cis_banner_final_en.png
Đa dạng hóa năng lượng: Chiến lược an ninh năng lượng của Ấn Độ và Việt Nam

05/08/2019


Đa dạng hóa năng lượng: Chiến lược an ninh năng lượng của Ấn Độ và Việt Nam



TS M. Prayaga*
Tóm tắt
Năng lượng không thể thiếu đối với sự tồn tại của con người. Nó đã trở thành một nhu cầu tất yếu cho sự tăng trưởng kinh tế ổn định và cải thiện điều kiện sống của con người. Năng lượng được sử dụng phổ biến trong các công trình, giao thông, cơ sở hạ tầng và sản xuất công nghiệp. Do vậy, trong thế giới hiện nay, an ninh năng lượng được xem là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của bất cứ quốc gia nào. Nhiều quốc gia phát triển và mới nổi như Ấn Độ và Việt Nam hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào than, dầu và khí đốt tự nhiện để đáp ứng nhu cầu năng lượng của mình. Các nhiên liệu hóa thạch như dầu, khí đốt và than đá là những nguồn năng lượng không tái tạo được với trữ lượng có hạn, gây ô nhiễm cao và góp phần tạo nên sự nóng lên toàn cầu. Trên khắp thế giới, năng lượng tồn tại ở nhiều dạng khác nhau và ở các cấp độ khách nhau. Một vài loại năng lượng phổ biến là nhiệt năng, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng hạt nhân, năng lượng địa nhiệt, năng lượng thủy triều, năng lượng sinh khối, năng lượng hóa học, năng lượng hấp dẫn và năng lượng cơ học.   
Than đá, dầu và khí tự nhiên là ba nguồn năng lượng chính của Ấn Độ. Tuy nhiên, than đá vẫn tiếp tục là dạng năng lượng chiếm ưu thế ở Ấn Độ, chiếm khoảng 55% tổng nguồn cung năng lượng của cả nước. Mặc dù có cả nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng không tái tạo, Ấn Độ vẫn phụ thuộc phần lớn vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng. Ấn Độ cần nguồn năng lượng tổng hợp để có thể đáp ứng sự tăng dân số và nhu cầu phát triển kinh tế bền vững. Giống ở Ấn Độ, than đá, dầu, khí đốt, năng lượng hạt nhân và năng lượng gió đang góp phần tạo nên nguồn năng lượng tổng hợp của Việt Nam. Tiềm năng to lớn của năng lượng tái tạo ở Ấn Độ và Việt Nam vẫn chưa được khai thác hết. Khi nền kinh tế của họ đang phát triển với tốc độ ổn định, việc khai thác các nguồn năng lượng tái tạo dường như là một sự thay thế lý tưởng để tăng cường an ninh năng lượng. Khi các nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt thì hai quốc gia châu Á đang phát triển nhanh chóng này đang tập trung vào nguồn năng lượng xanh được tạo ra từ các nguồn khác nhau như mặt trời, gió, địa nhiệt và sinh khối.  
Ngoài việc đưa ra các loại năng lượng khác nhau trên thế giới và các nguồn năng lượng tiềm năng ở Ấn Độ và Việt Nam, bài viết này cũng đề cập đến sự đóng góp của các nguồn năng lượng tái tạo chính đối với an ninh năng lượng ở hai quốc gia mới nổi này.
Từ khóa:  Các dạng năng lượng, nhiên liệu hóa thạch, tiềm năng năng lượng tái tạo
*******
 
