cis_banner_final_en.png
Chính sách ngoại giao năng lượng của Ấn Độ trong khu vực và hợp tác năng lượng với Việt Nam

05/08/2019


Chính sách ngoại giao năng lượng của Ấn Độ trong khu vực và hợp tác năng lượng với Việt Nam



Om Prakash Dahiya*TS
Tóm tắt
Ấn Độ những năm gần đây đã bắt đầu nhận ra rằng năng lượng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc thắt chặt quan hệ với các nước láng giềng. Không tuyên truyền quá nhiều, nhưng Ấn Độ đã bắt đầu có những động thái tiếp cận vấn đề này, tạo nên một mạng lưới quan hệ năng lượng rộng lớn với các nước láng giềng, bao trùm Việt nam từ phía Đông đến vùng Vịnh ở phía tây. Ấn Độ có kế hoạch hoàn thành mục tiêu bằng cách gây ảnh hưởng lên quyết định của các nước láng giềng qua việc trở thành một quốc gia ấn tượng với vai trò là trung tâm tiêu thụ và cùng lúc là nguồn cung chính xăng dầu và các sản phẩm từ xăng dầu. Các nước láng giềng của Ấn Độ không chỉ nhuốm mình trong những tác động của Ấn Độ, mà còn nổi lên như một khu vực quan trọng do sự hiện diện của Trung Quốc ngày càng tăng. Cạnh tranh Trung Ấn khá đa dạng bởi dường như nó chiếm ưu thế trong mọi lĩnh vực, dù là chiến lược, quân sự hay kinh tế. Tài nguyên chưa được tận dụng và cơ sở hạ tầng năng lượng kém chất lượng của các quốc gia láng giềng cùng với sự thật rằng sự tồn tại của chúng dường như là vô hạn, đã tăng triển vọng của các nước này trong lĩnh vực năng lượng. Một yếu tố nữa bổ trợ cho sự lên ngôi của những quốc gia này là vị trí địa lý, tại mũi Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nơi có thể nói là có lợi thế chiến lược quan trọng đáng kể. Dưới sự bảo trợ của sáng kiến Một Vành Đai, Một Con Đường của Trung Quốc, khu vực này nổi lên như một thực thể quan trọng. Cuối cùng, điều quan trọng là khu vực láng giềng Ấn Độ cần đạt được tình trạng ổn định và đoàn kết nhất định để hỗ trợ không chỉ lợi ích an inh của Ấn Độ mà còn để khởi xướng nhiều động lực trong khu vực.
Bài viết tìm hiểu về tình trạng hiện tại của ngành năng lượng Ấn Độ cùng lúc đặt bên cạnh nỗ lực của Trung Quốc trong việc thâu tóm thị trường năng lượng ở những vùng lân cận Ấn Độ. Người viết cũng khám phá cách Ấn Độ đang hợp tác với Nhật Bản và một số quốc gia khác như Việt Nam để cạnh tranh với các khoản đầu tư Trung Quốc và đảm bảo an ninh năng lượng trong khu vực. Thông qua chính sách Ngoại giao Năng lược Ấn Độ muốn hoàn thành nhiệm vụ về an ninh năng lượng và xa hơn nữa là cải thiện quan hệ với các nước láng giềng. Cuối cùng, bài viết phân tích khả năng hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng.
Mở đầu
Ấn Độ là một trong những nền kinh tế tăng triển nhanh nhất thế giới. Quốc gia này đã tăng trưởng với tốc độ nhanh chóng khoảng 7% trong 10 năm qua. Hơn thế, Ấn Độ dự kiến sẽ tăng trưởng hơn 7% nữa trong thập kỷ tới. Để chuẩn bị cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới và phục vụ nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, Ấn Độ đòi hỏi rất nhiều năng lượng. Trên diện tích 1,26 triệu dặm vuông với cảnh quan đa dạng và địa hình trắc trở, Ấn Độ có khoảng 1,2 tỷ người và nhu cầu của họ ngày càng tăng. Thời điểm hiện tại Ấn Độ đang nhập khẩu hơn 80% nhu cầu dầu và khoảng 40% nhu cầu khí tự nhiên. Trong lịch sử, nguồn năng lượng Ấn Độ nhập khẩu chủ yếu từ Trung Đông.
Trong bối cảnh nói trên, điều tiên quyết với Ấn Độ là nước này cần nỗ lực củng cố chỗ đứng của mình trong khu vực có sự tương đồng cấp thiết về chiến lược và nền kinh tế. Khu vực các nước láng giềng rất quan trọng bởi các lý do sau đây. Trước hết, đây là nơi chịu ảnh hưởng chính từ Ấn Độ và đã nổi lên như một khu vực cạnh tranh quan trọng giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Bản chất của một cuộc cạnh tranh như vậy rất đa dạng. Cuộc cạnh tranh không chỉ giới hạn về vấn đề chiến lược và thiết lập quân đội mà còn bao gồm cả việc ganh đua về mức độ tối ưu tài nguyên thiên nhiên và tiềm lực kinh tế khổng lồ của khu vực. Thứ hai, sự cạnh tranh và tương tác qua lại giữa đa dạng các bên liên quan trong khu vực cũng ảnh hưởng tới động lực luôn thay đổi trong bối cảnh tiềm năng của khu vực này trong lĩnh vực năng lượng hầu như vẫn chưa được tối ưu. Thứ ba, các nước láng giềng của Ấn Độ đang ngày một nổi bật nhờ vị trí địa lý đắc địa trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đang được tín nhiệm về mặt chiến lược và đối ngoại với các quốc gia như Hoa Kỳ (Mỹ), Nhật Bản, Úc và Ấn Độ. Trong khi Trung Quốc nhìn nhận khu vực này như một kế sách tiềm năng giải quyết vấn đề Malacca, Ấn Độ và Nhật Bản lo lắng về hàng loạt các khoản đầu tư của Trung Quốc vào đây. Thứ tư, bên cạnh các yếu tố khách quan, môi trường nội địa của những nước láng giềng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các động lực trong vùng. Sự bất ổn trong khu vực sẽ lan toả ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho lợi ích an ninh của Ấn Độ và điều này, chính vì vậy, càng nhấn mạnh tính quan trọng của việc Ấn Độ chủ động có động thái can thiệp vào sự ổn định của khu vực.
Các khu vực lân cận Ấn Độ đang chưa có khả năng tăng trưởng kịp với tiềm năng và vấn đề này đã tồn tại rất lâu trong khu vực bởi còn nhiều tiềm năng chưa được khai phá trong lĩnh vực năng lượng so với các ngành khác. Trong bối cảnh ngành năng lượng của các nước láng giềng còn kém phát triển và chưa được khai thác, điều đáng lưu ý là ngành công nghiệp năng lượng có mối liên hệ phía trước và phía sau với vô số những ngành khác và vì thế nó có thể thúc đẩy sản xuất ở các ngành khác. Bởi sở hữu nguồn tài nguyên năng lượng chưa được tối ưu hoá và cơ sở hạ tầng năng lượng còn kém phát triển, khu vực các quốc gia lân cận đã cho thấy triển vọng đầu tư lớn trong những lĩnh vực điện và năng lượng của các quốc gia như Bangladesh, Sri Lanka và Myanmar. Những khoản đầu tư này này chắc chắn sẽ gặt hái được lợi nhuận theo cấp số nhân trong khoảng thời gian dài và có khả năng sẽ hỗ trợ cho quá trình phát triển của vùng láng giềng Ấn Độ. Khi triển vọng lợi nhuận đầu tư cao và liên kết mạnh với các ngành công nghiệp trong nước cho thấy dấu hiệu tích cực, các cường cuốc toàn cầu đã bắt đầu thể hiện mối quan tâm đến vùng lân cận Ấn Độ.
