cis_banner_final_en.png
Hợp tác phát triển Việt Nam - Ấn Độ về an ninh năng lượng trong bối cảnh mới

05/08/2019


Hợp tác phát triển Việt Nam - Ấn Độ về an ninh năng lượng trong bối cảnh mới



D. Jesudas Bell*

 Việt Nam và Ấn Độ chia sẻ các mối liên kết lịch sử và văn minh sâu sắc và, sau khi giành được độc lập khỏi ách thống trị của chế độ  thực dân, hai nước đã phát triển mối quan hệ đối tác chiến lược chặt chẽ. Ngoài ra, Việt Nam và Ấn Độ có những điểm giống nhau ở chỗ cùng là các nước đang phát triển và cả hai đều nỗ lực đưa ra những lựa chọn đúng đắn trong bối cảnh này để phát triển và mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân của mỗi nước.
Do đó, lẽ đương nhiên, Việt Nam và Ấn Độ chia sẻ mọi cơ hội  trao đổi quan điểm về kinh nghiệm của mỗi nước trong các lĩnh vực khác nhau  tác động đến sự phát triển, từ đó nâng cao không chỉ sự hiểu biết mà còn là tầm nhìn chung về sự ổn định ở khu vực và toàn cầu, vốn là những yếu tố đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển liên tục và phúc lợi của nhân dân  hai nước.
Một số lĩnh vực kinh tế có thể được coi là một phần quan trọng của cuộc đối thoại này, nhưng một trong những phần quan trọng nhất phải là năng lượng - cả việc khai thác các nguồn tài nguyên năng lượng và bảo vệ  các nguồn tài nguyên này để sử dụng chúng một cách liên tục và bền vững. Trong  vấn đề này, Việt Nam và Ấn Độ có lợi ích rất lớn trong việc trao đổi quan điểm không chỉ về cách mỗi quốc gia giải quyết vấn đề này mà còn cả cách hai bên có thể tìm kiếm những lĩnh vực có thể hợp tác chặt chẽ trên cơ sở  hai bên cùng có lợi.
Trước hết, tôi muốn nói vài lời về công ty và bản thân mình. Trước đây, tôi từng là một nhà ngoại giao Ấn Độ gắn bó với Việt Nam trong nhiều năm trên cương vị công tác là nhân vật số 2 trong Đại sứ quán Ấn Độ tại Hà Nội trong thời gian từ năm 1988 đến 1991. Thật trùng hợp ngẫu nhiên, đây cũng là giai đoạn Tổng lãnh sự quán Ấn Độ được mở  tại thành phố Hồ Chí Minh, thành phố đóng vai trò trung tâm thương mại và tài chính ở miền Nam Việt Nam.
Sau khi nghỉ hưu và ngừng làm việc trong ngành ngoại giao Ấn Độ, chúng tôi đã thành lập công ty Futurelinks International Pte Ltd tại Singapore với ý định làm cầu nối giữa các doanh nghiệp Ấn Độ tìm kiếm cơ hội thương mại và đầu tư tại Việt Nam và các nước láng giềng của các nước này. Xin vui mừng báo cáo với các quý vị rằng, chúng tôi đã khá thành công trong vấn đề này và mong muốn có nhiều cơ hội hợp tác hơn nữa giữa các doanh nghiệp Ấn Độ và Việt Nam.
1. Vài nét về ngành năng lượng ở Ấn Độ
* Sản xuất điện
Sản xuất điện ở Ấn Độ trong đầu năm 2019 ước đạt khoảng 350.000MW, trong đó, nhiệt điện chiếm khoảng 230.000 MW, năng lượng tái tạo, bao gồm cả thủy điện chiếm 120.000 MW và điện hạt nhân đạt khoảng 7.000 MW.
Điều đáng lưu ý là trong khi mức tăng trưởng hàng năm của sản xuất nhiệt điện đã chậm lại đáng kể thì sau khi bắt đầu phát triển vào năm 2012, ngành năng lượng tái tạo không thủy điện bao gồm năng lượng mặt trời và năng lượng gió đã có bước tiến lớn trong vài năm qua. Điều này phù hợp với mong muốn của Chính phủ  Ấn Độ - giảm phát triển các dự án nhiệt điện mới và thay vào đó tập trung mọi nỗ lực phát triển năng lượng tái tạo.