Giới thiệu
Năng lượng là một phần thiết yếu cho sự phát triển của con người và của mỗi quốc gia, và nó có sẵn ở nhiều nơi trên thế giới dưới nhiều hình thức với trữ lượng khác nhau. Năng lượng được mô tả như là “khả năng để làm một việc gì”, bao gồm các tài nguyên vật lý hoặc hóa học được xử lý để tạo ra năng lượng được sử dụng để cung cấp ánh sáng hoặc nhiệt sử dụng trong đời sống hàng ngày hoặc trong sản xuất công nghiệp. Trong lịch sử cũng như trong thời kỳ hiện tại, phần lớn các hệ thống năng lượng được tạo ra từ các nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu và khí đốt tự nhiên. Đối với sự phát triển kinh tế, việc tiếp cận năng lượng là một bài toán đối với bất kì quốc gia nào. Vì vậy, việc tiếp cập và cung cấp các nguồn năng lượng sẽ đảm bảo an ninh năng lượng.
Trước thế kỷ XVIII, thế giới chủ yếu dựa vào năng lượng truyền thống được sản xuất từ việc đốt gỗ và chất hữu cơ. Sau khi cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra, nhu cầu năng lượng đã tăng lên và cuộc đua bắt đầu để đảm bảo các nguồn năng lượng tiềm năng có sẵn trên thế giới. Nước Anh, quốc gia công nghiệp tiên phong, đã lấy năng lượng từ các nguồn năng lượng truyền thống từ trước cuộc Cách mạng công nghiệp, bắt đầu sử dụng chỉ khoảng hai phần trăm than đá vào năm 1800 cho các ngành công nghiệp non trẻ của họ. Nhờ vào sự tiến bộ trong khoa học và công nghệ cùng với nhiều khám phá và phát minh mới mà con người đã tiếp cận được nhiều nguồn năng lượng khác. Ngoài than đá thì dầu bắt đầu được sử dụng nhiều vào những năm 1870, tiếp theo là khí đốt và thủy điện. Vào đầu thế kỷ XX, việc tiêu thụ than đã tăng đáng kể, chiếm gần một nửa năng lượng toàn cầu. Đến giữa thế kỷ XX, các nguồn năng lượng hỗn hợp toàn cầu đã trở nên khá đa dạng; than đã vượt qua nhiên liệu sinh học truyền thống và dầu lên tới khoảng 20%. Hơn thế, ngành năng lượng cũng đã chuyển sang sản xuất điện hạt nhân. Cuối cùng, hiện tại, thế giới bắt đầu dựa vào các nguồn năng lượng tái tạo như nhiên liệu sinh học, gió và năng lượng mặt trời. 
Năng lượng không tái tạo được (hay năng lượng truyền thống)
Hiện nay, nhiên liệu hóa thạch đáp ứng khoảng 80% nhu cầu năng lượng của thế giới. Nhu cầu năng lượng toàn cầu ước tính sẽ tăng khoảng 40% vào năm 2035 so với năm 2010. Bên cạnh đó, nhiên liệu hóa thạch tiếp tục chiếm phần lớn nhu cầu năng lượng tăng lên đến năm 2035, đáp ứng khoảng 75% nhu cầu năng lượng toàn cầu. Hơn nữa, việc sản xuất điện trên thế giới từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch ước tính chiếm khoảng 57% vào năm 2035. Điều đáng ngạc nhiên là việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch để sản xuất điện dự kiến sẽ gấp đôi so với các nguồn năng lượng tái tạo vào năm 2035. Tuy nhiên, than đá vẫn là nguồn nhiên liệu quan trọng nhất trong sản xuất điện toàn cầu vào năm 2035 (khoảng 33%).
Các năng lượng hóa thạch, gồm dầu, than đá và khí đốt, không phải là năng lượng tái tạo. Những nguồn năng lượng hóa thạch này được sử dụng để sản xuất điện hoặc tinh chế thành nhiên liệu để sử dụng trong việc đốt nóng hoặc cho các phương tiện giao thông. Theo Tạp chí Thống kê năng lượng thế giới BP, tổng trữ lượng nhiên liệu hóa thạch toàn cầu như sau: Than - 1.139 tỷ tấn; Khí đốt tự nhiên - 187 nghìn tỷ mét khối; và Dầu thô - 1.707 tỷ thùng. Trong số tất cả các nhiên liệu hóa thạch, than đá có sẵn nhiều nhất trên trái đất. Than đang được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm sản xuất điện, sản xuất sắt thép, sản xuất xi măng và thậm chí làm nhiên liệu lỏng. Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Indonesia, Úc và Nam Phi là những quốc gia sản xuất than hàng đầu thế giới. Thế giới đang tiêu thụ khoảng 7.800 triệu tấn than và nó được sử dụng chủ yếu trong việc sản xuất điện. Hiện nay, than tạo ra khoảng 40% lượng điện trên toàn thế giới và tiếp tục là nguồn cung cấp điện chính trong vài thập kỷ tới đây. Trong tổng trữ lượng nhiên liệu hóa thạch đã được tìm thấy, trữ lượng than cao hơn nhiều so với các loại khác. (Xem Bảng 1).
Bảng 1: Trữ lượng nhiên liệu hóa thạch toàn cầu
  1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010 2017
Trữ lượng dầu, đơn vị Tỷ thùng 684 803 1.028 1.126 1.301 1.377 1.643 1.697
Trữ lượng khí đốt, đơn vị Nghìn tỷ mét khối 72 83 109 121 141 159 180 193
Tổng trữ lượng than, đơn vị Triệu tấn ... ... ... ... ... ... ... 1.035.012
Nguồn https://knoema.com/infographics/smsfgud/bp-world-reserves-of-fossil-fuels
Nhiều quốc gia trên thế giới đang phụ thuộc rất nhiều vào dầu trong phát triển kinh tế và công nghiệp. Vì giá dầu không ổn định trên thị trường quốc tế, họ đang lên kế hoạch giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu trong khi tập trung phát triển các nguồn năng lượng thay thế hiệu quả để phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Họ đang đầu tư vào nghiên cứu và công nghệ để sản xuất dầu sạch hơn và hiệu quả hơn bằng cách áp dụng các phương pháp mới.