Các bên liên quan chính trong khu vực bao gồm Ấn Độ, Nhật Bản và Trung Quốc. Trong khi Ấn Độ có lịch sử gây ảnh hưởng lên các nước lân cận, Trung Quốc đang nổi lên như một nhân vật chủ chốt trong khu vực với hàng loạt các khoản đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng được hỗ trợ bởi Sáng kiến Một Vành Đai, Một Con Đường của nước này. Nhật Bản cũng đã liều mình can thiệp vào cơ sở hạ tầng năng lượng của khu vực và cho thấy tầm quan trọng đặc biệt với Ấn Độ trong bối cảnh lợi ích chiến lược của Ấn Độ tương thích với lợi ích của người Nhật trong khu vực. Thực tế là các khoản đầu tư của Trung Quốc đang hình thành nên mối đe doạ cho bộ máy an ninh khu vực cần được công nhận và Ấn Độ cũng như Nhật Bản phải hợp tác tích cực trong ngành năng lượng từ đó đưa ra giải pháp kết nối thay thế trong khu vực. Tuy nhiên, điều quan trọng trước tiên là phải thấu hiểu các bên liên quan đang hoạt động ra sao trong khu vực và phần tiếp theo sẽ làm rõ vấn đề này.
Nhật Bản đã cho thấy sự quan tâm đáng chú ý đến lĩnh vực năng lượng trong khu vực. Sự hiện diện của Nhật Bản đã được thấy ở các quốc gia như Sri Lanka, Myanmar và Bangladesh. Tokyo cũng đã mở rộng giới hạn liên kết với Ấn Độ trong ngành năng lượng. Vốn đầu tư của Nhật Bản và các đổi mới công nghệ cao của nước này đã khiến nó trở thành một đóng góp tích cực cho tiến trình an ninh năng lượng của khu vực. Các công ty Nhật Bản đã liên doanh với nhiều công ty than và dầu từ Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka và Myanmar.
Trung Quốc đang cho thấy sự can thiệp vào khu vực các nước láng giềng Ấn Độ tăng cường theo thời gian. Đầu tư của Trung Quốc vào Myanmar có ý nghĩa đặc biệt. Trung Quốc, như là một phần của kế hoạch bảo đảm an ninh năng lượng và giải quyết vấn đề nan giải Malacca, đã kết nối Côn Minh ở tỉnh Vân Nam với Kyaukphyu ở bang Rakhine Myanmar bằng một đường ống dẫn đầu và khí tự nhiên. Cùng lúc, đường ống dẫn dầu Trung-Myanmar và sự hiện diện của Trung Quốc trong khu vực là vấn đề đáng quan ngại cho các lợi ích về an ninh của Ấn Độ, cần lưu ý rằng, mối lo Myanmar đang trở thành “Bờ biển thứ hai” của Trung Quốc đang bị thổi phồng. Jha đã nhấn mạnh rằng, Myanmar đã liên tục bày tỏ quan ngại với Trung Quốc về dự án và chỉ dùng “lá bài Trung Quốc” để dành được những đầu tư kỹ thuật-thương mại tốt nhất từ Ấn Độ và Nhật Bản. Lập luận trên có cơ sở bởi dự án đường ống dẫn dầu Trung Quốc-Myanmar đã bị trì hoãn do thiếu thông quan từ chính phủ Myanmar và chỉ được bắt đầu hoạt động sau nhiều năm chậm trễ. Reuters, trong một báo cáo vào ngày 21/03/2017, đã dẫn lời một quan chức giấu tên từ PetroChina rằng, “Có nhiều câu hỏi về tình hình kinh tế và tương lai hợp tác với Myanmar đặc biệt khi có nhiều dự án chậm trễ và chưa được tối ưu”. Tuy nhiên, bên cạnh những căng thẳng, sự hiện diện của Trung Quốc trong lĩnh vực dầu khí vẫn cho thấy tầm quan trọng đáng kể. Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc vận hành hai dự án phát triển và sản xuất dầu khí trên bờ, một dự án thăm dò và phát triển vùng nước sâu, xây dựng các nhà máy hoá chất và các đường ống.
Ở Bangladesh, người Trung Quốc đã ký một hiệp ước liên doanh với Bangladesh để xây dựng các nhà máy nhiệt điện than và sản xuất 1320 MegaWatt điện. Các nhà máy sẽ được xây dựng ở Dhankhali thuộc quận Patuakhali của Bangladesh. Thoả thuận này trị giá 1,56 tỷ USD và có quy mô nhỏ hơn rất nhiều các dự án điện do Nhật Bản tài trợ gần Cox Bazar nơi Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã cho Công ty Sản xuất điện than Bangladesh vay 3,7 tỷ USD. Tuy vậy, Trung Quốc đang có xu hướng đầu tư vào Bangladesh và đang nỗ lực hết sức để trở thành thành phần chủ chốt trong lĩnh vực năng lượng ở Bangladesh. Trung Quốc cũng đang cho thấy sự quan tâm tương tự ở Sri Lanka. Công ty Trung Quốc có tên gọi Tập đoàn Kỹ thuật máy móc Trung Quốc đang xây dựng nhà máy điện than trị giá 1,3 tỷ USD ở Norocholai, Sri Lanka, khả năng để đáp ứng nhu cầu điện của Sri Lanka.
Ấn Độ đã bắt đầu xem năng lượng như một công cụ quan trọng để củng cố mối quan hệ với các nước láng giềng trong khu vực. Như đã đề cập ở trên, khu vực này thiếu điện và năng lượng và đòi hỏi số tiền đầu tư khổng lồ trong những năm tới. Cũng đáng lưu tâm rằng, hợp tác trong khu vực chỉ có thể đảm bảo sự tiến bộ nhanh chóng bởi Ấn Độ không thể tự mình giải quyết vấn đề mất an toàn năng lượng. Ấn Độ vì thế có thể hướng tới an ninh năng lượng trong khu vực và đảm bảo các mục tiêu phát triển của các nước lân cận được chắc chắn nhờ sự hợp tác với các cường quốc đang đối mặt với cạnh tranh từ Trung Quốc. Hiện nay, đóng góp của Ấn Độ đang ngày một cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế Trung Quốc đang chứng kiến sự suy giảm và khả năng tăng trưởng của Ấn Độ đang hồi sinh.

