cis_banner_final_en.png
Hợp tác năng lượng Việt Nam và Ấn Độ: Các vấn đề chính sách và định hướng

05/08/2019


Hợp tác năng lượng Việt Nam và Ấn Độ: Các vấn đề chính sách và định hướng



GS, TS Sanjay K Bhardwaj*
Giới thiệu
Trong nền kinh tế thế giới không ngừng phát triển, kịch bản về năng lượng toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng: các công nghệ mới đang nổi lên; sự hỗn hợp năng lượng đang ngày càng đa dạng hóa; nhu cầu về năng lượng toàn cầu đang tăng lên; và hợp tác về tài nguyên đang phát triển mạnh mẽ. Trong thế giới hiện nay, an ninh năng lượng đang ở vị trí cao nhất trong chương trình phát triển toàn cầu. Chương trình này được coi là mục tiêu duy nhất trong Chương trình nghị sự 2030 Các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc nhằm “Đảm bảo tiếp cận đến nguồn năng lượng tin cậy, giá phải chăng, bền vững và hiện đại cho tất cả các nước”.
Tầm nhìn của các nhà kiến trúc đất nước Ấn Độ hiện đại là đưa đất nước trở thành một thành viên đóng vai trò quan trọng trên vũ đài thế giới và trở nên hùng mạnh trong thế kỷ mới. Đương thời uy lực của Ấn Độ trong nền chính trị thế giới đã được hiển thị trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, quân sự và có nền tảng dân chủ chính trị tin tưởng. Là một cường quốc về kinh tế, Ấn Độ giờ đây không còn là nước nhận viện trợ như trước đây nữa, thực tế, đã trở thành quốc gia cung cấp các gói tín dụng quan trọng cho phát triển kỹ thuật hạ tầng và trợ giúp nhân đạo với các nước láng giềng. Các công ty của Ấn Độ đang đầu tư nhiều ở châu Á và một số nước khác để đáp ứng nhu cầu về năng lượng ngày càng tăng cao của đất nước. Như vậy, sự tiến hóa của Ấn Độ với tư cách là một quốc gia có bước phát triển ngày càng cao trong các lĩnh vực ngoại giao, văn hóa, công nghệ, kinh tế và quốc phòng rất có ý nghĩa không chỉ ở châu Á mà còn với các quốc gia khác trên trường chính trị thế giới..
Hiểu một cách rộng và tương phản hơn thì an ninh năng lượng không chỉ là một nhu cầu tăng cao ở các nước phương Tây mà còn mở rộng tại nền kinh tế như Ấn Độ và Trung Quốc. Hơn nữa, nhu cầu về năng lượng của khu vực ở các nền kinh tế châu Á cũng tăng lên nhanh chóng. Kết nối giữa các vấn đề chưa rõ ràng trong chính trị đang tăng lên ở nhiều nước sản xuất dầu lửa (vùng Vịnh) và nhiều xung đột xung quanh các vấn đề tài nguyên ở trong đất liền và ngoài khơi (Biển Đông) thì những nước sử dụng năng lượng ở châu Á phải đối mặt với một tương lai khó khăn trong việc đảm bảo an ninh năng lượng lâu dài.
Có nhiều phương pháp bao hàm trong chính sách rất cần thiết những lựa chọn những năm gần đây, Ấn Độ đã và đang thăm dò nhiều chính sách về năng lượng(trong nước và nước ngoài), sử dụng các nhiên liệu và nhiều nhà cung cấp. Như vậy, chính sách về năng lượng trong bối cảnh này là một cơ chế hữu dụng hỗ trợ an ninh năng lượng. Thời gian tới, chính sách và các sáng kiến sẽ được thay đổi về nhận thức từ chính sách Hướng Đông đến Hành động phía Đông để thăm dò các vấn đề trở ngại về an ninh năng lượng liên quan đến tài nguyên dầu lửa và khí đốt (O&G) tương quan với sự hài hòa về chính trị. Mặc dù những thách thức vẫn còn nhiều, có thể xử lý thông qua đối thoại các vấn đề quan tâm đôi bên cùng có lợi thông qua hợp tác liên khu vực xuyên biên giới, đặc biệt là phải làm hài hòa các chính sách với các nước châu Á như Việt Nam nơi O&G được coi là các nguồn năng lượng quan trọng và sẻ chia quyền lợi kinh tế và địa chiến lược được sử dụng với tiềm năng cao.
Có một niềm tin rằng, nhu cầu về năng lượng đang ngày càng tăng, tài nguyên về O&G sẽ làm tăng mối quan tâm là phải khai thác tiềm năng còn đang ngủ yên ở khu vực Đông Nam Á. Ở những nơi này, tại vùng chưa được khai phá O&G, tất cả các nước có thặng dư về tài nguyên ở khu vực Đông Nam Á có thể tạo ra những triển vọng sán lạn về hợp tác năng lượng và có thể quyết định được các kế hoạch mở rộng kinh tế quốc gia của họ. Trong bối cảnh này, Ấn Độ mong muốn xây dựng chương trình hợp tác về năng lượng quy mô hơn với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam để hai nước chung tay vào hợp tác chiến lược về năng lượng và kinh tế. Ấn Độ, về thực tế, đã hiểu tính cấp bách của sự hợp tác khu vực và liên khu vực trong kế hoạch phát triển của mình và đã tiến hành các bước chuyển dịch chính sách quan trọng này từ “nhân nhượng sang không nhân nhượng” “song phương sang đa phương”, “đơn phương sang đơn phương có tính xây dựng” và “chủ nghĩa dân tộc về tài nguyên sang chia sẻ tài nguyên”.
Khái niệm an ninh năng lượng
An ninh năng lượng là một khái niệm có nhiều góc cạnh. Là lĩnh vực nghiên cứu hơi phức tạp do có mối quan hệ gần gũi với việc phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Vậy nên, chủ đề an ninh năng lượng cần được hiểu từ nhiều bình diện. Bắt đầu với nhu cầu và cung cấp, là hai khía cạnh cơ bản của bất cứ nghiên cứu nào liên quan đến an ninh năng lượng. Nhiều công trình nghiên cứu đã được triển khai để nêu bật tính phụ thuộc vào việc cung cấp năng lượng dài hạn và không gián đoạn để tăng trưởng kinh tế bền vững và tập trung phát triển xã hội và chính sách. Ấn Độ đã thể hiện tiềm năng được chứng minh liên quan đến tài nguyên năng lượng và giữ một ví trí quan trọng ở khu vực châu Á để phát triển chiến lược. Một điều nhận thấy là sự tiến bộ về kinh tế của Ấn Độ là có ý nghĩa đối với việc triển khai và phát triển lĩnh vực năng lượng. Mặt khác của khía cạnh cung cấp trong nghiên cứu là sự can thiệp công nghệ, sự hạn chế về công nghệ sẽ dẫn đến môi trường suy thoái, tính hiệu quả của hệ thống trong sử dụng các loại tài nguyên khác nhau là các yếu tố sống còn của An ninh Năng lượng. Tuy nhiên, nói ngắn gọn là thậm chí có nhiều khả năng để quản lý các thách thức về nhu cầu và cung cấp thì lĩnh vực hợp tác liên khu vực và bao hàm chính sách để đáp ứng được các mục tiêu xã hội trở thành điểm mấu chốt trong nghiên cứu để giải quyết các thách thức của Ấn Độ về chính sách năng lượng ở cấp độ toàn cầu.