Khí đốt tự nhiên là một nguồn tài nguyên phong phú có sẵn trên khắp thế giới và việc khám phá cũng như các phương pháp khai thác mới đã dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ trong phát triển khí đốt và các dự án sản xuất điện từ khí đốt cũng như các phương tiện chạy bằng khí đốt tự nhiên.
Việc sử dụng đa dạng cùng với các điều kiện kinh tế xã hội và tỷ lệ tiêu thụ lớn cũng đang dẫn đến sự cạn kiệt của nhiên liệu hóa thạch. Báo cáo của Tạp chí Thống kê năng lượng thế giới BP dự đoán rằng, nhiên liệu hóa thạch sẽ cạn kiệt như sau: Than sẽ cạn kiệt vào năm 2169; Khí đốt tự nhiên vào năm 2068; và Dầu thô vào năm 2066.
Năng lượng tái tạo (Năng lượng phi truyền thống)
Năng lượng tái tạo được định nghĩa là nguồn năng lượng hoặc nhiên liệu có thể tái tạo và có thể tự bổ sung vô thời hạn. Năm nguồn năng lượng tái tạo chính được nhắc đến thường là: Năng lượng mặt trời, gió, sinh khối, thủy điện và địa nhiệt.
Năng lượng mặt trời
Bức xạ ánh sáng và nhiệt thu được từ Mặt trời được khai thác bằng các công nghệ như sưởi ấm mặt trời, quang điện (PV), năng lượng nhiệt mặt trời, kiến trúc năng lượng mặt trời và quang hợp nhân tạo, được gọi là năng lượng mặt trời. Nó sẽ là nguồn năng lượng tái tạo hàng đầu. Một trong những xu hướng quan trọng nhất của thị trường năng lượng toàn cầu là sự tăng trưởng đáng kể của việc sử dụng năng lượng tái tạo, gần 15%. Sự tăng trưởng lớn nhất được thể hiện trong lĩnh vực năng lượng mặt trời. Quang điện sử dụng năng lượng mặt trời đã tăng 33% trong năm 2016. Trung Quốc đang dẫn đầu danh sách các quốc gia trên thế giới về tiêu thụ năng lượng mặt trời. Tính đến năm 2016, mức tiêu thụ năng lượng mặt trời ở Trung Quốc là 66,2 Twh. Các quốc gia tiêu thụ năng lượng mặt trời lớn nhất trên thế giới cũng gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức và Ý.
Năng lượng gió
Gió là một trong các dạng khác của năng lượng.  Năng lượng này có trong luồng thổi của gió khi các tuabin gió quay và thường được gọi là năng lượng gió.  Người ta ước tính có khoảng 1 triệu GW năng lượng gió có sẵn trong tổng số diện tích đất che phủ của trái đất và nếu chỉ 1 phần trăm diện tích đất này được sử dụng với hiệu quả có thể đạt được thì điều này có thể giúp đáp ứng nhu cầu điện năng toàn cầu. Hầu hết năng lượng gió hiện đang thu được ở trên đất liền hoặc ngoài khơi, và chúng đang trở nên phổ biến như là một nguồn tài nguyên lớn hơn với tác động môi trường thấp (xét về mặt tiếng ồn và ô nhiễm thị giác). Năng lượng này là một nguồn giá rẻ chính để sản xuất điện.
Vào cuối năm 2015, công suất phát điện gió của thế giới đã đạt tới mức 435 GW, chiếm khoảng 7% tổng công suất phát điện toàn cầu. Hiện tại, Trung Quốc có công suất năng lượng gió lớn nhất với 145 GW, tiếp theo là Mỹ với 73 GW, Đức 45 GW, Ấn Độ 25 GW, Tây Ban Nha 23 GW và Anh 14 GW. Một số quốc gia đã lắp đặt các khu năng lượng gió để hỗ trợ phát điện quốc gia. Các khu năng lượng gió lớn nhất có kích thước vượt quá 1 GW là trang trại năng lượng gió Gansu ở Trung Quốc, Khu năng lượng gió Muppandal ở Ấn Độ và Trung tâm năng lượng gió Alta ở Mỹ.
Năng lượng sinh khối
Nguồn năng lượng sinh ra từ sinh khối, một chất hữu cơ thu được từ các sinh vật sống, được gọi là năng lượng sinh khối. Sinh khối là một trong những nguồn năng lượng tái tạo dồi dào nhất và được sử dụng hiệu quả nhất trên thế giới. Hình thức sinh khối phổ biến nhất được dùng để tạo ra năng lượng là gỗ cây. Đã từ lâu, gỗ được dùng rất phổ biến ở nhiều xã hội trong việc tạo ra năng lượng để đốt nóng và nấu nướng.  Sinh khối được chuyển đổi thành than trong hàng ngàn năm. Than đã được sử dụng trong ngành công nghiệp nhẹ trong hơn một thiên niên kỷ qua. Việc thay thế than bằng sinh khối có thể dẫn đến "sự sụt giảm đáng kể lượng khí thải carbon dioxide góp phần gây nên hiệu ứng nhà kính". Tuy nhiên, việc sử dụng gỗ và các nguyên liệu thực vật khác làm nhiên liệu lại có thể đồng nghĩa với việc phá rừng.”
Năng lượng địa nhiệt
Nguồn năng lượng có sẵn bên trong Trái đất được gọi là năng lượng địa nhiệt. Đây là một nguồn năng lượng nhiệt rẻ và phù hợp, và việc sử dụng năng lượng này không tạo ra khí thải nhà kính. Những hơi nước ngầm và nước nóng có thể được khai thác để tạo ra điện. Nó có thể được chiết xuất mà không cần đốt một loại nhiên liệu hóa thạch nào như than, khí đốt hoặc dầu. Nước địa nhiệt từ sâu trong lòng đất có thể được sử dụng trực tiếp để sưởi ấm các tòa nhà và văn phòng. Người ta sản xuất điện từ năng lượng địa nhiệt bằng cách khoan sâu vào các hồ chứa dưới lòng đất để khai thác hơi nước và nước nóng sẽ điều khiển các tuabin được kết nối với máy phát điện. Không giống như năng lượng mặt trời và năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt lúc nào cũng sẵn có, quanh năm. Nó cũng không đắt và việc sử dụng trực tiếp năng lượng địa nhiệt có thể tiết kiếm tới 80% so với sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Nguồn điện đầu tiên từ năng lương địa nhiệt được sản xuất tại Larderello, nước Ý vào năm 1904. Ngày nay, năng lượng địa nhiệt được sử dụng để sản xuất ra điện ở hơn 20 nước trên thế giới. Nước Mỹ là nước sản xuất điện từ năng lượng địa nhiệt lớn nhất thế giới. Ở Iceland, nhiều tòa nhà cao tầng và bể bơi được sưởi ấm bởi năng lượng địa nhiệt từ nước nóng.  Iceland có ít nhất 25 núi lửa đang hoạt động và nhiều suối nước nóng và mạch nước phun. Một nhược điểm của năng lượng địa nhiệt là nó thải bỏ một số chất lỏng địa nhiệt mà có thể chứa một lượng nhỏ các chất độc hại.