Section 1.01Chiến lược ngoại giao năng lượng trong thời kỳ Chính phủ Liên minh dân chủ quốc gia

Trong thời kỳ Chính phủ vừa qua, chính sách ngoại giao năng lượng của Ấn Độ đã được thúc đẩy mạnh mẽ. Trong nhiều chuyến thăm nước ngoài, Thủ tướng Narendra Modi đã đảm bảo rằng, an ninh năng lượng đang nhận được sự quan tâm đúng mức. Ông đã ký một số thoả thuận năng lượng ở cấp độ song phương và đa phương, thể hiện rằng, an ninh năng lượng sẽ nhận được sự lưu tâm lớn hơn trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ theo luật Chính phủ Liên minh dân chủ.
Khía cạnh thứ nhất của chính sách ngoại giao năng lượng là Chính phủ Ấn Độ đã tiếp cận với các nước láng giềng thông qua các cơ chế song phương và khu vực. Ở cấp độ song phương, quốc gia này đã cải thiện đáng kể thoả thuận về năng lượng với những nước láng giềng nhỏ hơn. Trong chuyến viếng thăm của Thủ tướng Ấn Độ đến Bangladesh, hai quốc gia đã đồng ý hợp tác trong một loạt các vấn đề về năng lượng bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau.
Ở cấp độ khu vực, bước quan trọng đầu tiên trong nỗ lực hội nhập về năng lượng chính là việc ký kết Thoả thuận Năng lượng SAARC về hợp tác điện lực vào tháng 11 năm 2014. Ý tưởng đằng sau thoả thuận này có tới gấp đôi lợi ích. Trước hết, để giúp các nước láng giềng Nam Á nhỏ hơn vượt qua khủng hoảng năng lượng tại các nước này. Thứ hai, bằng việc đặt các nước Nam Á trong khuôn khổ năng lượng của khu vực, Chính phủ Ấn Độ ra sức tạo tiền đề để đem lại sự ổn định chính trị và hội nhập kinh tế cho các nước Nam Á.
Khía cạnh thứ hai mà chính sách năng lượng của Ấn Độ đề cập đến chính là làm mới các mối quan hệ cũ. Bởi vậy, người ta có thể thấy Ấn Độ đang nối lại mối quan hệ với các nước Pháp và Canada, những quốc gia trước đây đã tẩy chay việc xuất khẩu công nghệ hạt nhân và các vật liệu thiết yếu đến nước này. Theo tuyên bố chung, Canada đã đồng ý cung cấp 3000 tấn Uranium cho Ấn Độ. Tương tự, Pháp cũng đã đồng ý cung cấp linh kiện để giúp Ấn Độ xây dựng lò phản ứng hạt nhân.
Khía cạnh thứ ba trong chính sách năng lượng của Ấn Độ chính là thiết lập mối quan hệ với những đối tác sẵn sàng hợp tác. Lý do đằng sau chính là việc muốn mở rộng và đa dạng hoá nền tảng của các nguồn năng lượng, trong phạm vi có thể. Trong trường hợp nhập khẩu khí tự nhiên, cảm thấy rằng việc cung cấp khí tự nhiên từ Iran đang ngày càng khó khăn do các lệnh trừng phạt hiện hành của Hoa Kỳ và thực tế là nhập khẩu LNG (khí tự nhiên hoá lỏng) từ Hoa Kỳ bị ràng buộc bởi các điều kiện và điều khoản lập pháp, Chính phủ Ấn Độ đã có ý thức tìm kiếm cơ hội về năng lượng ở những nơi khác.
Điển hình, trong chuyến viếng thăm tới Úc của Thủ tướng N. Modi, hai quốc gia đã đồng ý hợp tác trong thương mại khí tự nhiên. Theo một báo cáo của Business Standard vào 10/02/2015, nhập khẩu LNG từ Úc được giá hời hơn so với khí tự nhiên tương tự nhập khẩu từ Qatar. Cũng khác với nhập khẩu LNG từ Hoa Kỳ, LNG từ Úc không đi kèm bất cứ điều kiện hay điều khoản nào.
Chính phủ Ấn Độ cũng áp dụng chiến lược tương tự trong ngành dầu khí. Theo như một số báo cáo trên phương tiện truyền thông, nhận thức được sự bất ổn liên quan đến các vấn đề về chính trị và an ninh ở các nước Tây Á, Chính phủ Ấn Độ đã nỗ lực gia tăng lượng dầu nhập khẩu từ các nước châu Phi và Nam Mỹ.
Về vấn đề năng lượng hạt nhân, Ấn Độ bày tỏ sẵn sàng hợp tác với các quốc gia như Trung Quốc, Kazakhstan và Úc. Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, Ấn Độ đã bắt tay với Hoa Kỳ và Trung Quốc trong việc tăng cường sử dụng các công nghệ năng lượng sạch. Kể cả trong lĩnh vực than đá, Chính phủ cũng đã áp dụng chính sách thiết thực hơn. Nhận thấy rằng, việc giảm thiểu đóng góp của than trong tổng hỗn hợp năng lượng của Ấn Độ sẽ tốn nhiều thời gian hơn dự kiến ban đầu, Chính phủ đã quyết định xây dựng thêm các nhà máy nhiệt điện than hiệu quả với sự hợp tác của Nhật Bản.
Việc Chính phủ Ấn Độ duy trì động lực được thấm nhuần trong chính sách ngoại giao năng lượng của mình là vô cùng hợp lý. Cùng lúc phải giữ được sự nhiệt tình trong việc thúc đẩy các mối quan hệ với các đối tác về năng lượng với các quốc gia khác nhau, Chính phủ cũng cần nỗ lực đáng kể trong việc củng cố mối quan hệ về năng lượng với những nhà cung cấp truyền thống ở Tây Á và các quốc gia vùng vịnh. Ví dụ, lấy trường hợp của Iran, chuyên gia về năng lượng và các nhà nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu và phân tích quốc phòng, New Delhi - Shebonti Ray Dadwal tranh cãi rằng, Chính Phủ Ấn Độ cần giữ Iran tham gia để đảm bảo lợi ích về năng lượng của mình. Ấn Độ không được thờ ơ trước tình hình địa chính trị toàn cầu liên quan đến dầu thô bởi nước này đã khởi xướng cho sự tăng vọt của giá cả và sự biến động cao. Xét tình hình chính trị dầu mỏ toàn cầu mà Hoa Kỳ đang nắm thế chủ chốt. New Delhi có thể sẽ mất hai nhà cung cấp dầu chính của mình là Venezuela và Iran. Đối với một quốc gia mà lệ thuộc tới hơn 85% vào nhập khẩu để đáp ứng được nhu cầu dầu thô của mình, Ấn Độ cần lưu tâm thực hiện chính sách năng lượng của mình để đảm bảo các quyết định về thương mại không bị can thiệp bởi người ngoài. Dù nguồn cung dầu thô sẽ không phải một mối lo ngại trước mắt của Ấn Độ, giá cả vẫn chắc chắn là một yếu tố như vậy. Giá dầu thô đắt đỏ không chỉ làm giảm dự trữ ngoại hối của Ấn Độ và do đó ảnh hưởng cả tình hình tài chính quốc gia, mà còn đẩy giá bán lẻ nhiên liệu tăng lên.
