực xa đô thị, nơi mà lưới điện quốc gia khó có thể vươn tới, nhất là những khu vực biển đảo.
Tuy nhiên, giống như năng lượng Mặt trời, loại hình năng lượng này cũng đòi hỏi vốn đầu tư khá cao và phải lệ thuộc vào tự nhiên. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, loại hình năng lượng này đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới như Đức, Trung Quốc, Tây Ban Nha và đang là tiềm năng kinh doanh đầy triển vọng. Hiện tại, những nghiên cứu ứng dụng tổng hợp và công nghệ điện gió nối lưới điện chính cũng như dự trữ năng lượng gió dưới một dạng khác đang được tiến hành nhiều nơi, kể cả ở Việt Nam. Phổ biến và có hiệu quả nhất hiện nay trên thế giới là sử dụng năng lượng gió để phát điện.
Năng lượng thủy triều
Khu vực Biển Đông là địa bàn lý tưởng để các quốc gia xung quanh phát triển năng lượng thủy triều, đây là nguồn năng lượng tái tạo, bảo đảm được môi trường không bị ô nhiễm. Do vậy, hiện nay ở khu vực Biển Đông một số quốc gia đã triển khai nghiên cứu phát triển năng lượng thủy triều. Năng lượng thủy triều ứng dụng dòng thủy triều lên xuống để quay cánh quạt chạy máy phát điện. Đây cũng là một dạng năng lượng có nguồn nhiên liệu vô tận và miễn phí. Loại mô hình này không sản sinh ra chất thải gây hại môi trường và không đòi hỏi sự bảo trì cao. Khác với mô hình năng lượng Mặt trời và năng lượng gió, năng lượng thủy triều khá ổn định vì thủy triều trong ngày có thể được dự báo chính xác. Nhược điểm của loại năng lượng này là đòi hỏi một lượng đầu tư lớn cho thiết bị và xây dựng và đồng thời làm thay đổi điều kiện tự nhiên của một diện tích rất rộng.
Ngoài ra mô hình này chỉ hoạt động được trong thời gian ngắn trong ngày khi có thủy triều lên xuống và cũng rất ít nơi trên thế giới có địa hình thuận lợi để xây dựng nguồn năng lượng này một cách hiệu quả. Năm 1967, Pháp đã xây dựng một nhà máy thủy triều đầu tiên trên thế giới có quy mô công nghiệp với công suất 240 MW, sản xuất 640 triệu kWh hàng năm, cung cấp 90% điện cho vùng Brithany của Pháp. Canada đã vận hành một nhà máy 20 MW từ năm 1984, sản xuất 30 triệu kW điện hàng năm. Trung Quốc bắt đầu quan tâm sử dụng năng lượng thủy triều từ năm 1958, đã xây dựng 40 trạm thủy triều mini tổng công suất 12 kW. Từ năm 1980, Trung Quốc đã đầu tư xây dựng 02 nhà máy có công suất 3,2 MW và 1,3 MW nhưng không thành công. Hiện nay, Trung Quốc có 7 nhà máy điện thủy triều đang vận hành với tổng công suất 11 MW. Vương quốc Anh không phát triển công nghệ sử dụng đập, mà theo hướng công nghệ dòng thủy triều - tidal stream technology.
Điện sóng biển
Thực tiễn cho thấy, gió thổi trên mặt biển tạo ra những cơn sóng không ngừng trên các vùng biển và đại dương, ở Biển Đông cũng vậy. Tuy nhiên, đây là một nguồn năng lượng dồi dào nhưng lại trải rộng nên khó gom tựu chúng lại để chuyển đổi sang năng lượng hữu ích. Đây cũng là môt dạng năng lượng vô tận, không tạo chất thải, không đòi hỏi bảo trì cao và hoàn toàn miễn phí. Với điều kiện khí hậu ở khu vực Biển Đông cũng có thể phát triển nguồn năng lượng điện sóng biển ở các khu vực đảo xa bờ. Tuy nhiên sóng biển gần như không thể dự đoán nên sự lệ thuộc của loại mô hình này vào tự nhiên quá lớn.