Để mở rộng khái niệm trên về an ninh năng lượng thì trong vài thập kỷ qua tính từ sau khi giải phóng về kinh tế, năng lượng (như than đá, khí đốt, hydro), phi truyền thống (gió, mặt trời, điện từ sinh khối) và các nguồn từ đại dương như thủy triều cũng góp phần đảm bảo các nhu cầu về năng lượng
Nhưng mỗi nguồn năng lượng sẵn có và sự lựa chọn công nghệ sẽ tạo ra các lợi thế cho nhau, thể hiện tính hạn chế khi sử dụng. Hơn nữa, do biến đổi khí hậu và sự bất thường của hệ thống sinh thái tự nhiên, việc áp dụng các mức giá cao về năng lượng và công nghệ của khách hàng là không thể chấp nhận được, chỉ ra sự hạn chế của tài nguyên và tạo ra các rào cản đối với việc phát triển kinh tế xã hội. 
Thực tế, có 5 yếu tố then chốt trong chuyển dịch hệ thống năng lượng. Các hệ thống năng lượng gồm 3 phần: nhu cầu, cung cấp, và trong cơ chế mà 2 phần trên hoạt động và đi cùng với nhau. Có 2 nhân tố vĩ mô chính của quá trình chuyển giao hệ thống năng lượng, đó là phát triển kinh tế và các mục tiêu biến đổi khí hậu có ảnh hưởng lẫn nhau và tính tương tác của các phần khác trong hệ thống năng lượng. Ngoài ra sẽ có áp lực từ 2 tác nhân vĩ mô đối với hệ thống năng lượng và bản thân hệ thống năng lượng sẽ ảnh hưởng đến các mục tiêu về khí hậu và phát triển kinh tế. Vượt qua hạn chế này không phải là đơn giản khi muốn đạt một trình độ cao hơn về an ninh năng lượng mà không cần hợp tác và sắp đặt các cuộc đối thoại chính sách song phương trong xã hội và cộng đồng quốc tế.
Tuy nhiên, đối với mục đích của nghiên cứu này thì an ninh năng lượng có thể được hiểu như một sự tổng hòa giữa an ninh quốc gia và sự sẵn có của tài nguyên thiên nhiên để tiêu dung năng lượng. An ninh năng lượng gồm nhiều thành phần liên quan đến an ninh, tiếp cận với nguồn năng lượng giá rẻ bao hàm các thành phần chủ yếu trong đó. Vấn đề tiếp cận của an ninh năng lượng cần viện dẫn vai trò của kinh tế chính trị an ninh năng lượng. Ngoài việc tiếp cận, các mối quan t âm về môi trường như một phần của những thách thức toàn cầu hiện nay đã mở rộng tầm nhìn của an ninh năng lượng và các chính sách năng lượng tiếp theo
Triển vọng về năng lượng của Ấn Độ
Nhiều nguồn khai thác năng lượng đã giúp Ấn Độ đạt được các mục tiêu tiếp cận năng lượng tổng hợp ở cả hai, mức cơ bản và cũng hỗ trợ được các tiến bộ tổng thể của đất nước liên quan đến phát triển công nghiệp, nâng mức hỗ trợ cán cân thanh toán cho một bên, và đối với bên khác thì tăng cường thương mại, trao đổi hàng hóa song phương (các loại sản phẩm khác nhau về năng lượng) trên thế giới.
Theo Triển vọng năng lượng của BP năm 2019, đóng góp của Ấn Độ đối với nhu cầu toàn cầu sẽ tăng 11% vào năm 2040 từ 5% vào năm 2016, trong khi tăng trưởng nhu cầu về năng lượng khoảng 165% gần gấp 3 lần tổng mức tăng trưởng là 61% của các nước không nằm trong OECD. Liên quan vấn đề này thì nhu cầu về than sẽ là tăng trưởng lớn nhất, mở rộng tới 132%, tiếp theo là năng lượng tái tạo 409%, nguyên tử 412%, hydro 80%, khí đốt 85% và dầu 129%. Nhu cầu về năng lượng trong lĩnh vực giao thông tăng hàng năm là 4,4%, dầu luôn là nguồn nhiên liệu chiếm ưu thế chiếm 96% thị phần vào năm 2040, mặc dù xã hội sẽ định hướng vào các loại xe điện(1).
Cứ cho là ngành sản xuất nhiên liệu hóa thạch của Ấn Độ là định hình và tiếp tục phát triển thì cũng không đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đất nước, Ấn Độ sẽ vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu các tài nguyên năng lượng, chủ yếu vẫn là nhiên liệu hóa thạch đặc biệt là dầu lửa và khí đốt. Hiện nay sự phụ thuộc nhập khẩu đối với dầu lửa là 83%(2), khí đốt tự nhiên là 45%(3), than là 35-%(4), vì sản xuất dầu thô nội địa đang giảm xuống. Thực tế, trong năm tài chính hiện nay (2018-2019) Ấn Độ đã đăng ký sản lượng ở mức thấp nhất trong vòng 9 năm qua(5).
Tuy nhiên, lĩnh vực khí đốt hứa hẹn một bức tranh lạc quan hơn. Với tổng sản lượng cao nhất được ghi nhận trong 3 năm qua so sánh với các năm trước, sản lượng khí đốt của Ấn Độ đạt 30.057.000 m3 trong năm tài chính hiện nay (2018-2019), dữ liệu trích từ nguồn của Bộ Dầu lửa (6). Tuy nhiên, bất kỳ sự giảm nhập khẩu khí đốt nào đều là không thể. Thực tế nhập khẩu LNG của Ấn Độ tăng lên một cách cơ bản vì chính phủ đã tuyên bố dự định sẽ dịch chuyển Ấn Độ trở thành nền “kinh tế dựa vào khí đốt”. Thực tế là có khoảng 11 đường dẫn LNG đang được hoạch định trong 7 năm tới bổ sung thêm cho 4 đường hiện nay chứng tỏ Ấn Độ sẽ nhập khẩu một lượng lớn khí đốt trong các năm tới(7).