Theo Narendra Taneja, một chuyên gia về năng lượng thì “Ấn Độ có thể sẽ phải trá giá nếu quốc gia này ngừng nhập khẩu dầu từ Iran hoàn toàn. Nền kinh tế nhập khẩu dầu từ Iran được cho là thuận lợi hơn so với nhập khẩu từ các nhà xuất khẩu vùng vịnh khác. Nói một cách đơn giả, dầu Iran rẻ hơn”.
Theo báo cáo mới nhất từ Vanda Insights, thị trường thế giới sắp mất đi 1,7 triệu thùng dầu thô và khí ngưng tụ từ Iran mỗi ngày đặt trong bối cảnh kết thúc miễn trừ 6 tháng của Hoa Kỳ với các chế tài chống lại ngành vận tải và dầu mỏ của Cộng hoà Hồi giáo được áp đặt vào tháng 11-2018. Trong giai đoạn 2018-2019, Ấn Độ đã nhập khẩu khoảng 227 triệu tấn (87%) dầu thô. Iran và Venezuela tính đến tháng 4 - tháng 12/2018 lần lượt là nhà cung cấp thứ ba và thứ tư cho Ấn Độ.
Các nhà máy lọc dầu nội địa như Tập đoàn Dầu khí Ấn Độ và Nhà máy lọc dầu và hoá chất Mangalore chưa ký kết một hợp đồng mới nào với Iran kể từ khi hợp đồng gần nhất hết hạn vào tháng 4. Ấn Độ, vì vậy, dự kiến có thể sẽ mất một nhà cung cấp lâu năm cung cấp những điều khoản thương mại tốt - không tính đến việc miễn phí vận chuyển, quốc gia này hỗ trợ một khoản tín dụng cho các giao dịch mua - rẻ hơn gần 50-60 cent so với những nơi khác.
Ấn Độ chắc chắn không hy vọng giá dầu thô đang gia tăng sẽ buộc Hoa Kỳ phải nới lỏng lệnh cấm, cho phép Iran xuất khẩu một lượng dầu sang các thị trường quốc tế. Các thị trường thay thế ở Tây Á, châu Phi, Đông Nam Á và các đối tác truyền thống như Nga cần được xem xét.
Chính sách Ngoại giao Năng lượng của Ấn Độ trong khu vực các nước láng giềng
Tuy nhiên, New Delhi phải đối mặt với một tình thế nan giải về mặt chiến lược khi thực thi các dự án về năng lượng trong khu vực các nước láng giềng. Tình thế khó xử này liên quan chặt với mô hình nhà nước mà các quốc gia dân chủ có thị trường tự do và mở cửa đi theo. Ấn Độ không thể hướng dẫn những công ty tư nhân của mình đầu tư vốn của họ theo một cách nào đó nhất định hay vào các lĩnh vực có lợi ích về mặt chiến lược cho Ấn Độ. Điều này trái ngược hoàn toàn với mô hình đầu tư của Trung Quốc nơi các công ty nhà nước được Chính phủ chỉ đạo để định hướng những nguồn lực của họ trong các lĩnh vực có lợi ích chiến lược. Ở Trung Quốc, các tập đoàn và các công ty chỉ đóng vai trò như một nhánh mở rộng của nhà nước và vì thế, thực thi những kế hoạch của mình với một mục tiêu nhất định. Vấn đề nan giải này cần được giải quyết bằng cách khuyến khích các công ty dầu khí đầu tư vào các khu vực đem lại lợi ích chiến lược cho Ấn Độ.
Công ty dầu khí nhà nước của Ấn Độ như Công ty TNHH Dầu khí Ấn Độ (OIL), Tập Đoàn Dầu khí Tự nhiên (ONGC) và Tập đoàn dầu khí Ấn Độ (IOC) cùng các công ty con của chúng đã đầu tư vào các khối dầu khí lớn ở Bangladesh, Sri Lan ka và Myanmar.
Bangladesh
Ở Bangladesh, OIL vận hành Lô SS-04 và Lô SS-09 trong tương quan hợp tác với OVL (45%) và BAPEX (10%). Bên cạnh tài sản của các công ty công Ấn Độ, Ấn Độ đã nỗ lực thâm nhập vào thị trường kinh doanh đồng bộ hoá lưới khí, cung cấp dầu diesel và xây dựng các nhà máy điện và đường ống dẫn khí đốt ở Bangladesh. Trong lĩnh vực tư nhân. Công ty TNHH Power and Adani Power đã ký các thoả thuận trị giá lần lượt 1 tỷ USD và 2 tỷ USD để xây dựng giai đoạn đầu của nhà máy điện Meghnaghat cung cấp năng lượng cho Bangladesh từ nhà máy điện Adani ở Jharkhand. Thêm vào đó, Ngân hàng EXIM của Ấn Độ cũng đang tài trợ cho dự án trị giá 1,6 tỷ USD để xây dựng Dự án Điện Maitree 1.320MW ở Rampal. New Delhi đã cam kết đầu tư tổng cộng 9 tỷ USD vào lĩnh vực điện lực và năng lượng ở Bangladesh.
Sri Lanka
Sri Lanka, gần đây, đã gia tay chấp thuận và hoan nghênh khí thiên nhiên hoá lỏng Petronet của Ấn Độ được xây dựng nhà ga nhập khẩu khí lỏng ở bờ Tây của Sri Lanka, láng giềng Colombo. Bước tiến này đánh dấu một thành tựu quan trọng của Ấn Độ và thành công của nước này trong ngoai giao năng lượng cũng như đưa ra tuyên bố về sự nổi lên của Ấn Độ với tư cách một cầu nối khí đốt cho khu vực Nam Á.
Các khoản đầu tư và sự hiện diện của Ấn Độ trong lĩnh vực năng lượng của Sri Lanka cũng rất đáng kể. IOC Lanka, một công ty con của IOC, chiếm lĩnh tới 43,5% tổng thị phần và do vậy trở thành một cổ đông lớn trong ngành công nghiệp dầu khí ở Sri Lanka. Ấn Độ và Sri Lanka đang cùng phát triển trang trại bể chứa dầu Trincomalee. Hiện tại, IOC Lanka vận hành mười lăm cơ sở lưu trữ tại Trincomalee. Ấn Độ cũng đã đầu tư vào hệ thống vận chuyển và lưu trữ khí thiên nhiên hóa lỏng bằng đường biển (Floating Storage Regasification Unit) FSRU, nhà ga khí đốt tự nhiên hoá lỏng và một nhà máy điện đốt LNG 500 Megawatt ở Colombo. Tính đến đóng góp của Ấn Độ cho ngành năng lượng sạch ở Sri Lanka, Ấn Độ đã đầu tư vào nhà máy điện mặt trời Sampur có công suất 50 megawatt.