Ngoài ra, không phải nơi nào cũng thích hợp xây dựng mô hình năng lượng này cũng như tiếng ồn của nó sẽ rất cao. Sóng biển, với bề ngang thênh thang, chứa đựng rất nhiều năng lượng. Mật độ năng lượng trong sóng rất cao so với các nguồn năng lượng tái tạo khác, như năng lượng gió và Mặt trời - mật độ năng lượng sóng trung bình toàn cầu khoảng 8 kW/m bờ biển so với 300 W/m của tấm Mặt trời hoặc diện tích quét của rôto. Chỉ cần không đến 0,1% năng lượng tái tạo của đại dương được chuyển hóa thành điện, là đã có thể thỏa mãn được hơn 5 lần nhu cầu điện toàn cầu hiện nay. Ủy ban Năng lượng Thế giới - WEC đánh giá thị trường năng lượng sóng biển toàn cầu năm 2010 là ~ 5,5 TWh/năm và trong tương lai sẽ vượt quá 2.000 TWh. Trên thế giới đang nghiên cứu phát triển nguồn năng lượng này.
Năng lượng nhiệt biển
Các đại dương bao phủ hơn 70% diện tích bề mặt Trái đất, vì vậy chúng tạo ra một khu vực rộng lớn nhất để tiếp nhận nguồn sáng Mặt trời. Nguồn nhiệt từ Mặt trời sẽ làm cho bề mặt của đại dương nóng hơn khu vực sâu phía dưới biển. Chính sự chênh lệch nhiệt độ này đem lại nguồn năng lượng nhiệt biển - OTEC quý giá. Nguồn nước nóng ở bề mặt và nguồn nước lạnh phía dưới có thể được xem như là các nguồn nóng và lạnh trong một máy nhiệt. Tiềm năng năng lượng nhiệt đại dương ước tính vào khoảng 1.012 MW. Ở khu vực Biển Đông thì năng lượng nhiệt biển là một nguồn năng lượng tái tạo vô cùng dồi dào cho các quốc gia triển khai nghiên cứu, ứng dụng.
Điều kiện để khai thác nguồn năng lượng nhiệt biển này để phát điện là độ chênh lệch nhiệt độ giữa lớp nước bề mặt và lớp nước ở dưới độ sâu phải đạt khoảng 200C, điều kiện này chỉ thỏa mãn đối với một số vùng biển nhiệt đới có độ sâu 1.000 đến 2.000 m. Công nghệ khai thác nguồn năng lượng này để phát điện - OTEC phổ biến có 3 loại, đó là hệ thống OTEC chu kỳ đóng, chu kỳ mở và chu kỳ hỗn hợp. Một lợi thế của công nghệ theo chu kỳ mở hoặc hỗn hợp là ngoài điện còn có thể sản xuất nước sạch, làm nguồn điều hòa nhiệt độ, khai thác quặng dưới biển và nhiều lợi thế khác. Theo tính toán lý thuyết thì một nhà máy OTEC có công suất 2 MW có thể sản xuất ra trên 4.000 m3 nước sạch ngày đêm. Hiện nay, trên thế giới chỉ có ba nước là Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ đầu tư nghiên cứu thử nghiệm thành công trong nhiều năm nay về loại công nghệ này.
Tác động đến an ninh năng lượng của khu vực và thế giới
Nếu tranh chấp chủ quyền biển đảo ở khu vực Biển Đông không được giải quyết tốt trên cơ sở luật pháp quốc tế, luật biển quốc tế, quy định của UNCLOS, quy định của DOC mà dẫn đến chiến tranh thì thạm họa vô cùng tàn khốc, đồng thời sẽ có những tác động tiêu cực rất lớn đến an ninh năng lượng của khu vực và thế giới. Nếu chiến sự bùng phát ở Biển Đông sẽ làm mất cân đối nguồn năng lượng trong khu vực, thế giới, đồng thời không đảm bảo dòng lưu thông năng lượng cho khu vực và thế giới trong bối cảnh hiện nay.
Ngày nay khi giao thương phát triển, đặc biệt là trên biển, sự phụ thuộc của các quốc gia vào các tuyến đường biển đi qua Biển Đông ngày một lớn hơn. Chính vì thế, nếu Biển Đông bị một hoặc một nhóm quốc gia liên minh nào khống chế, phong tỏa sẽ đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích an ninh, chính trị và sự thịnh vượng về mặt kinh tế của khu vực và thế giới bao gồm Việt Nam
[2], nhất là vấn đề an ninh năng lượng.
Trong bối cảnh hiện nay, tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông đang diễn ra quyết liệt, có thời điểm mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm làm cho nguy cơ của một cuộc chiến tranh trên biển có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Những mâu thuẫn gay gắt, những hành động quân sự hóa, đảo hóa ở Biển Đông đã có phần tác động không nhỏ đến an ninh năng lượng của khu vực và thế giới. Nếu mâu thuẫn về tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa các bên liên quan không được kiềm chế, giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, luật biển quốc tế, những quy định của UNCLOS và cam kết khu vực như DOC, thì sẽ làm cho tình hình Biển Đông trở nên phức tạp, khó lường và ảnh hưởng đến an ninh năng lượng của khu vực và thế giới.