Triển vọng mà BP dự kiến công bố thì hỗn hợp năng lượng hiện nay của Ấn Độ tăng trưởng chậm với đáp ứng nhiên liệu hóa thạch là 82% nhu cầu vào năm 2040, hạ xuống từ 93% trong năm 2016 (Triển vọng Năng lượng của Ấn Độ, BP), 2018(9). Do lĩnh vực năng lượng có liên kết quan trọng với GDP, và được xem là lĩnh vực năng lượng của đất nước với tăng trưởng trung bình từ 2-3% như một phần của GDP duy trì nền kinh tế
Theo báo cáo triển vọng của BP(2018), thống kê năng lượng của Ấn Độ như sau:
- 2000-2014: tiêu dùng năng lượng của Ấn Độ tăng lên gấp đôi.
- 2017: với 753,7 triệu tấn dầu, Ấn Độ có nhu cầu về năng lượng lớn thứ 3 thế giới, bằng ¼ Trung Quốc; 1/3 Mỹ và còn tăng mạnh hơn cả 2 quốc gia trên trong thời gian tới.
- Ấn Độ dự kiến sẽ vượt tăng trưởng của Trung Quốc trước năm 2030 do đang hoạch định một lộ trình phát triển năng lượng tăng cường.
- Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc với tư cách là một thị trường năng lượng tăng trưởng lớn nhất vào năm 2020.
- Chỉ riêng Ấn Độ sẽ chiếm gần 30% toàn bộ mức tăng trưởng toàn cầu về nhu cầu năng lượng qua năm 2040.
- Nhập khẩu năng lượng các loại của Ấn Độ sẽ tăng từ 36% tiêu dùng cơ bản lên 55% vào năm 2040.
Kết hợp tăng dân số cao, mô hình sử dụng năng lượng thấp tính theo bình quân đầu người và tăng trưởng kinh tế cao - Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF dự kiến triển vọng kinh tế của Ấn Độ năm 2019 sẽ tăng trưởng 7,5%/năm và 7,7% năm 2020. Vị thế của Ấn Độ trên thị trường năng lượng được xem là tiếp tục tăng trưởng trong nhiều thập kỷ tới.
Một trong những lý do rõ ràng về tăng trưởng chậm có thể hiểu từ việc sử dụng các nguồn tài nguyên O&G. O&G là một phần quan trọng của tài nguyên hỗn hợp năng lượng để hỗ trợ cho An ninh Năng lượng và đất nước đang sử dụng chúng một cách chiến lược để kích hoạt và thăm dò sự tham gia của các dự án đường ống dẫn O&G xuyên quốc gia. Ngoài ra, ngoài ra, do nhiều thách thức về kinh tế, xã hội đối với chính sách và hợp tác cũng như vị thế không phát triển của các Bang vùng Đông Bắc Ấn Độ, từ đó đã hình thành một khoảng trống trong các chính sách về năng lượng đề khai thác tiềm năng O&G ở Đông Nam Á. Vấn đề không chỉ dừng lại ở các vấn đề trên mà còn liên quan đến các thách thức về quản lý của các công ty dầu lửa quốc gia và quốc tế, sự bất lợi về địa lý, vấn đề lao động có tay nghề, các công ty và các nhà thầu hoạt động trong chuỗi, các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động triển khai nhiều dự án O&G( chủ yếu do các Công ty Dầu lửa Quốc gia và Quốc tế thăm dò và triển khai) vẫn chưa tạo ra được kết quả mong muốn để hỗ trợ hỗn hợp năng lượng tối ưu.
Định hướng Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ
Trong ¼ thế kỷ, do mô hình tăng trưởng kinh tế, bùng nổ dân số, nhu cầu về sử dụng các nguồn tài nguyên tăng cao, đặc biệt là O&G. Các nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Ấn Độ, Trung Quốc và các nước khác ở Châu Á, nhu cầu về năng lượng trong khu vực tiếp tục tăng nhanh. Ngược lại, Trung Quốc và Ấn Độ đã và đang thăm dò nhiều lựa chọn về chính sách năng lượng và cơ chế đối thoại (trong nước và nước ngoài) để xử lý hàng loạt các các dự án liên quan đến  O&G, quản lý nguồn dự trữ lượng chiến lược. Bên cạnh các giải pháp khác, đất nước đang có chiến dịch tiếp cận và thăm dò sự tham gia của các bên trong các dự án xuyên quốc gia về lắp đặt đường ống dẫn dầu, khí đốt và dầu lửa tự nhiên, nhưng do mô hình chính trí địa phương, bất cập về địa lý và các nguyên nhân về kinh tế khác, nhiều dự án vẫn chưa tạo ra kết quả mong muốn. Hơn nữa, các bất ổn về chính trị đang gia tăng ở nhiều nước sản xuất dầu lửa (Vùng vịnh) và diễn ra các xung đột nặng nề đối với các nguồn tài nguyên ở đất liền và ngoài khơi (Biển đông), các quốc gia sử dụng năng lượng đặc biệt ở châu Á phải đối mặt với một tương lai khó khăn để đảm bảo an ninh năng lượng dài hạn của họ.
Thực tế, “yếu tố Trung Quốc” có một vai trò chính để chơi trong các mối quan hệ đương thời ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Có lý do chính đáng. Trong khi thương mại đang phát triển giữa Trung Quốc và các nước ASEAN được đánh giá cao thì tầm ảnh hưởng và sự cứng rắn của Trung Quốc liên quan các vấn đề lãnh thổ và Biển Đông đã gây lo lắng cho hầu hết các nước Đông Nam Á. Ấn Độ đang nổi lên là một cường quốc kinh tế và chính trị quan trọng trên vũ đài quốc tế và có thể đối trọng với Trung Quốc trong khu vực này ở một mức độ nào đó. Trong nhiều giải pháp thì cách này cũng tạo cơ hội cho Ấn Độ gần gũi với các nước ASEAN hơn và hỗ trợ đương đầu với Trung Quốc khi cần. Ví dụ minh chứng là các cuộc tập trận hải quân của Delhi đang diễn ra, kết nối liên hệ giữa các cảng, tiến hành đối thoại với các nước vùng ven trên Biển đông để nhắc nhở Bắc Kinh về khả năng và sự sẵn sàng của Ấn Độ có thể làm tăng cái giá phải trả trong chính sách đơn phương của Trung Quốc ở khu vực (Mukherjee,2018).