Sản xuất nhiệt điện ở Ấn Độ có những hạn chế cả về mặt môi trường và kinh tế. Than ở Ấn Độ có giá trị năng lượng thấp và hàm lượng tro cao và trong bối cảnh nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu, do vậy lượng than Ấn Độ phải nhập khẩu để sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện chiếm gần 30% tổng lượng than tiêu thụ trong lĩnh vực này. Người ta cũng thấy rằng, các nhà máy nhiệt điện sử dụng than ở Ấn Độ thải ra nhiều carbon dioxide hơn các nhà máy nhiệt điện sử dụng công nghệ hiện đại hơn và than có chất lượng tốt hơn. Các nhà máy nhiệt điện sử dụng khí đốt tự nhiên làm nhiên liệu cũng gặp vấn đề do không có đủ nguồn cung  khí đốt trong nước.
* Năng lượng tái tạo - Năng lượng mặt trời và gió ở Ấn Độ
Chính vì tất cả những lý do nêu trên mà Chính phủ Ấn Độ đã đặc biệt  quan tâm tới lĩnh vực sản xuất năng lượng tái tạo ở Ấn Độ. Trong khi tiềm năng thủy điện ở Ấn Độ chưa được khai thác đầy đủ, Ấn Độ có những hạn chế trong việc phát triển thủy điện do các cân nhắc về môi trường và dân số, đặc biệt là ở các khu vực đông dân cư. Do đó, các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và gió rất được chú trọng phát triển.
Ấn Độ có tiềm năng lớn về năng lượng Mặt trời vì đất nước này có nguồn bức xạ mặt trời cao và trời nắng ráo trong phần lớn thời gian trong năm. Hiểu rõ điều này, trong vài năm qua Chính phủ Ấn Độ đã thực hiện chính sách phát triển năng lượng mặt trời trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu được hỗ trợ với ưu đãi từ phía Chính phủ như: hỗ trợ tài chính cho những dự án có lợi về kinh tế song chủ đầu tư tư nhân không đủ năng lực tài chính để thực hiện, tăng khoản hoàn thuế, đảm bảo thực hiện các thỏa thuận mua điện, trợ cấp vốn cho những dự án sản xuất năng lượng mặt trời trên mái nhà, v.v. tất cả những điều này đã dẫn đến sự bùng nổ mạnh trong phát triển sản xuất điện mặt trời với nhiều công ty Ấn Độ và nước ngoài ganh đua nhau trong việc thiết lập các dự án điện mặt trời ở Ấn Độ. Với việc các dự án năng lượng mặt trời được đưa ra đấu thầu và giá thành các thiết bị giảm xuống, chi phí sản xuất loại điện năng này và biểu giá bán điện Mặt trời cũng đã giảm mạnh.
Mức giá thấp nhất hiện nay đối với một số dự án (không cần hỗ trợ tài chính từ Chính phủ) đã giảm xuống dưới 3,5 xu đô la/kWh trong các phiên đấu giá gần đây. Trong khi việc thu gom đất cần dùng cho sản xuất điện mặt trời gặp nhiều khó khăn, Chính phủ trung ương và các Chính phủ bang ở Ấn Độ đang nỗ lực giải quyết vấn đề này giúp các công ty phát triển điện Mặt trời. Kết quả của những cố gắng này đã giúp Ấn Độ vượt rất xa các mục tiêu sản xuất loại điện năng này. Sản xuất điện mặt trời đã tăng hơn tám lần kể từ năm 2014 đến nay. Mục tiêu ban đầu là phấn đấu đạt 20.000 MW điện mặt trời vào năm 2022 hiện đã được nâng lên mức 100.000 MW.
Ấn Độ cũng là một trong những thành viên sáng lập của Liên minh Năng lượng Mặt trời quốc tế, mà Việt Nam là một thành viên trong tương lai.
* Điện gió là một trọng tâm chính khác trong lĩnh vực sản xuất năng lượng tái tạo ở Ấn Độ. Được thiên nhiên ưu đãi với nguồn gió có tốc độ tốt, đặc biệt là ở miền nam và miền tây của đất nước, những nơi gió trở thành một nguồn năng lượng tái tạo cực kỳ hiệu quả bổ sung cho sự phát triển của  điện Mặt trời. Trong tổng số các dự án sản xuất điện sử dụng năng lượng tái tạo không thủy điện được thực hiện, năng lượng gió chiếm gần 50% lượng điện sản xuất từ năng lượng tái tạo. Chính phủ Ấn Độ đang đặt mục tiêu sản xuất 60.000 MW điện gió vào năm 2022 để bổ sung cho mục tiêu sản xuất 100.000 MW điện mặt trời. Trong khi các dự án phát triển điện gió ban đầu chủ yếu được thực hiện trên đất liền, thì sau này Ấn Độ đã bắt đầu thăm dò mạnh mẽ khả năng thực hiện các dự án sản xuất điện gió ở ngoài khơi, đặc biệt là ở vùng bờ biển phía tây.