Myanmar
Ở Myanmar, Tập đoàn dầu khí Ấn Độ Videsh vận hành lô A-1, A-3, AD-2, AD-3 và AD-9 trong khi OIL vận hành Lô YEB và Lô M-4. Các lô được vận hành bởi OIL ở Myanmar hợp tác với công ty TNHH Mercator (25%), Công ty Năng lượng Oilmax (10%) và Oil Star (5%). Ấn Độ không chỉ cung cấp dầu dielsel từ nhà máy lọc dầu Numaligarh ở Assam cho Myanmar mà còn đang mạo hiểm vào lĩnh vực lưu trữ và phân phối LPG ở Myanmar. Dù giàu tài nguyên năng lượng, Myanmar phải cung cấp tới 80% lượng khí đốt cho Trung Quốc do ràng buộc như vậy trong thoả thuận về đường ống của hai nước. Sau khi hoàn thành dự án vận tải đa phương thức Kaladan, việc cung cấp LNG cho Aizawl có thể được khởi xướng. Nhà máy lọc dầu Assam là Nmaligarh giúp Ấn Độ cung cấp dầu diesel cho Myanmar, và thậm chí việc thành lập nhà ga LNG ở Sittwe đang đươc Ấn Độ cân nhắc để cung cấp được phụ phẩm năng lượng cho Myanmar. Ấn Độ cũng có kế hoạch lưu trữ và phân phối LPG ở Myanmar. Ấn Độ cũng sở hữu nguồn nhập khẩu tiềm năng về phía Đông Bắc của nước mình chính là Myanmar. Lợi thế chính với Myanmar chính là mối quan hệ thân tình với Ấn Độ và việc có chung đường biên giới với phần Đông bắc Ấn Độ. Myanmar có một nguồn dự trữ lớn chưa được khai thác. Theo báo cáo đánh giá số liệu thống kê của BP năm 2016 Myanmar có 18,7 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên với tỷ lệ R/P là 27 năm. Nhưng cho đến giờ những khoản đầu tư của Ấn Độ vào Myanmar dù là đáng kể nhưng vẫn còn rất ít so với Trung Quốc. Theo một báo cáo trên Tạp chí An ninh năng lượng Ấn Độ, khoản đầu tư vào ngành dầu khí của Ấn Độ vào khoảng 1,6 tỷ USD, trong khi của Trung Quốc là khoảng 8 tỷ USD. Đường ống khí đốt Trung-Malaysia trị giá 1,04 tỷ USD đã đi vào hoạt động từ năm 2013 vận chuyển 423,72 tỷ feet khối khí tự nhiên sang Trung Quốc hàng năm. Thiếu kinh phí và sự phối hợp giữa các công ty tư nhân và nhà nước đã dẫn đến việc Ấn Độ thua các thầu quan trọng cho các quốc gia khác vì thế tác động đến ý định của Ấn Độ trong việc đảm bảo cung cấp năng lượng dài hạn.
1)Mauritius
Một trong những nước đồng minh thân thiết nhất của Ấn Độ, Mauritius, đã luôn luôn có tiềm năng to lớn để trở thành nhân tố hạt nhân mạnh mẽ trong lưu trữ và khai thác xăng dầu, Ấn Độ đã được phép thử sức trong lĩnh vực này. Nước này đã bắt đầu cấp các sản phẩm dầu khí đến Mauritius từ nhà máy lọc dầu Mangalore. Những cơ sở lưu trữ được xây dựng ở Mauritius có thể được Ấn Độ sử dụng để tiếp thị các sản phẩm dầu mỏ của mình ra khắp châu Phi.
2)Indonesia
Liên doanh mới nhất của Ấn Độ, một hệ thống vận chuyển và lưu trữ khí thiên nhiên hóa lỏng (FSRU), ở Indonesia, sẽ mở đường cho phép nước này được cung cấp năng lượng cho nhiều hòn đảo của mình mà không gặp bất kỳ trở ngại nào. Indonesia sẽ đáp trả lại sự ủng hộ bằng việc tặng các bộ dụng cụ LNG cho phương tiện giao thông Ấn Độ. Hai quốc gia cũng đã đồng thuận hợp tác trong các vấn đề như nâng cấp nhà máy lọc dầu Indonesia, di chuyển nhà máy khí đốt của Ấn Độ sang Indonesia, trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực sử dụng đèn LEDs và năng lượng tái tạo ở Ấn Độ, thăm dò trong ngành dầu, khí và than đá,...
Nepal & Bhutan
Hợp tác năng lượng của Ấn Độ, Nepal và Bhutan đã trường tồn qua thử thách của thời gian, với việc Ấn Độ giúp hai nước kia khai thác và tận dụng nguồn dự trữ thuỷ điện dồi dào giúp hai nước tự chủ khi có nhu cầu về điện. Hy vọng rằng, tất cả các sáng kiến này đặt nền móng cho Ấn Độ, Bhutan, Nepal và Bangladesh giúp khám phá các cách thức chia sẻ điện theo một số thoả thuận đa phương.
Đặc điểm đầu tiên và cũng khá quan trọng của ngoại giao năng lượng Ấn Độ là tiếp cận trực tiếp các nước láng giềng và cố gắng ảnh hưởng cũng như thâu tóm họ qua cơ chế song phương và khu vực. Tính riêng cơ chế khu vực, việc ký kết thoả thuận năng lượng SAARC về hợp tác điện năm 2014 là một bước ngoặt quan trọng bởi sự hợp tác này sẽ cho phép khung năng lượng khu vực bao trùm lên các nước Nam Á và hỗ trợ các nước nhỏ hơn khi gặp khủng hoảng năng lượng. Đặc điểm thứ hai tập trung vào việc làm mới mối quan hệ với các nước như Pháp và Canada. Cả hai đều đồng ý hỗ trợ, với Canada cung cấp 3000 tấn Uranium và Pháp hỗ trợ Ấn Độ sản xuất lò phản ứng hạt nhân. Đặc điểm thứ ba nhấn mạnh vào việc xây dựng mối quan hệ mới nhằm khuếch đại và đa dạng hoá các nguồn năng lượng. Về năng lượng hạt nhân, Ấn Độ đang bắt đầu hợp tác với Trung Quốc, Kazakhstan và Úc và về năng lượng tái tạo, Ấn Độ đã bắt đầu tham gia với Hoa Kỳ và Trung Quốc. Nhật Bản đang giúp Ấn Độ làm cho các nhà máy nhiệt điện than hoạt động hiểu quả. Bởi vậy, có thể tóm tắt lại rằng ngoại giao năng lượng của Ấn Độ phụ thuộc vào việc phát triển sự phụ thuộc lẫn nhau.