Về quan điểm này, Ấn Độ đã mở rộng phạm vi của chính sách Hướng Đông bao hàm từ kinh tế đến chiến lược chính trị và văn hóa. Ngoài các nước Đông Nam Á, Chính sách Hành động phía Đông tập trung vào các nước Đông Á tiếp giáp với Ấn Độ. Chính phủ Ấn Độ cũng kết nối phát triển với các bang vùng Đông Bắc Ấn Độ để khẳng định sự thành công của chính sách Hành động phía Đông của mình. Mục tiêu của Chính sách Hành động phía Đông (2015) là phát triển hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa và phát triển quan hệ chiến lược với các nước châu Á - Thái Binh Dương thông qua duy trì các cam kết song phương, khu vực và đa phương, qua đó, tăng cường kết nối với các bang vùng Đông Bắc Ấn Độ và các nước Đông Nam Á để đánh giá các mối quan hệ song phương trong khuôn khổ khu vực nhiều bên và các ưu tiên trong quá trình thực hiện các chính sách nhờ thay đổi về chức năng và cơ cầu. Nghiên cứu này được triển khai nhằm để hiểu và phân tích vai trò của các yếu tố chính trị, địa lý, văn hóa trong chính sách năng lượng của Ấn Độ, đặc biệt là mô hình rộng hơn của chính sách Hành động phía Đông. Nghiên cứu cũng tiến hành điều tra vai trò ngoại giao sức mạnh mềm để thay đổi các mô hình quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, đặc biệt là trong lĩnh vực hợp tác về năng lượng. Nghiên cứu cũng đề cập đến mức độ mà “chính trị ở mức thấp” có thể hỗ trợ hoặc cản trở các mối quan hệ khác như chính trị hoặc chiến lược giữa 2 nước ASEAN.
Một lĩnh vực quan trọng mà chính sách đối ngoại của Modi đã tạo bước ngoặt trong quá khứ đó là nâng cao tiếp cận “sức mạnh mềm” đối với các quan hệ quốc tế bằng cách thúc đẩy các hệ tư tưởng quy chuẩn của đảng đối với thế giới. Modi đã dựng lên chương trình nghị sự “kinh tế là trước tiên” để kết nối tốt hơn với lực lượng lao động có tay nghề và đổi mới và các Ấn kiều giàu về vốn ở các nước trên thế giới. Chính sách đối ngoại của Narendra Modi được triển khai để có thể tự thân biến Ấn Độ thành một cường quốc. Các học  giả đã  chỉ ra một số nhân tố cơ bản bao gồm(i) Ấn Độ có mong muốn trở thành một cường quốc tiên phong hơn là “một cường quốc chỉ giữ thế cân bằng”;(ii) ngoại giao cần được sử dụng để thúc đẩy sự chuyển hóa kinh tế xã hội của quốc gia; (iii) Bộ ngoại giao cần có tầm nhìn toàn cầu 360 độ để điều tiết khả năng làm ảnh hưởng thế giới thông qua trang web tình hữu nghị quốc tế và cân bằng quyền lực có lợi cho Ấn Độ. (iV) trong khi tăng cường khả năng quốc phòng và sức mạnh kinh tế, Ấn Độ cần sử dụng sức mạnh mềm đầy tiềm năng; (v) nuôi dưỡng các mối quan hệ với kiều Ấn và giúp đỡ những kiều Ấn nghèo khổ ở nước ngoài là một ưu tiên (Bhatia, 2016). Quốc hội(2016) cũng chỉ ra chính sách đối ngoại của của Chính phủ Modi cần xây dựng trên nền tảng sự chuyển dịch tự do mới mà các mối quan hệ đối ngoại của Ấn Độ đã trải qua sự giải phóng kinh tế quan trọng vào năm 1991.
Chính sách Hướng Đông đóng góp có ý nghĩa vào việc cải thiện thương mại giữa Ấn Độ và ASEAN, những vẫn còn nhiều việc phải làm và đạt được trong các lĩnh vực hợp tác về năng lượng. Các tác giả như Viswanath (2018) tỏ ra lạc quan về sự thành công của Chính sách Hành động phía Đông. Một vài tác giả tin tưởng rằng chính sách Hành động phía Đông sẽ tập trung xung lượng để có sự kết nối lớn hơn, triển vọng thương mại, thị trường và trao đổi thông tin. Sự dư thừa năng lượng và một ASEAN hướng tới xuất khẩu sẽ cần có cái nhìn lại Ấn Độ, một đất nước có nền kinh tế tăng trưởng, các dịch vụ chất lượng và thị trường đang phát triển.
Biểu đồ 4 cho thấy hiện trạng nhập khẩu năng lượng giá trị tuyệt đối như tỷ lệ % sử dụng năng lượng đối với các quốc gia lựa chọn trong năm 2014. Theo quan sát thì Ấn Độ và Bangladesh là nước nhập khẩu tài nguyên năng lượng có giá trị tuyệt đối lên tới 34% và 17% sử dụng năng lượng, Myanmar, Việt Nam, Malaysia và Indonesia là nước xuất khẩu năng lượng giá trị tuyệt đối.
Tại các nước Myanmar,  Việt Nam và Malaysia đã có sự giảm % nhập khẩu  năng lượng được minh họa ở biểu đồ 6. Indonesia là nước duy nhất tiếp tục tăng về xuất khẩu năng lượng giá trị tuyệt đối đến năm 2013. Tuy nhiên, sau năm 2013, xuất khẩu của Indonesia có chiều hướng đi xuống theo Biểu đồ 6.
Sử dụng và tiếp cận nguồn năng lượng
Xu hướng tiếp cận nguồn năng lượng hiện đại cũng khác nhau giữa các quốc gia.
Kiểm tra sử dụng năng lượng điện tính theo đầu người bằng kwh năm 2014 trong Biểu đồ 7, điều nổi bật là Ấn Độ, Bangladesh, Myanmar, Việt Nam và Indonesia có mức tiêu thụ thấp hơn nhiều so với mức tiêu thụ trung bình của thế giới tính theo đầu người là 3127 kWh. Thái Lan là 2540 kWh thấp hơn mức của là thế giới nhưng chênh lệch không nhiều. Trường hợp của Malaysia là có khác về mức tiêu thụ điện ở mức 4596 kWh, cao hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới.                   
Về tiếp cận đến nguồn điện theo tỷ lệ % dân số năm 2016 đã nêu ở biểu đồ 8, trong khi Việt Nam, Thái Lan và Malaysia đã  tiếp cận tổng hợp tới nguồn điện và Indonesia đang gần tới ngưỡng với 97,6% dân số tiếp cận với điện. Có một bộ phận dân chúng ở Ấn Độ, Bangladesh và Myanmar chưa được sử dụng điện mặc dù các nước này đã tăng nhập khẩu nhiên liệu năng lượng. Myanmar có tỷ lệ tiếp cận nguồn điện thấp nhất, chỉ có 57% dân số được sử dụng điện. Ấn Độ và Bangladesh triển khai tương đối tốt với 85% và 76% dân số được sử dụng điện. Đối với trường hợp Ấn Độ và Bangladesh thì hiện trạng tiếp cận nguồn điện không phải là thất vọng lắm theo cách tinh%. Nhưng do dân số cao, số lượng tuyệt đối những người không thể có điện  là rất lớn  , trường hợp của Ấn Độ là 240 triệu người và hơn 30 triệu hộ gia đình(11) (Bloomberg 2017, Bloomberg 2018, Forbes 2018).