Cần lưu ý rằng, tương tự như ở Việt Nam, sự phát triển các dự án điện mặt trời và điện gió ở Ấn Độ phải đối mặt với những khó khăn về thu hồi đất và kết nối với mạng lưới điện mặc dù điều này đang được chính quyền trung ương và các chính phủ bang cũng như các công ty điện lực nỗ lực giải quyết.
Bất kỳ cuộc thảo luận nào về năng lượng tái tạo sẽ không  hoàn thiện nếu không đề cập đến việc sản xuất điện sử dụng nhiên liệu sinh khối, nhưng dạng điện năng này vẫn chỉ chiếm phần nhỏ với tổng sản lượng khoảng 3.000 MW. Có dư địa để tăng thêm sản lượng điện loại này bằng cách sử dụng cả các sản phẩm chất thải nông nghiệp cũng như các dự án dựa trên việc sử dụng chất thải đô thị, nhưng điều này sẽ phụ thuộc vào các ưu đãi, v.v. cho sự phát triển đó.
* Dầu khí
Cả dầu thô và khí đốt tự nhiên đều là hai loại mặt hàng Ấn Độ  phải nhập khẩu là chủ yếu do việc sản xuất chúng ở trong nước bị hạn chế. Tổng giá trị dầu thô nhập khẩu của Ấn Độ  lên tới 120 tỷ USD mỗi năm. Dầu thô chủ yếu được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm dầu mỏ cần thiết cho hoạt động giao thông vận tải như dầu diesel và xăng trong khi khí đốt tự nhiên được sử dụng cho cả sản xuất điện cũng như cho ngành công nghiệp sản xuất  phân bón.  Do phải chi những khoản ngoại tệ lớn để mua dầu thô và khí đốt, nên Chính phủ Ấn Độ đã nỗ lực giảm sử dụng hai mặt hàng này bằng cách khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, mặt khác, Ấn Độ có đủ năng lực lọc dầu và thậm chí xuất khẩu một số sản phẩm từ dầu mỏ.
2. Khái quát về ngành năng lượng ở Việt Nam
Mặc dù không thể tự nhận là một chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng của Việt Nam, tuy nhiên, tôi sẽ xem xét một số khía cạnh nổi bật về triển vọng của ngành năng lượng ở Việt Nam, đặc biệt là với mục đích  nghiên cứu xem liệu có sự  trùng hợp với kinh nghiệm của Ấn Độ và cũng để  rút  ra một số kết luận mà dựa vào đó có thể  tạo dựng sự phối hợp giữa  các công ty năng lượng ở cả hai quốc gia.
* Sản xuất điện
Tổng công suất phát điện tại Việt Nam ước tính đạt 43.000 MW và  dự tính công suất này sẽ phải tăng với tốc độ trung bình 4.000 MW mỗi năm trong vài năm tới nhằm đáp ứng nhu cầu. Do đó, quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 (gọi tắt là Quy hoạch điện 7 điều chỉnh)  mới nhất đã được Chính phủ Việt Nam soạn thảo vào năm 2011 và được sửa đổi thêm vào năm 2016. Đây là kế hoạch phát triển điện ở Việt Nam đến năm 2020 với tầm nhìn xa hơn đến năm 2030. Đặc điểm đáng chú ý của kế hoạch này là, trái ngược với Ấn Độ, nơi sản xuất nhiệt điện gần như không có sự thay đổi, ở Việt Nam, tỷ lệ sản xuất điện sử dụng than làm nhiên liệu trước đó khoảng 35% dự kiến ​​sẽ tăng lên 43% vào cuối giai đoạn này vào năm 2020 và 49% đến năm 2025. Sản xuất điện sử dụng khí đốt sẽ giảm từ 17% xuống 15% và thủy điện từ 42% giảm xuống còn khoảng 30% trong khi  sản xuất điện từ năng lượng tái tạo bao gồm sinh khối, năng lượng mặt trời và năng lượng gió sẽ tăng gần như từ số không lên 11%.