Do vậy, đảm bảo cho Biển Đông được bình yên, tránh leo thang xung đột quân sự là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Đồng thời các bên liên quan đều tuân thủ Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển quốc tế năm 1982 để đảm bảo cho Biển Đông hòa bình, ổn định qua đó góp phần bình ổn khu vực, như vậy sẽ đảm bảo an ninh năng lượng như: cân đối nguồn năng lượng trong khu vực, thế giới, đảm bảo dòng lưu thông năng lượng cho khu vực và thế giới trong bối cảnh hiện nay.
Nếu chiến tranh xảy ra trên Biển Đông sẽ có những tác động tiêu cực về an ninh năng lượng của khu vực và thế giới, đồng thời sẽ để lại hệ quả khôn lường cho các bên liên quan trong và ngoài khu vực. An ninh năng lượng của khu vực và thế giới sẽ rơi vào tình trạng khủng khoảng, khó kiểm soát và để lại hậu quả mang tính chất khu vực và toàn cầu. Do vậy, nỗ lực hiện nay của cộng đồng quốc tế và khu vực đang nỗ lực kêu gọi các bên kiềm chế, có lòng tin chiến lược để giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, luật biển quốc tế, quy định của UNCLOS, nhằm tránh cho một cuộc chiến tranh ở Biển Đông có thể xảy ra làm ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh năng lượng thế giới và khu vực./.

Tài liệu tham khảo
1. Trần Thị Quỳnh Nga (2018),
Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh. Xem tại :http://www.nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/7023-van-de-bien-dong-trong-chinh-sach-chau-a-thai-binh-duong-cua-my-sau-chien-tranh-lanh. Truy cập ngày 12/12/2018.
2.  Trần Thị Quỳnh Nga (2018),
Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh. Xem tạihttp://www.nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/7023-van-de-bien-dong-trong-chinh-sach-chau-a-thai-binh-duong-cua-my-sau-chien-tranh-lanh. Truy cập ngày 12/12/2018.
3. Trần Bông (2009), giới thiệu:
Biển Đông: Địa chiến lược và Tiềm năng kinh tế. Xem tại : http://nghiencuubiendong.vn/tong-quan-ve-bien-dong/504-bien-ong-ia-chien-lc-va-tiem-nng. Truy cập ngày 12/11/2018.       
4. Background Briefing:  Philippines: Duterte’s Pivot to China Carlyle A. Thayer, October 21, 2016.
5. David Scott (2015), Sự gia tăng cân bằng của Ấn Độ ở Biển Đông.
6. Joseph ChinyongLiow (2016), Hoa Kỳ và Ấn Độ có thể cùng nhau làm điều gì trên Biển Đông, Brookings, 10/6/2016.
7. LeszekBuszynski (2012), Biển Đông: Dầu, tuyên bố hàng hải và sự cạnh tranh chiến lược Hoa Kỳ - Trung Quốc, The Washington Quarterly, Vol. 35, 2, tr. 139-140.
8. Rajaram Panda (2016), Xu hướng đi lên của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sau chuyến thăm của Parikka, The Pioneer, 19/6/2016.
9. Jeannette Greenfield. China and the Law of the Sea. Trong Jamer      Crawford và Donald R. Rothwell (chủ biên): The Law of the Sea in the Asian Pacific Region, Martinus, Nijhoff Publishers, Dordrecct, Boston, London, 1995, p, 21-40.
10. Xem thêm Nguyễn Thanh Minh (2017), Xây dựng lòng tin góp phần làm giảm căng thẳng ở Biển Đông, Tạp chí Cảnh sát biển, số 4.
11. Nguyễn Thanh Minh (2017), Quan điểm của Nhật Bản về Biển Đông và những tác động đối với Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 3, tháng 9/2017.
12. Nguyễn Thanh Minh (2018), Thực trạng và triển vọng hợp tác quốc tế trên Biển Đông giữa các nước ASEAN trong bối cảnh hiện nay, Tạp chí Khoa học Quân sự, số 4.
 
* Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam
1 Báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam đến 2020 do Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thực hiện, dự thảo tháng 11/2004.
[2] Sỹ Tuấn (2013), Biển Đông có vị trí trọng yếu ra sao. Xem tại: https://vietnamnet.vn/vn/chu-quyen-hoang-sa-truong-sa/bien-dong-co-vi-tri-trong-yeu-ra-sao-420498.html Truy cập ngày 12/4/2019.

Bình luận của bạn