Phân tích khuynh hướng trong tiếp cận điện cùng với xu hướng nhập khẩu các nguồn năng lượng nhấn mạnh tính hợp lý về thương mại điện năng giữa các quốc gia. Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Indonesia đã đạt được điện khí hóa tổng hợp ở đất nước họ và là các quốc gia xuất khẩu và có thể tìm được thị trường lớn để xuất khẩu sang Ấn Độ, Bangladesh tăng kim ngạch ngoại tệ nhờ xuất khẩu tăng trưởng. Dòng tiền mặt được cải thiện dẫn đến trì hoãn nhu cầu đầu tư vốn nội địa lớn và tránh các nhu cầu đầu tư quan trọng. Hơn nữa, thị trường năng lượng hợp nhất có thể tăng sản lượng và FDI, đặc biệt là thông qua cắt giảm thuế quan, giảm trợ cấp và đầu tư nhiều hơn vào hạ tầng.(12). Hợp tác về năng lượng sẽ có tác động tích cựcđến môi trường và biến đổi khí hậu. Điều này là phù hợp đối với các quốc gia vì họ quá lệ thuộc vào dầu lửa và than, và lệ thuộc này còn tiếp tục tăng mặc dù các bên ký kết thỏa thuận và cam kết Paris về Đóng góp do Quốc gia quyết định(NDC). Nhập khẩu khí đốt tự nhiên và năng lượng Hydro sẽ hỗ trợ điều tiết tăng lên.(13). Quản lý các nguồn tài nguyên trong khu vực và sử dụng các nguồn năng lượng nguyên thủy do thương mại tạo ra sẽ được tối ưu hóa lợi ích cho tất cả mọi người, giải quyết được các vấn đề bất cập trong cung cầu cùng với các mối quan tâm về an ninh năng lượng và môi trường.
Tình hình hợp tác năng lượng hiện nay giữa Ấn Độ và Đông Nam Á
Trao đổi thương mại của Ấn Độ với các nước láng giềng phía Đông có thể là mối quan tâm lớn hơn trong thương mại khu vực và hợp nhất thị trường xuyên biên giới. Trước khi cải cách kinh tế năm 1991, thương mại về năng lượng còn rất hạn chế chỉ nhập dầu và các sản phẩm của dầu mặc dù  các công ty năng lượng trong nước gặp nhiều thách thức phải dùng than chất lượng thấp để sản xuất điện(14). Cùng với việc tự do hóa, đã có thay đổi trong hệ tư duy chính trị và chính sách kinh tế nhằm đảm bảo an ninh năng lượng bằng cách đa dạng hóa các nguồn năng lượng bổ sung bởi nhập khẩu LNG, nhập khẩu than và giành được các mỏ khí đốt và dầu ở nước ngoài..
            Biểu 2:Xuất khẩu và Nhập khẩu nhiên liệu của Ấn Độ (1000 USD)
Quốc gia Xuất khẩu nhiên liệu của Ấn Độ năm 2016 Nhập khẩu nhiên lieuj của Ấn Độ năm 2016
Bangladesh 150,294.86 34.864,16
Myanmar 4,558.89 21.49
Thailan 35,415.75 46,844.89
Việt Nam 129,307.62 5,624.93
Indonesia 91,26.51 4,730,837.28
Malaysia 490,637.17 1,863,861.65
 Nguồn:Hệ thống Thương mại Hợp nhất của Thế giới (2018)
 
Đánh giá xu hướng thương mại nhiên liệu ở Ấn Độ (Biểu đồ 9(a) to 9(f) cho thấy Bangladesh, Myanmar và Việt Nam là các điểm đến đối với xuất khẩu năng lượng của Ấn Độ; trong khi Indonesia, Thái Lan và Myanmar là những nguồn quan trọng để Ấn Độ nhập khẩu năng lượng. Đối với Việt Nam, xuất khẩu nhiên liệu cho Ấn Độ giảm mạnh và it hơn so với nhập khẩu nhiên liệu năng lượng từ Ấn Độ sau năm 2013. Mặc dù Indonesia, Tháilan và Myanmar là những nguồn nhiên liệu đối với Ấn Độ, tổng giá trị nhập khẩu với các quốc gia này đang có chiều hướng giảm những năm gần đây. Tổng trao đổi thương mại về năng lượng giữa Ấn Độ và Indonesia đã giảm trong những năm gần đây, phù hợp với xu hướng suy giảm trong xuất khẩu giá trị tuyệt đối đã trình bày ở Biểu đồ 9.
Kịch bản năng lượng của Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia ổn định và năng động nhất ở Đông Nam Á cả về hệ thống chính trị và phát triển kinh tế. GDP của Việt Nam tính theo đầu người từ 699 USD đến 2052 USD giữa các năm 2005 và 2014. Dân số có tốc độ đô thị hóa nhanh và đòi hỏi chất lượng sống cao hơn đã tạo áp lực lớn với nguồn tài nguyên của nước này, đòi hỏi phải phân tích ngành công nghiệp khí đốt và dầu của Việt Nam, đặc biệt là khả năng xuất khẩu và tiềm năng của quốc gia này đối với việc hợp tác thân thiện hơn để đảm bảo an ninh năng lượng cho Ấn Độ.
                  Bảng Tổng trữ lượng Dầu và khí của Việt Nam
Loại tài nguyên Nghìn triệu tấn  tỷ lệ Tỷ suất R/P
Dầu         4,4 0.3%   36.2
Khí tự nhiên         0.6* 0.3%   57.6
*Khí đốt tự nhiên tính bằng nghìn tỷ m3 (Nguồn: Tạp chí Thống kê Năng lượng Thế giới, 2017.
Bảng thống kê giữa sản xuất và sử dụng dầu năm 2017 các quốc gia trong nhóm
Các nước trong nhóm Sản xuất tương
Đương triệu thùng
Sử dụng tương đương triệu tấn dầu Tỷ lệ sản xuất của thế giới Tỷ lệ tiêu dung của thế giới
Indonesia 46.4 77.3 1.1% 1.7%
Ấn Độ 40.4 222.1 0.9% 4.8%
Malaysia 32.2 36.9 0.7% 0.8%
Thái Lan 16.8% 63.9 0.4% 1.4%
Việt Nam 16.1 23.0 0.4% 0.5%
Vào cuối năm 2017, trữ lượng dầu thô của Việt Nam vào khoảng 4,4 tỷ thùng đứng thứ nhất ở khu vực Đông Nam Á,  nhưng trữ lượng về khí đốt chỉ khoảng 0.6 ngàn tỷ m3, đứng thứ 3 ở Đông Nam Á (Biểu 1) sau Indonesia và Malaysia (15). Ngày 31/12/2015, toàn ngành công nghiệp xăng dầu đã sản xuất được 352, 68 triệu tấn dầu và 114.03 tỷ m3 khí đốt tự nhiên (16).