 Năng lượng hạt nhân
Năng lượng có trong hạt nhân của một nguyên tử được gọi là năng lượng hạt nhân. Năng lượng hạt nhân là năng lượng khổng lồ trong liên kết của một nguyên tử giúp kết nối các nguyên tử lại với nhau. Năng lượng hạt nhân có thể được sử dụng để sản xuất điện. Năng lượng hạt nhân được xem là một nguồn năng lượng sạch. Hầu hết các lò phản ứng hạt nhân được cung cấp nhiên liệu bởi Uranium. Kazakhstan là nhà sản xuất uranium hàng đầu thế giới. Hơn 80% sản lượng uramium toàn cầu được khai thác ở Kazakhstan, Canada, Australia, Namibia và Niger.  Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và Cơ quan Năng lượng hạt nhân đã báo cáo rằng tổng nguồn năng lượng hạt nhân đã tăng 70% trong hơn mười năm qua và nguồn uranium được xác định là đủ để cung cấp cho hơn 100 năm sau dựa trên các yêu cầu cơ bản. Vào năm 2015, tổng lượng điện tạo ra từ năng lượng hạt nhận đã đạt 390 GWe, tương đương khoảng 11% tổng lượng điện trên toàn thế giới. Trong số 65 lò phản ứng hạt nhân đang được xây dựng trên thế giới, có 40 lò ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Hàn Quốc.
Thủy điện
Thủy điện đứng đầu danh sách các nguồn năng lượng tái tạo để sản xuất điện trên toàn thế giới, chiếm khoảng 71% tổng lượng điện sản xuất từ năng lượng tái tạo với sản lượng đạt 1.064 GW vào năm 2016. Bước sang thế kỷ 20, người ta tin rằng thủy điện không chỉ là tương lai của năng lượng mà còn là tương lai của văn minh nhân loại.  Thủy điện thường được coi là Than trắng vì nó sạch, khoa học và không cạn kiệt. Thủy điện được coi là nguồn cung cấp điện linh hoạt và nhất quán nhất trong số các nguồn năng lượng tái tạo, có khả năng đáp ứng đủ nhu cầu điện năng của một quốc gia. Vào cuối năm 2015, Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Canada, Ấn Độ và Nga đã trở thành những nước đứng đầu trên thế giới về sản xuất điện năng từ thủy điện.  
Kịch bản năng lượng của Ấn Độ
Ấn Độ được ưu đãi với cả các nguồn năng lượng tái tạo và không tái tạo. Than, dầu và khí đốt tự nhiên là ba nguồn năng lượng chính. Việc tiêu thụ năng lượng gắn liền với sự phát triển kinh tế, sự cải thiện mức sống của người dân và quá trình công nghiệp hóa của đất nước. Cho tới khi mở cửa nền kinh tế vào những 1990, ngành năng lượng của Ấn Độ chủ yếu phụ thuộc vào nguồn năng lượng bản địa và than là nguồn năng lượng lớn nhất. Tuy nhiên, các nguồn năng lượng của Ấn Độ đã thay đổi trong một thời gian. Ngành năng lượng của Ấn Độ bây giờ đã trở thành một trong những yếu tố chủ lực của sự phát triển kinh tế và trong phát triển cơ sở hạ tầng. Ngày nay, ngành năng lượng đã trở thành một trong những ngành công nghiệp lớn mạnh nhất ở Ấn Độ. Ấn Độ là nước sản xuất điện lớn thứ 5 trên thế giới và cũng là nước tiêu thụ điện năng lớn thứ 6 trên thế giới, chiếm 3,4% năng lượng toàn cầu. Ngoài ra, nhu cầu năng lượng của Ấn Độ đã tăng lên 3,65 trong vòng hơn 30 năm qua.
Năm 2016, công suất lắp đặt của Ấn Độ đã tăng lên 3.02.088 MW năng lượng, gồm 2.10.675 MW năng lượng nhiệt, 5.780 MW năng lượng hạt nhân, 42.784 năng lượng thủy điện và 42.849 MW năng lượng tái tạo. Công suất lắp đặt năng lượng tái tạo gồm 26.866,7 MW năng lượng gió;  4.273,5 MW năng lượng từ các nhà máy thủy điện nhỏ; 4.946,4 MW năng lượng sinh khối và khí hóa sinh khối và 6.762,9 MW năng lượng mặt trời và rác thải đô thị và công nghiệp.
Nhu cầu an ninh năng lượng của Ấn Độ
Nhu cầu và tầm quan trọng của an ninh năng lượng ngày càng tăng trên khắp thế giới do sự sụt giảm nhanh chóng của nhiên liệu hóa thạch và biến đổi khí hậu, và điều này đòi hỏi phải thay đổi các chính sách năng lượng. Để đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng hàng năm, Ấn Độ cần phải đảm bảo an ninh năng lượng. Tiêu thụ năng lượng tiếp tục gia tăng đòi hỏi phải tìm các nguồn năng lượng thay thế khác.  Để đáp ứng yêu cầu về an ninh năng lượng bền vững, các nguồn năng lượng tái tạo đang mở ra một tương lai tươi sáng cho ngành năng lượng. Marek Šolc, một học giả nghiên cứu về năng lượng, cho rằng “an ninh năng lượng là khả năng cung cấp năng lượng ổn định và tiếp cận các nguồn năng lượng và nhiên liệu theo nhu cầu về mặt số lượng, chất lượng và giá cả hợp lý.”
Bảng-2:  Thị phần các loại nhiên liệu dùng trong sản xuất điện ở Ấn Độ
         