Đầu tư của Ấn Độ vào lĩnh vực năng lượng ở các nước láng giềng đang tăng lên trong thời gian gần đây, tuy nhiên, nỗ lực của Ấn Độ để tăng cường sự hiện diện trong khu vực phải đối phó với các khoản đầu tư của Trung Quốc. Trung Quốc có dự trữ hối đoái hơn ba nghìn tỷ USD để đầu tư. Tuy nhiên, dự trữ của Trung Quốc hiện đang giảm và đã giảm từ mức cao trước đó là bốn nghìn tỷ USD do sự phát triển chậm lại của nền kinh tế Trung Quốc, theo Thời báo Toàn cầu dự trữ ngoại hối vào tháng 5 năm 2017 ở mức 3,05 nghìn tỷ USD. Nhật Bản là quốc gia duy nhất sở hữu hơn một nghìn tỷ USD dự trữ ngoại hối. Trước thực tế Trung Quốc có thể huy động một lượng lớn tài nguyên và vốn để theo đuổi mục đích của mình, điều kiện bắt buộc cho Ấn Độ là tìm kiếm hợp tác với Nhật Bản để có được mối quan hệ cùng có lợi trong khu vực. Trước hết, Ấn Độ và Nhật Bản là minh chứng cho hai nền dân chủ ổn định và thành công nhất thế giới. Hai quốc gia dễ dàng làm việc cùng nhau vì có các thể chế tương đồng và triết lý quản trị như nhau. Cả hai cũng có chung một đối thủ cạnh tranh là Trung Quốc và cả hai quốc gia có tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết với Trung Quốc. Thứ hai, người Nhật, nhờ cam kết cho một tương lai bền vững, đã đầu tư nguồn lực khổng lồ để trở thành một nhà lãnh đạo thế giới về năng lượng mới và tái tạo. Đổi mới của Nhật Bản sẽ dẫn lối con đường tới thị trường có tiềm năng lớn ở Ấn Độ và các nước láng giềng. Ấn Độ có thể sử dụng công nghệ của Nhật Bản để thoả mãn sản xuất đáp ứng nhu cầu năng lượng thông qua các nguồn năng lượng sạch hơn như năng lượng mặt trời và năng lượng gió. Sử dụng công nghệ vượt trội và đổi mới trong lĩnh vực nhiên liệu sạch có thể giúp cả hai quốc gia khiến cho công nghệ trở nên hiệu quả và tiết kiệm chi phí. Thứ ba, liên doanh Ấn Độ và Nhật Bản tại các quốc gia láng giềng cũng sẽ là một bước đột phá đáng hoan nghênh đối với các quốc gia đang mắc nợ Trung Quốc. Liên doanh song phương và đa phương với Ấn Độ và Nhật Bản là mối quan tâm của các quốc gia như Bangladesh, Myanmar và Sri Lanka bởi nó mang lại cho họ các thoả thuận thương mại-kỹ thuật tốt mà không phải chịu áp lực của Trung Quốc. Do đó, có sự hội tụ lợi ích giữa các quốc gia láng giềng của Ấn Độ trong vấn đề cơ sở hạ tầng và an ninh năng lượng.
Hợp tác năng lượng Ấn Độ - Việt Nam
Khai thác dầu khí là một lĩnh vực hợp tác quan trọng giữa Ấn Độ và Việt Nam trong bối cảnh các công ty Ấn Độ đang đầu tư đáng kể vào lĩnh vực này. Hợp tác năng lượng đã đóng một vai trò chủ chốt trong việc đưa hai quốc gia lại gần nhau hơn. Tập đoàn dầu khí Ấn Độ Videsh Ltd. (OVL)  hiện đang nắm giữ hai tài sản ở Việt Nam. Lô 06.1 là một khối tài sản đang sản xuất và Lô 128 là một khối tài sản thăm dò. Lô 06.1, nơi OVL có tới 45% lãi tham dự (PI), đang sản xuất hơn 2 tỷ mét khối (BCM) khí tự nhiên và 0.036 triệu tấn metric (MMT) khí ngưng tụ. Mặt khác, Lô 128, nơi OVL có 100% lãi tham dự (PI) lại tỏ ra kém hiệu quả về mặt kinh tế do những hạn chế nghiêm trọng về hậu cần trong việc neo giàn khoan dưới đáy biển tại vị trí được đề xuất. Năm 2012, những khó khăn về mặt kỹ thuật này đã gần như khiến New Delhi phải từ bỏ hoạt động thăm dò trong Lô 128. Để giảm thiểu rủi ro khi thăm dò trong khối, OVL đã bắt đầu tìm kiếm các đối tác và hiện đang đàm phán với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Chuyến thăm năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ Susham Swaraj tới Hà Nội từ 24-26/08 đã nhấn mạnh xu hướng này. Trong cuộc gặp với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, bà Swaraj, Ngoại trưởng Ấn Độ, trao đổi về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ “Chính sách Hướng Đông” thành chính sách “Hành động phía Đông”. Bà S. Swaraj cho biết, Ấn Độ đã đang tham gia và cam kết mở rộng hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực dầu mỏ, Bà cũng thảo luận về tính khả thi của việc thăm dò năm trên bảy khối dầu do Việt Nam cung cấp vào tháng 11 năm 2013.
Việc gia hạn thường xuyên giấy phép của Ấn Độ cho Lô 128 và biểu hiện mong muốn thăm dò dầu khí ở năm khối mới chắc chắn thể hiện một động thái chủ động hơn về chính sách trong khu vực. Nhiều người ở Ấn Độ cũng nhìn nhận việc này như quyết tâm bảo vệ lợi ích chiến lược của New Delhi trong khu vực.
Tiểu ban đảm bảo hợp tác năng lượng nguyên tử Việt Nam - Ấn Độ
Việt Nam đã quyết định thành lập một Tiểu ban trong Ủy ban liên tịch Việt Nam - Ấn Độ về hợp tác năng lượng nguyên tử. Tiểu ban sẽ giúp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc điều phối các hoạt động hợp tác trong ủy ban liên tịch và tăng cường quan hệ đối tác cũng như thực hiện thỏa thuận giữa Việt Nam và Ấn Độ trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử cho mục đích hòa bình. Đây sẽ là nút phối hợp để các bộ, ngành và các cơ quan thực hiện thỏa thuận, đảm bảo hoạt động hiệu quả của Ủy ban liên tịch. Đồng thời, tiểu ban này sẽ tổ chức hoặc làm việc với phía Ấn Độ để tổ chức các cuộc họp cho Ủy ban liên tịch. Tiểu ban sẽ do một Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đứng đầu và có một thành viên thường trực, một thư ký và các thành viên đại diện cho các bộ và cơ quan khác nhau.