Trữ lượng dầu ở Việt Nam lên tới 4.4 tỷ thùng, số lượng đủ cho 30  năm với tốc độ sản xuất như hiện nay. Cơ quan Năng lượng Quốc tế có ý kiến rằng cuộc khủng hoảng ở Biển đông đã tạo ra một rào cản nguyên thủy trong việc thăm dò trữ lượng ở tầng nước sâu tiềm năng có thể làm giảm trữ lượng (IEA 2015:58).
Với trữ lượng đạt 0.7 nghìn tỷ m3 năm, trữ lượng khí đốt tự nhiên của Việt Nam dự kiến sử dụng trong 66 năm. Sản xuất khí đốt tự nhiên đạt 10 tỷ f3 năm 2013 (IEA:65). Những trữ lượng này được phát hiện chủ yếu ở lưu vực Nam Côn Sơn và khí đốt hỗn hợp từ mỏ dầu. Hạ tầng kém phát triển và giá khí đốt không bình ổn tác động đến việc mở rộng thăm dò và sản xuất ở các khu vực khác. Hàm lượng Các bon đi ô xít và Hydro sulphua từ khí đốt sản xuất tại Nam Côn Sơn và lưu vực Bắc sông Hồng đòi hỏi quá trình tinh chế lâu hơn làm tăng giá thành sản phẩm. Với sản lượng 33 tấn/Cascbon/m (Mtce) trong sản xuất than năm 2013, Việt Nam là quốc gia sản xuất than lớn thứ 2 ở Đông Nam Á sau Indonesia.
Khoảng cách về khí đốt tự nhiên của các quốc gia giữa sản xuất
và tiêu dùng năm 2017
Các nước thuộc nhóm Sản xuất tương đương triệu thùng dầ Tiêu dung tương đương triệu thùng Tỷ lệ sản xuất trên thế giới Tỷ lệ tiêu dung của thế giới
Ấn Độ 24.5 46.6 0.8% 1.5%
Thái Lan 33.3 43.1 1.1% 1.4%
Malaysia 67.4 36.8 2.1% 1.2%
Indonesia 58.4 33.7 1.8% 1.1%
Bangladesh 22.9 22.9 0.7% 0.7%
Myanmar 15.5 <5 0.5% 0.3%
Việt Nam 8.1 8.1 0.3% 0.3%
Nguồn BP
Đinh hướng chính sách của Việt Nam
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội (hay còn gọi là Chiến lược phát triển kinh tế) đã được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn năm 2011 và có giá trị đến năm 2020, đã phác họa kế hoạch dài hạn của Chính phủ. Một thực tế là dân số đang khát các nguồn tài nguyên về năng lượng làm giảm khả năng xuất khẩu khí đốt và dầu lửa. Dầu thô và các sản phẩm xăng chiếm 27% tổng cung cấp năng lượng nguyên thủy, chiếm 58 Mtoe vào năm 2012.Tăng trưởng từ 0,2 Mtoe năm 1990 lên mức cao nhất là 22 Mtoe năm 2006. Xuất khẩu năng lượng giá trị tuyệt đối của Việt Nam đã ghi nhận giảm kỷ lục do nhu cầu trong nước tăng cao. Năm 2012 dầu thô chiếm 9.4Mtoe trong xuất khẩu năng lượng (ADB2015:2). Xem xét về cơ cấu thể chế của ngành năng lượng quốc gia thì cũng lạc quan về cách điều hành và ra quyết định của ngành đối với các bên liên quan.Kế hoạch tổng thể của Việt Nam là đặt ra công suất phát điện là 26.500 MW cho giai đoạn 2014-2020, phần lớn trong đó là sử dụng than để hoạt động các nhà máy điện (19.600 MW). Đầu tư lũy tiến trong giai đoạn 6 năm bắt đầu từ năm 2014 đạt 41,8 tỷ USD, trung bình mỗi năm tiêu 5,97 tỷ USD.
Giới thiệu năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân là mục tiêu khác của Chiến lược Phát triển năng lượng. Tỷ lệ năng lượng tái tạo tăng lên 5% trong tổng nguồn năng lượng nguyên thủy vào năm 2020. Kế hoạch Phát triển năng lượng điều chỉnh VII (PDP VII) sẽ xây dựng nhiều dự án  truyền phát điện giữa năm 2014 và 2020 và thành lập nhiều dự án năng lượng tái tạo.
Việt Nam kỳ vọng đa dạng hóa hỗn hợp năng lượng của mình để đuổi kịp và vượt các nước láng giềng ở Đông Nam Á hiện nay. Trong khi nhiều nước láng giềng chuyển qua phát điện bằng đốt than, Việt Nam lại tích cực theo đuổi một chương trình hạt nhân để phát điện. Kế hoạch tổng thể đã được chính phủ phê duyệt năm 2011 tập trung cung cấp nguồn năng lượng nguyên tử chiếm 10% nhu cầu quốc gia vào năm 2030 (IEA 2015:15).
Phần lớn sản lượng 600 tấn(MT) dầu thô là nằm ngoài khơi của Việt Nam (ADB 2015:12). Mỏ dầu lớn Bạch Hổ năm 2004 đã góp phần đẩy lượng xuất khẩu dầu của Việt Nam lên cao kỷ lục tới 20 MT. Nhu cầu trong nước đối với các sản phẩm xăng dầu đạt 14.4 MT năm 2013. Để đáp ứng nhu cầu, 7.5MT phải nhập khẩu và 6.6 mT phải lấy từ nhà máy lọc dầu Dung Quất (ADB 2015:12).
Giống như dầu thô, phần lớn sản lượng 600 tỷ m3(bcm) khí đốt tự nhiên của Việt Nam là nằm ở các mỏ ngoài khơi(17). Mức sản xuất ổn định là 10bcm/năm, lượng dự trữ có thể kéo dài 63 năm. Kế hoạch Tổng thể về dầu và khí đốt dự kiến sử dụng khí đốt để phát điện sẽ tăng từ 8bcm năm 2010 lên 21-24bc  vào năm 2025. Sản xuất trong nước không đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng. PV-Gas là công ty con của PetroVietnam đang đầu tư xây dựng 2 đường ống dẫn  để nhập khẩu khí. hóa lỏng (LNG) (ADB 2015:13).
Hợp tác Việt Nam - Ấn Độ
Với tư cách là nước điều phối viên các quan hệ giữa Ấn Độ và Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) trong 3 năm từ năm 2015, Việt Nam là thành viên quan trọng trong Chính sách Hành động Hướng Đông của Ấn Độ. Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Pranab Mukherjee năm 2014 cũng được đáp lại bởi chuyến thăm Ấn Độ cùng năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ mang ý nghĩa quan trọng là đã ra được tuyên bố chung công nhận những đóng góp của nhau trong các lĩnh vực như quốc phòng giữa hai nước (Thayer 2014:1). Năng lượng là một trong những nội dung hợp tác được hai Thủ tướng thảo luận vào năm 2014 bên cạnh các vấn đề như quốc phòng, vấn đề Biển Đông, thương mại, đầu tư và vũ trụ.