Nhiên liệu Công suất lắp đặt (Mw)
Tháng 3, 2012
 
Phần trăm thị phần
 
Lượng điện sản xuất được
 
Phần trăm thị phần
Thủy điện 38.990 19,51 112.050 12,72
Hạt nhân 4.780 2,39 32.270 3,66
Năng lượng tái tạo 24.503 12,26 27.731
 
3,15
Than 112.022 56,05 612.670 69,54
Khí đốt 18.381 9,20 93.310 10,59
Diesel 1.200 0,60 3.000 0,34









 
 


Nguồn: Cục Điện lực Trung ương (CEA), Chính phủ Ấn Độ, 2011,
www.cea.nic.in
Việc tiêu thụ năng lượng của Ấn Độ trong những năm gần đây đã tăng với tốc độ nhanh nhất trên thế giới do sự tăng dân số và phát triển kinh tế. Việc sản xuất năng lượng trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng. Ngoài ra, việc suy giảm các nguồn năng lượng khiến Ấn Độ phải phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu với số lượng lớn. Năm 2017, nhiên liệu hóa thạch đã đáp ứng khoảng 90% khả năng cung cấp năng lượng thứ cấp và một phần trong số này là nhập khẩu. Nhu cầu điện ở Ấn Độ đã tăng nhanh chóng và dự báo sẽ còn tăng nữa trong những năm sắp tới. Để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng ở Ấn Độ, cần phải tăng công suất lắp đặt năng lượng. 
Ngành than đóng vai trò rất quan trọng trong nguồn năng lượng chính của Ấn Độ. Mặc dù trữ lượng than rất dồi dào (Ấn Độ đứng thứ 3 trên thế giới về sản xuất than) nhưng việc thiếu nguồn cung, giá thành và việc phân phối không hiệu quả đã khiến Ấn Độ phải nhập khẩu một lượng than nhất định để đủ nhiên liệu vận hành các nhà máy sản xuất điện.  Bảng 2 cho thấy vai trò quan trọng của than trong sản xuất điện ở Ấn Độ. Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng, Ấn Độ nhập khẩu gần 76% dầu, 275 khí đốt và 20% than. Trong năm 2011-2012, Ấn Độ đã nhập khẩu dầu với số tiền lên đến 90 tỷ đô la Mỹ.
Chính sách năng lượng của Ấn Độ
Kinh tế Ấn Độ dự báo tăng trưởng 9% hàng năm trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2012-2017). Tốc độ tăng trưởng này sẽ khiến Ấn Độ trở thành một trong năm cường quốc kinh tế đứng đầu thế giới. Chính phủ Ấn Độ trong Kế hoạch lần thứ 10 đã công nhận rằng hoạt động kém hiệu quả của ngành năng lượng có thể là trở ngại chính trong việc đạt được tốc độ tăng trưởng GDP ở mức 8% trong giai đoạn kế hoạch. Trong những năm gần đây, chính phủ đã nhận thức được tầm quan trọng của ngành năng lượng đối với đất nước và quan tâm nhiều hơn đến an ninh năng lượng. Do đó, chính phủ đã yêu cầu tăng cường cải cách năng lượng và thông qua một chính sách năng lượng tổng hợp.
Theo đó, chính phủ Ấn Độ đề ra các mục tiêu về an ninh năng lượng đối với sự thịnh vượng của đất nước và người dân. Báo cáo của Ủy ban kế hoạch của Nhóm chuyên gia về Chính sách năng lượng tổng hợp (IEP) năm 2006 đã khuyến nghị “cung cấp đầy đủ năng lượng cho tất cả người dân bất kể khả năng chi trả của họ thế nào cũng như đáp ứng nhu cầu năng lượng an toàn và thuận tiện để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người dân với giá cả cạnh tranh.”Khả năng cung cấp điện bình quân đầu người 780kWh là một trong những mức thấp nhất trên thế giới, hơn 40% dân số Ấn Độ thiếu điện. Bên cạnh đó, có sự chênh lệch rất lớn về khả năng cung cấp điện bình quân đầu người, từ mức thấp 118 kWh ở bang Bihar đến trên 2.000 kWh ở bang Goa. Để hạn chế những chênh lệch này, ước tính cần có hơn 750 tỷ đô la để đảm bảo việc cung cấp điện và nhiên liệu nấu ăn sạch cho mọi người dân vào năm 2030. 
Nhằm mục địch giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, Ấn Độ đã thông qua các chính sách năng lượng cần thiết. Năm 2018, chính phủ Ấn Độ đã công bố Chính sách Năng lượng Quốc gia (NEP), bao gồm toàn bộ hệ thống năng lượng quốc gia ở Ấn Độ.  Nó tập trung vào 4 lĩnh vực chính: 1)100% điện khí hóa quốc gia vào năm 2022 và cấp điện liên tục 24/7. Chính sách này nhằm cung cấp các công nghệ nấu sạch cho tất cả người dân trong một “thời gian thích hợp”; 2) giảm tỷ trọng nhập khẩu đối với các nguồn năng lượng chính (dầu và khí đốt) và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; 3) nhấn mạnh sự cần thiết phải giảm thiểu  cacbon để đạt mục tiêu an ninh năng lượng và các mục tiêu phát triển bền vững; và 4) đảm bảo giá cả cạnh tranh và tăng trưởng của ngành năng lượng như là một nguồn lực thu hút đầu tư nước ngoài.