Hợp tác năng lượng Ấn Độ-Việt Nam và Biển Đông
Hợp tác năng lượng Ấn Độ-Việt Nam đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, bao gồm các hoạt động thăm dò dầu khí chung ở Biển Đông. Mặc dù các hoạt động thăm dò chung giữa Ấn Độ và Việt Nam đã bắt đầu từ năm 1988 khi Việt Nam phân Lô 06.1 tại lưu vực Nam Côn Sơn của Biển Đông cho Ấn Độ, nhưng các hoạt động này lại xuất hiện trên truyền thông nhiều hơn từ năm 2011 do vấp phải sự phản đối của Trung Quốc với việc Ấn Độ can hệ đến thăm dò dầu khí ở Biển Đông. Năm 2011, vấn đề này đã thu hút sự chú ý quốc tế khi Trung Quốc bắt đầu chống lại hoạt động khai thác dầu của Ấn Độ tại các Lô 127 và 128 trong lưu vực Phu Khanh. Những lô này được phân bổ cho Ấn Độ vào năm 2006 với 100% cổ phần. Trớ trêu thay, các hạn chế về hậu cần cùng với việc không có đủ dầu trong Lô 127 đã khiến Ấn Độ buộc phải rút khỏi lô này. Việc Ấn Độ quyết định rút khỏi các khối dầu mỏ không được coi là một động thái chiến lược tốt. Tuy nhiên, Ấn Độ đã xem xét lập trường của mình và quyết định tiếp tục dự án. Thái độ chính thức của Ấn Độ là sự tham gia với Việt Nam cho các hoạt động thăm dò dầu khí ở Biển Đông phục vụ các mục đích thương mại và ít có liên quan đến Trung Quốc. Ấn Độ nhắc lại lập trường ủng hộ của mình đối với tự do hàng hải trong vùng biển của Biển Đông và các vùng biển quốc tế khác. Đáp lại sự phản đối của Trung Quốc trước những động thái của Ấn Độ, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang tuyên bố năm 2011, rằng các dự án hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác khác, bao gồm ONGC, trong lĩnh vực dầu khí được đặt trên thềm lục địa trong Vùng đặc quyền kinh tế và thuộc quyền chủ quyền cũng như quyền tài phán của Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về Luật Biển. Đối với Ấn Độ, “chủ nghĩa đa phương hàng hải” là một công cụ hữu ích để giải quyết các thách thức xuyên quốc gia đương thời như cướp biển và khủng bố cùng các hoạt động kinh tế ở những nơi như Biển Đông. Mặc dù liên doanh Ấn Độ-Việt Nam để khai thác dầu khí ở Biển Đông chỉ nhằm mục đích hòa bình và thương mại, Trung Quốc vẫn giữ lập trường quả quyết trước vấn đề này. Điều quan trọng cần lưu ý là Trung Quốc chưa phản ứng mạnh với liên doanh OVL và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, điều này, không mang nghĩa nào khác, chỉ ra rằng Trung Quốc thực ra đang hỗ trợ liên doanh này.
Kết luận
Một nghiên cứu nghiêm túc và thực tế về quan hệ Ấn Độ - Việt Nam xác nhận rằng, lợi ích kinh tế và sự hội tụ an ninh khiến cả hai đối tác này hợp tác chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ thân thiết với Việt Nam giúp Ấn Độ trở thành một cường quốc chiếm ưu thế ở Đông Á. Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ vững mạnh cũng mở đường để Ấn Độ đóng một vai trò lớn hơn trong việc định hình kiến trúc an ninh Đông Á. Quan hệ đối tác Ấn Độ - Việt Nam mạnh mẽ và là rất quan trọng để hiện thực hoá lợi ích chiến lược của Ấn Độ trong lĩnh vực hàng hải và sự theo đuổi của Việt Nam trong vấn đề thu hút các bên liên quan quốc tế đáng tin cậy trong khu vực. Quỹ đạo của quan hệ Ấn Độ - Việt Nam ngụ ý rằng Việt Nam là một trong những quốc gia quan trọng nhất với Ấn Độ ở khu vực Đông Á. Để quan hệ Ấn Độ - Việt Nam tiếp tục trở nên ngày một mạnh mẽ, Ấn Độ cần thu hút Việt Nam một cách toàn diện hơn.
Để đảm bảo an ninh năng lượng lâu dài cho mọi công dân, Ấn Độ cần tiếp tục tích cực theo đuổi các chiến lược đa hướng. Hiện tại, Chính phủ đang tập trung khai thác nhiên liệu hoá thạch và tài nguyên năng lượng tái tạo để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Đồng thời, ngoại giao năng lượng của New Delhi với các nước giàu tài nguyên năng lượng như Mỹ, Nga, Qatar, Ả Rập Xê Út, Iran và Úc đang được mở đường. Ngay cả Chính sách năng lượng châu phi của Thủ tướng N. Modi đã bổ sung thêm khía cạnh mới cho mối quan tâm của Ấn Độ trong việc đảm bảo công bằng năng lượng ở châu Phi và tăng cường an ninh năng lượng của Ấn Độ. Hơn nữa, các công nghệ than sạch đang được thúc đẩy để cải thiện việc cung cấp năng lượng xanh nhiều hơn.
Vì thế để đảm bảo tương lai năng lượng của Ấn Độ, Ấn Độ cần thăm dò và khai thác tài nguyên hoá thạch trong nước nhưng cần nghiêm túc trong việc nhập tài nguyên hoá thạch từ bên ngoài. Để cải thiện an ninh cung cấp năng lượng, cần lưu tâm hơn đến ngoại giao năng lượng, hợp tác quốc tế và quan hệ đối tác thương mại hiệu quả. Xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng cần thiết như nhà ga LNG và nên ưu tiên đường ống dẫn. Ấn Độ nên tận dụng lợi thế nguồn cung toàn cầu để cải thiện khả năng tiếp cận, chi trả và khả năng cung cấp năng lượng cho người dân của mình. Hơn nữa, cần tạo điều kiện cho môi trường đầu tư năng lượng tái tạo ở tất cả các cấp để đưa lại cuộc cách mạng năng lượng tái tạo sớm nhất.
Việc kiểm soát giá cả các sản phẩm xăng dầu, đặc biệt là giá xăng và dầu diesel sẽ định giá năng lượng theo định giá thị trường. Ngay cả giá khí cũng đang theo định hướng thị trường hơn bao giờ hết. Chuyển tiền trực tiếp khi sử dụng khí dầu hoá lỏng (LPG) cho mục đích chế biến trong nước là một bước tiến để giải quyết vấn đề tiếp cận năng lượng và khả năng chi trả. Các cơ quan quản lý tư pháp và quy định về môi trường đang nghiêm túc đẩy mạnh sử dụng khí đốt tự nhiên hoặc nhiên liệu xanh để cải thiện chất lượng không khí ở các thành phố đô thị. Trong vòng một thập kỷ, Chính phủ dự định tăng phân phối khí trong thành phố lên 200 khu vực địa lý từ mức hiện tại là 70 khu vực địa lý.
Năng lượng phải được sử dụng như một phương tiện để tăng cường kết nối trong khu vực. Các nước trong khu vực có yêu cầu tương tự trong lĩnh vực năng lượng cần được kết nối qua các mạng lưới và cáp tải để thiết lập sự phụ thuộc lẫn nhau và cùng tồn tại. Điều này sẽ giúp các quốc gia thiếu năng lượng, thu nhập thấp trong khu vực có được động lực tăng trưởng. Năng lượng vì thế nổi lên như một công cụ kết nối phi truyền thống và Ấn Độ cần nỗ lực để tối đa hoá sự hiện diện của mình trong lĩnh vực này.
Ấn Độ chắc chắn có khả năng giải quyết các thách thức hiện tại và trong tương lai để cải thiện an ninh năng lượng về lâu về dài. Hơn nữa, năng lượng xanh sẽ đóng vai trò quan trọng để cải thiện an ninh năng lượng trong tương lai ở nước này. 