Hợp tác về Năng lượng Việt Nam-Ấn Độ
Trong chuyến thăm  cấp Nhà nước của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tới Ấn Độ vào tháng 10 năm 2014, 7 thỏa thuận trong đó có 1 thỏa thuận về hợp tác năng lượng đã được ký kết. Năm 2016, khi Thủ tướng Modi thăm chính thức Việt Nam, cả hai Thủ tướng đã đồng ý tiếp tục tăng cường hợp tác trong lĩnh vực dầu khí và thúc giục 2 bên khẩn trương thực hiện tích cực Thỏa thuận đã ký năm 2014 giữa PVN và )VL về hợp tác trong 2 lĩnh vực này ở Việt Nam. Phía Việt Nam đã ủng hộ việc đầu tư dài hạn và sự  hiện  diện của Công ty ONGC Videsh Limited(OVL) và đối tác Việt Nam là PVN trong việc thăm dò dầu khí ở Việt Nam và cũng chào mừng các công ty dầu khí của Ấn Độ tham gia vào lĩnh vực thăm dò và khai thác ở Việt Nam.
Quan hệ chiến lược giữa hai nước đã dịch chuyển từ quan hệ bình thường giữa nhà cung cấp và bạn hàng sang hợp tác công khai trong lĩnh vực quốc phòng.Để nhấn mạnh điều này, Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Ấn Độ đã chuyển gói tín dụng 100 triệu USD (với lãi suất 2%/năm) cho Bộ Tài chính Việt Nam để phục phục vụ mua sắm quốc phòng. Trong chuyến thăm của Thủ tướng nguyễn Tấn Dũng năm 2014, Thủ tướng Ấn Độ Modi đã coi Việt Nam là đối tác thứ nhất trong các đối tác ở khu vực châu Á - Thái Bình dương. Kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 8,5 tỷ USD năm 2018. Một gói tín dụng 300 triệu USD đã được chuyển vào năm 2014 để hỗ trợ đa dạng hóa nguồn vật liệu thô của Việt Nam phục vụ ngành dệt may của Việt Nam để giảm lệ thuộc vào nguyên liệu thô của Trung Quốc (Thayer 2014:1).
ONGC Videsh ở Việt Nam
Sản xuất dầu khí từ tài sản của ONGC trong  tài chính 2017 đã lên tới 12.80 MMToe(Dầu: 8.43 MMT; Khí: 437 BCM). Với đóng góp 12%, tài sản ở Việt Nam của ONGC đứng thứ hai sau sau tài sản ở Nga của ONGC (56%), về sản xuất ở nước ngoài (ONGC 2017:48). ONGC Videsh (OVL) là cánh tay mặt của công ty tiến hành các hoạt động sản xuất và thăm dò bên ngoài Ấn Độ. TRong 38 dự án ở 17 nước thì ONGC có 2 dự án ở Việt Nam, khối 128 và 06.1. Cả hai dự án này đã được ký kết trên cơ sở Hợp đồng Chia sẻ Sản xuất (PSC).
Hợp tác về Hydro Cacbon, triển khai lần đầu năm 1988 do Công ty Dầu khí Ấn Độ Videsh Ltd thực hiện.(ONGC/OVL), gần đây không được đẩy mạnh do chú trọng hợp tác quốc phòng hơn. Năm 2003, cấp phép thăm dò nước sâu được triển khai. 1 trong 9 block đã được bán ở lưu vực Phú Khánh, được đo đạc từ 50 – 2.500 m, 4 block đã được bán. 2 block số 127 và 128 ở phía Đông của Cửu Long ONGC Videsh Ltd đã mua năm 2006 bằng 100% lãi suất tham gia.
Việc tiếp nhận các Block thăm dò 127 và 128 vào năm 2006 diễn ra không mấy suôn sẻ. Block 128 phải giao lại do lý do thương mại(18). Thăm dò Block 128 nằm ở địa phận vùng Biển Đông mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, và Trung Quốc đã phản đổi năm 2012. Bộ Ngoại giao Ấn Độ đã thuyết phục ONGC vẫn giữ Block này do Việt Nam đảm bảo hoàn toàn an ninh.(Thayer 2014:3).
OVL có 45% cổ phần trong thăm dò Block 06.1 ở lưu vực Nam Côn Sơn. Việc này đã được tiến hành năm 1988. Vùng này có diện tích là 955 km2. TNK ở Nga (35%) và PetroVietnam (20%) là các thành viên của tập đoàn tài chính với cổ phần là 35% và 20%.Cơ sở này vẫn đang phát triển và sản xuất.(ONGC 2017:556). Sản xuất ở mỏ Lan Tay (ở dạng khí và cô đặc) vào tháng 1/2013 mỏ này là mỏ đầu tiên của ONGC Videsh. Sản xuất ở Mỏ Lan Do bắt đầu năm 2012. ONGC đã chứng minh có trữ lượng tiềm năng(2P) tại Block 06.1( được coi là vị trí hái ra tiền đến con số 8.247 MMToe(19).  Đầu tư lũy tiến vào Block 06.1 đã lên đến 429,16 triệu USD tính đến tháng 3/2016 (ONGC 2016:42).
Kết luận

Triển vọng cạnh tranh về các yếu tố về giá cung cấp năng lượng là tích cực hơn so với kết quả đưa ra tại các cuộc đàm phán về an ninh năng lượng. Điều này cho thấy thảo luận tập trung vào các vấn đề đảm bảo tốt nhất về cung cấp năng lượng an toàn với mức giá ổn định. Thảo luận có 2 xu hướng lập luận đó là chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do. Hiện thực hay địa lý chiến lược đều khẳng đinh là cạnh tranh về tài nguyên là không thể tránh được trong một thế giới vô chính phủ, cũng tương tự như kiểm soát nguồn cung cấp cho dù là qua đầu tư hay các quan hệ chính trị với các quốc gia xuất khẩu hay thông qua sự độc lập về năng lượng.  Khía cạnh tự do có thiên về tiếp cận  thị trường để đạt được an ninh năng lượng. Phương pháp dựa vào thị trường đề xuất hợp tác về năng lượng là có thể và ủng hộ việc tự do hóa các thị trường năng lượng để tăng cường hội nhập về năng lượng.