Để mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào câu chuyện phát triển mới của Ấn Độ, cựu Bộ trưởng Năng lượng Ấn Độ, ông Piyush Goyal, năm 2015 đã công bố kế hoạch đầu tư trị giá 250 tỷ USD vào ngành điện của Ấn Độ để thực hiện mục tiêu của Thủ tướng cung cấp điện liên tục 24/7 cho mọi người dân vào năm 2019. Kế hoạch to lớn của ông bao gồm đầu tư 60-70 tỷ USD cho phát điện, 20-25 tỷ USD thay thế các trang thiết bị lạc hậu và 10 tỷ USD để sản xuất năng lượng tái tạo. Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của Ấn Độ đã đưa ra mức đầu tư trị giá 222 tỷ USD để phát triển ngành năng lượng.  Những mục tiêu này sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống (nhiệt, thủy điện và hạt nhân) từ 92 GW xuống còn 62-72 GW. Trong khi đó, quỹ dành cho các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và năng lượng gió sẽ giúp tăng công suất từ 18 GW lên 75 GW. Môi trường đầu tư thuận lợi trong ngành năng lượng đã giúp ngành này thu hút 14,18 tỷ đô la Mỹ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chiếm 3,48 phần trăm tổng số vốn FDI đầu tư vào Ấn Độ.
Bên cạnh việc mời gọi các nhà đầu tư, Chính phủ Ấn Độ còn áp dụng một loạt sáng kiến nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành năng lượng, bao gồm :
a) Chính sách Ujwal Discoms Assurance Yojana (UDAY) đã được đưa ra để khuyến khích việc phục hồi hoạt động và tài chính của các công ty phân phối điện thuộc sở hữu nhà nước (DISCOMS), và để giảm thiệt hại khoảng 15% vào năm 2019.
b) Bộ Năng lượng mới và tái tạo của Ấn Độ thiết lập biểu giá năng lượng mặt trời cho các pin năng lượng mặt trời.
c) Ấn Độ thông qua Chính sách quốc gia về nhiên liệu sinh học năm 2018 nhằm mục đích nâng cao sức khỏe, môi trường xanh hơn, tạo việc làm, giảm nhập khẩu, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn và tăng thu nhập cho người nông dân.
d) Chính phủ đang soạn thảo một chính sách “thuê một mái nhà” nhằm đạt mục tiêu sản xuất 40 GW điện thông qua các dự án lắp đặt pin năng lượng mặt trời trên mái nhà vào năm 2022.
Trong một sáng kiến khác, Chính phủ Ấn Độ khuyến khích người dân sử dụng bóng đèn LED cho mọi hoạt động chiếu sáng. Do vậy, Ấn Độ có thể trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới vào năm 2019 bằng cách tiết kiệm được khoảng 6,23 triệu đô la Mỹ hàng năm.
Ngành năng lượng ở Việt Nam
Việt Nam đã đạt được sự phát triển kinh tế xã hội khá ấn tượng kể từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới năm 1986. Trong câu chuyện phát triển của Việt Nam, ngành năng lượng đóng một vai trò quan trọng. Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi cho cả nguồn nhiên liệu hóa thạch và năng lượng tái tạo như dầu, than đá và thủy điện. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam cũng kéo theo sự gia tăng nhu cầu sử dụng năng lượng. Quá trình đổi mới và các chính sách năng lượng đã đưa Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu năng lượng. Ngành công nghiệp dầu khí đã trở thành ngành kinh tế xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và đồng thời cũng giúp nhập khẩu về các công nghệ, thiết bị và dịch vụ liên quan.
Ngành than của Việt Nam đang trong quá trình khai thác phát triển. Để phát triển ngành năng lượng, từ năm 2017 Việt Nam quyết định mua 11 triệu tấn than mỗi năm cho ngành năng lượng. Môi trường đầu tư nước ngoài được cải thiện đã đem lại nhiều cơ hội cho Việt Nam trong việc thăm dò khí đốt và gia tăng trữ lượng khí đốt tự nhiên. Hiện tại, Việt Nam có thể sản xuất đủ khí đốt phục vụ nhu cầu trong nước. Để đẩy mạnh việc cung cấp khí đốt trong nước, Công ty dầu khí PV thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã bắt đầu đưa vào sử dụng 2 kho cảng khí đốt hóa lỏng Thị Vải và Sơn Mỹ. 
Việt Nam đang xem xét xây dựng các lò phản ứng hạt nhân để sản xuất điện ở Ninh Thuận với công suất khoảng 1.000 MW với sự hỗ trợ của nước Nga. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu điện của cả nước, Việt Nam đang tập trung phát triển năng lương tái tạo. Việt Nam đang xây dựng trang trại gió ngoài khơi đầu tiên ở châu Á. Trang trại gió Bạc Liêu hiện đang hoạt động với công suất 16MW ở giai đoạn 1. Một dự án khác là trang trại gió ở Tây Nguyên được đưa vào hoạt động năm 2015.
Các chính sách năng lượng của Việt Nam