Quy hoạch nói trên dựa trên một thực tế là tài nguyên thủy điện ở Việt Nam gần như đã đạt mức phát triển tối đa và chỉ có thể tăng ở mức không đáng kể  cho đến năm 2020. Các nhà máy nhiệt điện dùng than trong khi vẫn có thể sử dụng trong thập kỷ tới với tổng công suất 15.000 MW nhưng sẽ ngày càng phải phụ thuộc vào than nhập khẩu từ nước ngoài khi công suất lắp đặt dự kiến tăng lên 27.000 MW vào năm 2020 đến 40.000 MW vào năm 2025 và đến 56.000 MW vào năm 2030. Nguồn cung cấp khí đốt tự nhiên từ ngoài khơi ở Việt Nam vẫn có thể cung cấp nhiên liệu cho nền kinh tế trong nước nhưng Việt Nam có thể cần nhập khẩu khí đốt hóa lỏng (LNG) vào năm 2025.
* Năng lượng tái tạo
Năng lượng tái tạo có nhiều ưu điểm nhưng sẽ phải mất thời gian để phát triển và có thể phải đối mặt với những hạn chế về năng lực phát triển tổng thể năng lượng mặt trời và gió. Ngoài ra, còn có một số hạn chế khác về vấn đề này vì bức xạ mặt trời phong phú nhất ở miền Nam Việt Nam và khu vực này cũng chính là địa phương có thể phát triển các dự án điện gió. Chính phủ đã đặt ra các mức hoàn thuế hấp dẫn để phát triển điện mặt trời và điện gió nhưng có những khó khăn khác bao gồm khả năng có được diện tích đất sạch thích hợp để thực hiện các dự án cũng như khả năng phân nhánh hạn chế trong mạng lưới điện. Những khó khăn này đòi hỏi phải có thời gian để giải quyết.
* Dầu khí
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi có nguồn nhiên liệu hóa thạch bao gồm than antraxit, các nguồn dự trữ dầu khí.
Sản xuất dầu được mở rộng rất nhiều sau những năm chiến tranh đã giảm đi phần nào trong thời gian gần đây vì các mỏ đang khai thác đã giảm sản lượng. Tuy nhiên, những hoạt động thăm dò mới đây có hứa hẹn và ước tính tổng thể về trữ lượng dầu đã tăng lên. Thăm dò ở những vùng biển sâu hơn đang được thực hiện ở ngoài khơi Việt Nam. Petrovietnam, với tư cách là công ty dầu khí hàng đầu của Việt Nam cũng đang tích cực tìm kiếm nguồn tài nguyên dầu khí ở nước ngoài.
Việt Nam hiện cũng tự bảo đảm nguồn cung cấp khí đốt tự nhiên nhưng do nhu cầu ngày càng tăng có thể dẫn đến sự cần thiết phải  nhập khẩu khí đốt hóa lỏng.
3. Hợp tác giữa Ấn Độ -Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng
Những thông tin trên được đưa ra nhằm phục vụ cho việc thảo luận về khả năng hợp tác giữa Ấn Độ và Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng. Như đã đề cập ở phần đầu, năng lượng vừa là nhu cầu cấp bách về mặt  kinh tế vừa là một nhu cầu có ý nghĩa  chiến lược. Với thực tế Ấn Độ và Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, cũng thật  xứng đáng để khám phá xem liệu quan hệ đối tác đó có thể  được thực hiện như thế nào trong lĩnh vực năng lượng cực kỳ quan trọng này.
* Quan hệ đối tác trong lĩnh vực thăm dò dầu khí
Công ty ONGC Videsh của Ấn Độ là một trong những công ty nước ngoài được trao quyền thăm dò sớm nhất ở khu vực ngoài khơi của Việt Nam vào năm 1988 và đây là  biểu hiện của tình bạn và sự tin tưởng mà hai nước dành cho nhau. Lô này hiện sản xuất lượng khí đốt tự nhiên chủ yếu, do ONGC Videsh nắm 45% cổ phần với đối tác Petrovietnam và những đối tác khác trong khu vực khai thác này. Ngoài ra, ONGC Videsh cũng đã  giành được quyền thăm dò ở hai lô  nữa ở vịnh Phú Khánh năm 2006 và sau đó vào năm 2014, ONGC Videsh và Petrovietnam đã ký nghị định thư về việc đẩy mạnh hợp tác trong các hoạt động thăm dò tại một số  lô bổ sung, v.v.