Từng bước, Ấn Độ và Nhật Bản, thông qua hợp tác lẫn nhau, đang mở rộng chỗ đứng trong lĩnh vực năng lượng ở khu vực lân cận, cả hai quốc gia đang xem xét ký kết liên doanh với các cường quốc khác để đầu tư vốn vào lĩnh vực năng lượng. Sự gia nhập của các cường quốc như Úc, với những lợi ích tương đồng cả Ấn Độ và Nhật Bản, sẽ chứng minh lợi ích về lâu về dài cho sự phát triển của khu vực lân cận và đảm bảo rằng vốn đầu tư của Trung Quốc tương xứng với sức mạnh. Trong khi đó, với tư cách là một chiến lược dài hạn hơn, Ấn Độ cần tự xây dựng năng lực và công nghệ của riêng mình bằng cách đầu tư vào khoa học và đổi mới để học hỏi được những cách thức sạch và hiệu quả hơn để đảm bảo nhu cầu năng lượng. Phát triển các nhà ga và kho chứa dầu trên mặt biển Ấn Độ sẽ tăng cường năng lực trong nước và đóng vai trò là bệ phóng cho các khoản đầu tư của Ấn Độ vào các quốc gia láng giềng. Ví dụ, nhà máy lọc dầu ở Mangalore có thể được sử dụng như một nút cung cấp dầu cho Sri Lanka. Cuối cùng, Ấn Độ cần cải thiện khả năng của chính mình và mở rộng hiện diện của mình mà không tỏ ra quá ồn ào hay thể hiện về nó quá nhiều. Con đường phía trước là con đường chỉ có thể được mở rộng nhờ sự đổi mới và hợp tác.

References
Aneja, Atul. ”China to export electricity along the New Silk Road.” The Hindu, April 5, 2016.
http://www.thehindu.com/news/international/China-to-export-electricity-along-the-New-Silk-Road/article14219169.ece
Bagchi, Indrani. “Away from OBOR, India pushing for ’energy diplomacy’ in neighbourhood.” The Times of India, May 15, 2017.
http://timesofindia.indiatimes.com/india/india-working-on-energy-relationship-with-neigbours-to-leverage-indias-position/articleshow/58671911.cms
“Bangladesh-China JV to construct $1.56 bln power plant in southern Bangladesh.” Reuters. March 30, 2016.
http://in.reuters.com/article/bangladesh-power-china-idINL3N1721UK
“BD-Japan joint venture in petroleum sector introduced.” Dhaka Tribune. Nov. 13, 2016. 
http://www.dhakatribune.com/business/2016/11/13/bd-japan-joint-venture-petroleum-sector-introdu ced/
Bhaskar, Utpal. “Japan’s ORIX seeks India solar play with SUN Group.” Livemint, May 10, 2017. 
http://www.livemint.com/Companies/iRKjFy0PjbDzw3KWeEUIcI/Japans-ORIX-seeks-India-solar -play-with-SUN-Group.html
Bhatia, Rajiv,Kunal Kulkarni,Lina Lee and Shivani Gyakwad, “Chinese investments in Sri  Lanka,” Gateway House: Indian Council on Global Relations (2016).
http://www.gatewayhouse.in/chinese-investments-sri-lanka/
Chaudhury, Dipanjan Rai, “India, Vietnam Stratgic Partnership key to stability in the Indo-Pacific Region”, The Economic Times, 11 January 2018.
https://economictimes.indiatimes.com/default-subsec/defence/india-vietnam-strategic-partnership-key-to-stability-in-indo-pacific-region/articleshow/62454195.cms
Chauhan, Sadhavi, “India-Vietnam Cooperation: Implementing India’s Act East Policy”, ISSSP Reflections no. 20, 12 September 2014.
http://isssp.in/india-vietnam-cooperation-implementing-indias-act-east-policy/
“CNPC in Myanmar. “China National Petroleum Corporation. June 8, 2017.
http://www.cnpc.com.cn/en/Myanmar/country_index.shtml
Cutler, Tom and Gillespie, Clara, “Rising to the Challenge of Energy Security”, Pacific Energy Summit, The National Bureau of Asian Reaserach, 14 March 2016.
“Twelfth Five Year Plan. “Planning Commission of India. June 5, 2017.
http://planningcommission.gov.in/plans/planrel/fiveyr/welcome.html
Inani, Rohit. “Japan’s Softbank to invest $20billion in solar-energy projects in India.” Time, June 23, 2015.
http://time.com/3931551/softbank-solar-energy-power-india-japan-climate-change/
“India and Vietnam can boost Cooperation in Oil and Gas sector: V. K. Singh”, The Economic Times, 26 July 2018.
https://energy.economictimes.indiatimes.com/news/oil-and-gas/india-and-vietnam-can-boost-cooperation-in-oil-and-gas-sector-v-k-singh/65147954
Jha, Saurav. “The Bay of Bengal Naval Arms Race”. The Diplomat, Dec 30, 2016.
http://thediplomat.com/2016/12/the-bay-of-bengal-naval-arms-race/
Kar, Sanjay Kumar,”India Energy supply security: Prospects and Challenges”, Modern Diplomacy, 17 January 2017.
https://moderndiplomacy.eu/2017/01/17/india-s-energy-supply-security-prospects-and-challenges/
“METI Minister Soko holds a meeting with H.E.Mr.Ranil Wickremesinghe, Prime Minister of Sri  Lanka.” Ministry of Economy, Trade and Industry. (2017).
http://www.meti.go.jp/english/press/2017/0412_003.html
Mishra, Richa, “India needs to adapt to new oil geopolitics”, Business Line, 06 May 2019.
https://www.thehindubusinessline.com/opinion/india-needs-to-adapt-to-new-oil-geopolitics/article27051124.ece/amp/
Mukherjee, Sacchinanda, “Exploring Low-Carbon Energy Security Path for India: Role of Asia-Pacific Energy Cooperation”, NIPFP Working Paper no. 259, 8 April 2019.
Mukherji, Rahul, “India’s Energy Security: Challenges and Prospects”, ISAS Brief no.1, 5 September 2005.
Prasad, Gireesh Chandra.”Power reforms have changed country’s mindset”. Livemint, May 10, 2017.           
http://www.livemint.com/Politics/mFLXXLUuCO8uTnbXzTmLcL/Power-reforms-have-changed-countrys-mindset-Piyush-Goyal.html
Raj, Parimal; Saxena, Arpit and Gupta, Shashank, “Energy Security, An Indian Perspective: The Way Forward”, 8th Biennial International Conference & Exposition on Petroleum Geophysics paper,  Hydrabad 2010.
Singh, Hemant K. and Khanna, Aman, “India’s Energy Options: The Road Ahead”, Policy Paper Series no. 2,  ICREAR, Delhi, October 2012.
Sudhir, Sanket, “Energy Diplomacy gets fresh Impetus”, The Pioneer, 25 July 2015.
 “The Government of Japan assist in development of power sector in Sri Lanka.” Ministry of Power and Renewable Energy. (2014).
http://powermin.gov.lk/english/?p=3397
Tripathi, Satyendra, “The road to energy security goes through diplomacy”, Swarajya, April 29, 2017.
https://swarajyamag.com/economy/the-road-to-energy-security-goes-through-diplomacy
 
* Giáo sư phụ tá, Khoa Khoa học Chính trị, Zakir Husain Delhi College (Eve.), Đại học Delhi, Email: opdjnu@gmail.com , Điện thoại: +91-9868093329

Bình luận của bạn