Để đảm bảo cung cấp năng lượng bền vững đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng, các chính sách năng lượng của Việt Nam đều nhấn mạnh tầm quan trọng để đa dạng hóa các nguồn năng lượng. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tăng cường đầu tư vào lĩnh vực công nghệ sạch, đặc biệt là đầu tư vào hiệu quả năng lượng, các công nghệ năng lượng tái tạo và quản lý chất thải.
Bộ Công thương Việt Nam đã đưa ra khung Chính sách năng lượng Việt Nam năm 2015 và đề ra các mục tiêu nhất định, bao gồm: 1) Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; 2) Cung cấp nguồn năng lượng chất lượng cao phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội; 3) Đa dạng hóa các nguồn đầu tư vào năng lượng và các mô hình kinh doanh năng lượng; 4) Phát triển các nguồn năng lượng tái tạo mới. Ngoài ra, chính phủ Việt Nam cam kết và bắt đầu thực hiện một số biện pháp để phát triển năng lượng tái tạo. Trong Kế hoạch phát triển năng lượng lần thứ 7 năm 2011 với tầm nhìn đến năm 2030, Việt Nam tập trung hơn vào năng lượng tái tạo trong khi đề xuất giảm sản xuất nhiên liệu hóa thạch (như than) xuống khoảng 30%, từ 76 GW xuống 55 GW. Thay vào đó, kế hoạch phát triển năng lượng mới của Việt Nam lại tập trung vào năng lượng mặt trời vì nguồn năng lượng này sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong các nguồn năng lượng tái tạo của đất nước.
Hợp tác Ấn Độ-Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng
Việt Nam là một quốc gia quan trọng trong chính sách “Hành động phía Đông” của Ấn Độ được khởi xướng vào năm 2014 nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ kinh tế, chính trị, chiến lược và văn hóa với ASEAN và các nước Đông Nam Á, bao gồm việc thiết lập các cơ chế hợp tác.  Dựa trên mối quan hệ đa phương tốt đẹp với Hà Nội, quan hệ đối tác chiến lược giữa 2 nước đã được nâng lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện vào năm 2016. Trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Ram Nath Kovind vào tháng 11 năm 2018, hai bên đã nhất trí tiếp tục thúc đẩy hợp tác và đầu tư giữa tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn Dầu Khí của Ấn Độ để thăm dò dầu khí trên bờ và ngoài khơi Việt Nam. Chuyến thăm này cũng tạo điều kiện để tăng cường và phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng để giúp các công ty Ấn Độ đầu tư vào các dự án năng lượng nhiệt và năng lượng tái tạo ở Việt Nam khi đất nước này đã đạt được sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam có rất nhiều nguồn năng lượng tái tạo chưa được khai thác trên khắp cả nước. Thêm vào đó, các nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam cũng sẵn có trong thủy điện nhỏ, năng lượng sinh khối, năng lượng gió, năng lượng mặt trời và năng lượng địa nhiệt. Ngành năng lượng của Việt Nam đang mở ra rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp trong cả lĩnh vực năng lượng tái tạo và nhiên liệu hóa thạch dựa trên lợi ích thương mại chung.  Vì vậy, các công ty của Ấn Độ có rất nhiều cơ hội, bên cạnh việc chia sẻ kiến thức thì họ còn có thể đầu tư vào các dự án phát điện sử dụng năng lượng mặt trời và năng lượng gió ở Hà Nội. 
Kết luận
Sự phát triển kinh tế của một nước đang ngày càng phụ thuộc vào việc cung cấp ổn định nhiên liệu hóa thạch và các nguồn năng lượng tái tạo. Vì vậy, an ninh năng lượng được xem là đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển kinh tế và sự ổn định của một quốc gia. Hiện tại, các chính sách năng lượng toàn cầu được đưa ra nhằm bảo vệ môi trường bằng cách giảm việc sử dụng các nguyên liệu truyền thống trong sản xuất điện. Các chính sách mới đang đặt ra yêu cầu bảo tồn năng lượng thông qua việc áp dụng nhiều hơn các công nghệ với hiệu suất cao trong cả khu vực năng lượng tái tạo và không tái tạo. 
Trong những năm gần đây, tiêu thụ năng lượng ở cả Ấn Độ và Việt Nam đang tăng nhanh chóng do sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế. Theo hướng này, cả Ấn Độ và Việt Nam cần phải chú ý đến phát triển các nguồn năng lượng than, dầu và khí đốt, đặc biệt là năng lượng tái tạo, để đảm bảo an ninh năng lượng. Do đó, cả hai nước cần bắt kịp nhu cầu trong nước ngày càng tăng và đầu tư vào việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng để tăng cường an ninh năng lượng. Hợp tác song phương và sự chuyển giao công nghệ của Ấn Độ trong sản xuất điện mặt trời và điện gió có thể là một trong những biện pháp giúp đảm bảo chính sách an ninh năng lượng lâu dài cho Việt Nam.