Quan hệ hợp tác này không phải chỉ có một chiều vì ONGC và Petrovietnam cũng đã ký một Biên bản ghi nhớ có thể dẫn đến việc hợp tác khai thác tài nguyên dầu khí ở cả Ấn Độ và Việt Nam, và đặc biệt hơn là ở các  lô được phân bổ cho ONGC theo Chính sách cấp phép thăm dò mới (NELP) tại khu vực vịnh Andamans và Cauvery ở Ấn Độ.
Với áp lực ngày càng tăng đối với cả hai nước về đa dạng hóa nguồn dầu thô và khí đốt, tất cả những diễn biến nêu trên đều được hoan nghênh.
* Quan hệ đối tác trong lĩnh vực năng lượng
Như đã nêu trước đó về việc nhiều công ty Ấn Độ, cả các công ty nhà nước và công ty tư nhân hiện là những doanh nghiệp đủ năng lực phát triển các nguồn tài nguyên  sản xuất điện tại Ấn Độ, nơi chính phủ khuyến khích tất cả các doanh nghiệp tìm kiếm khả năng tham gia phát triển ngành điện của nước này. Một số công ty Ấn Độ có năng lực tốt về nhiệt điện như Tata đã tìm đến Việt Nam với các dự án như Long Phú 2 ở tỉnh Sóc Trăng. Tham gia cùng với công ty này có thể là những công ty khác có kinh nghiệm  chuyên môn không chỉ về phát triển các nhà máy nhiệt điện mà còn cả trong  lĩnh vực  phát triển các mỏ than để cung cấp loại than phù hợp cho các nhà máy điện như vậy.
Ngoài ra, trong khi ở Ấn Độ tồn tại một số công ty trong lĩnh vực phát triển nhiệt điện, thì hiện giờ ở nước này đã có một số lượng lớn các công ty mới và cũ hoạt động trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.
Không có gì là ngạc nhiên khi các công ty Ấn Độ vốn đã đạt được tiến bộ lớn trong việc thực hiện nhiều dự án xây dựng nhà máy điện mặt trời và  điện gió cần phải nhìn ra nước ngoài (để tìm kiếm các cơ hội) và đặc biệt, là nhìn vào Việt Nam, nơi có nhu cầu lớn về năng lượng tái tạo. Các công ty Ấn Độ như Avaada Energy, Shapoorji Pallonji, Adani Green Power, Suzlon, Hero Future Energy và Tata được cho là quan tâm đến lĩnh vực này tại Việt Nam.
Chính quyền Việt Nam và Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam đã tham gia sâu sắc và cam kết cho phép các công ty Ấn Độ có uy tín và có kinh nghiệm như vậy tim hiểu cơ hội đầu tư vào  Việt Nam.
* Tầm nhìn chiến lược và con đường phía trước
Trong khi quan hệ đối tác và hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ đang phát triển một cách đáng hài lòng, thì hiện nay việc xem xét các phương cách cụ thể để tiến lên phía trước là điều cấp bách hơn bao giờ hết.
Các doanh nghiệp Ấn Độ có thể đóng vai trò của mình nhưng một cơ chế rà soát liên tục ở cấp độ liên chính phủ và các biện pháp làm thông suốt con đường vượt qua các chướng ngại vật là rất cần thiết. Số lượng các chuyến thăm và trao đổi ở cấp cao giữa hai nước rất nhiều và Đại sứ quán ở cả hai quốc gia có vai trò rất quan trọng, cũng như các tổ chức như Liên đoàn Công nghiệp Ấn Độ (CII),  Liên đoàn các phòng thương mại và công nghiệp Ấn Độ (FICCI) và Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam Eximbank có nhiệm vụ  hỗ trợ vai trò của các đại diện nhà nước.
Cơ hội hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực năng lượng quan trọng  là rất lớn và cần có sự hợp tác công tư ở cả hai bên nơi các đại diện chính phủ có thể tham gia tích cực với các công ty tương ứng của  nước mình để kiểm tra các sáng kiến ​​trong lĩnh vực này và khuyến khích họ nhân rộng một cách hiệu quả.
Tôi vui mừng vì hội nghị này được Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức, đây là một bước tiến tốt theo hướng đó và chắc chắn sẽ mang lại kết quả tuyệt vời./.
* Chủ tịch và Giám đốc điều hành Công ty Futurelinks International Pte Ltd.

Bình luận của bạn