Tham khảo
“Nhiên liệu hóa thạch sẽ tiếp tục chiếm lĩnh các mô hình tiêu thụ năng lượng,”
(
https://www.worldenergy.org/data/resources/resource/coal/)
https://knoema.com/infographics/smsfgud/bp-world-reserves-of-fossil-fuels
https://www.worldenergy.org/data/resources/resource/wind/
https://www.worldenergy.org/data/resources/resource/biomass/
 
https://www.nationalgeographic.com/environment/global-warming/geothermal-energy/
Philipp Lehmann, “Than trắng và Các lục địa mới,”

https://sites.fas.harvard.edu/~histecon/energyhistory/lehmann.html
http://www.indiaenergyportal.org/overview_detail.php
Marek Šolc,  “An ninh Năng lượng – Một vấn đề quan trọng của an ninh quốc gia,”
https://www.unob.cz/eam/Documents/Archiv/EaM_1_2013/%C5%A0olc.pdf
Chính sách năng lượng quốc gia (NEP)

https://www.iea.org/policiesandmeasures/pams/india/name-168042-en.php
 
https://www.ibef.org/industry/power-sector-india.aspx
“Tuyên bố chung Ấn Độ-Việt Nam trong chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng thống tới Việt Nam,”

https://www.mea.gov.in/bilateral-documents.htm?dtl/30615/IndiaVietnam_Joint_Statement_ during_State_Visit_of_President_to_Vietnam
Sascha Muller-Kraenner, An ninh năng lượng, (Earthscan, London, 2007).
Sunjoy Joshi,  “Tìm kiếm an ninh năng lượng,” trong  Ashley J. Tellis và Sean Mirski (nhiều tác giả)
Mấu chốt của Châu Á: Trung quốc, Ấn Độ và Trật tự thế giới mới nổi, (Carnegie Endowment, Washington DC, 2013.

https://www.worldenergy.org/data/resources/resource/hydropower/
* Giảng viên, Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á & Thái Bình Dương, Trường Đại học Sri Venkateswara, Tirupati 517 502, Ấn Độ, E-mail: prayaga.m@gmail.com

Bình luận của bạn