Năng lượng đối với Ấn Độ là yếu tố chủ chốt để đảm bảo nhu cầu phát triển xã hội đóng một vai trò quan trong để tăng trưởng kinh tế. Trong vài thập kỷ trước do chuyển biến khí hậu mới và tịch tụ các nhu cầu xã hội đặc thù, thuật ngữ an ninh năng lượng được hiểu rộng ra với nhiều hàm ý khác nhau  trong nhiều nghiên cứu như tính sẵn có, tính tiếp cận, tính có khả năng, và tính chấp nhận( còn gọi là thật ngữ 4A của an ninh năng lượng) ở tầm rộng của ý nghĩa. Sự quan hệ mang tính xây dựng là quan trọng đối với hợp tác năng lượng của Ấn Độ với việc mở rộng ra các nước láng giềng Đông nam Á. Thảo luận thường xoay quanh các vấn đề, thách thức và các cơ hội mà các công ty đón nhận trong đầu tư ở các nước này. Mỗi quốc gia đều phải gặp những thực tế khó khăn ở mỗi nước khi tiến hành các dự án đầu tư về dầu khí ở các nước đặc thù.
Sự tập trung chủ yếu sẽ có tác dụng phát triển và hỗ trợ nghiên cứu và triển khai ,nhằm lôi cuốn các công nghệ hiện đại đặc biệt là lĩnh vực dầu khí, và đầu tư cần thiết trong các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn và tăng cường công nghệ. Tuy nhiên, môi trường đầu tư hấp dẫn vẫn là môi trường không có tính quan liêu và tham nhũng.
 PVN và Tập đoàn Xăng dầu quốc gia Việt Nam (Petrolimex) là 2 cơ quan lớn nhất hoạt động trong lĩnh vực dầu khí. Trong khi  Petrolimex hiện nay chỉ tham gia gia vào các hoạt động phân phối và chuyên chở, PVN cũng sản xuất các sản phẩm tinh chế và chế biến khí. Thật không phải là cường điệu hóa khi nói rằng Việt Nam có ý thiên về các nguồn tài nguyên dư thừa. Quốc gia này có tiềm năng hết sức ngạc nhiên về trữ lượng dầu và khí chủ yếu tập trung ở miền Nam Việt Nam.Trữ lượng dầu thô của Việt Nam lớn thứ 2 ở khu vực Đông Á chỉ sau Trung Quốc.
Các dự án hạ tầng về dầu khí đòi hỏi vốn đầu tư cao nhưng lại rất dễ bị rủi ro do quá nhiều các nhà đầu tư, thêm nữa là sự phản đối của nhân dân địa phương ở những khu đất dự án về môi trường ô nhiễm và tác động của công nghệ hiện đại. Tham nhũng, quan liêu kết hợp kết hợp với nhân viên thiếu trình độ, thực hiện các quyết định yếu kém là yếu tố rủi ro chủ đạo cản trở sự thành công của dự án. Chính phủ đã lưu ý tới việc kêu gọi cải cách hành chính đối với ngành dầu khí, ngành đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng kinh tế. Hợp tác giữa các cơ quan quyền lực về môi trường và Tổ chức phi chính phủ với ngành công nghiệp  phải đáng được khích lệ (Thuyet at al.2007; 186). Tình trạng chậm trễ trong việc chỉ ra các khuyết tật trong khuôn khổ dự án kéo theo chi phí đội lên cao. Các kỹ sư nước ngoài có bề dày kinh nghiệm trong việc thiết kế các dự án có trình độ kỹ thuật cao thường phải đối mặt với các vấn đề thích nghi với tiêu chuẩn thiết kế của Việt Nam không mới và không hiệu quả. Cần phải giới thiệu kinh nghiệm làm việc thực tế ở hệ giáo dục đại học để tháo gỡ tính thiếu lành nghề của nhân lực.
Sự bất cập trong quy trình đấu thầu của ngành dầu khí ở Việt Nam cho dù là cạnh tranh, đàm phán hay kết hợp cả hai đều dẫn đến quá muộn màng trong thực hiện các dự án. Nhà thầu cạnh tranh mở, mô hình được yêu thích nhất do tính minh bạch của nó- nhưng lại rất tốn thời gian và hạn chế đối với các dự án lớn yêu cầu tham gia của các bên nước ngoài
Sản xuất khí nội địa ở Việt Nam dần phát triển từ năm 1995, đã bị cản trở bởi giá khí nội địa thấp và và các tranh cãi về giá. Việc giới thiệu luật đầu tư nước ngoài năm 1987 không thể làm dừng lại chuyến bay của nhiều nhà đầu tư tư nhân quốc tế như British Gas, LASMO, Union Taxas, Petrolium  Canada vào giữa những năm 90.
Do và Sharma bình luận rằng nhiều dự án tổng thể do các Bộ làm nhiệm vụ điều phối với các cơ quan rất phức tạp. Đa phần các giá năng lượng đều bị điều chỉnh, có sự tham gia của tư nhân đặc biệt là bán điện , rất ngột ngạt và bế tắc.
Quá trình cổ phần hóa hay giảm sự độc quyền của nhà nước và chuyển sang mô hình công ty cổ phần cũng không cải thiện được tình hình là bao. Các công ty sở hữu nhà nước như EVN liên quan đến sản xuất điện và Petrolimex sản xuất xăng dầu thì mỗi ông lớn này kiểm soát 60% và 50% thị trường của họ. Việc ứng dụng dải băng rộng để fix giá sử dụng điện năng của ngành để hỗ trợ cho người nghèo tiếp cận nguồn điện lại gây ra đình trệ đối với việc cải tiến công nghệ làm cho ngành công nghiệp tăng cường năng lượng lại tốn nhiều điện năng hơn.
Do vậy, để tóm tắt, tuy nhiên có một vài vấn đề quan trọng mà Ấn Độ cần quan tâm ngay.
Một là, tất cả các công ty dầu khí Ấn Độ phải phát triển phòng nghiên cứu R&D của mình để không nghừng nghiên cứu công nghệ để ứng dụng trong các công ty dầu khí tiên tiến như 5 công ty của Trung Quốc bình luận ở trên như Mobil Exxon, Chevron, Shell, BP..vv. và các công nghệ phải được ứng dụng bởi các công ty nổi tiếng như Schlumberger, Halliburton, PetroChina, CNÔC, Kogas,v.v.. Để làm được điều này, các công ty dầu lửa Ấn Độ phải có khả năng xác định các nhà khoa học Ấn Độ đang làm việc tại các công ty này trong bộ phận nâng cấp công nghệ và nghiên cứu các công nghệ hiện đại.
Hai là, Bộ Năng lượng Ấn Độ cần phát triển cục nghiên cứu và triển khai tiên tiến trong bộ để làm việc và nghiên cứu liên tục các xu hướng phát triển của ngành Hydrocacbon, thị trường, quan hệ, công nghê, và cơ chế hoạt động. Việc nghiên cứu triển khai này sẽ là bộ điều khiển rất có ý nghĩa đối với kịch bản R&D của thế giới. Nguồn tài nguyên thì có nhiều nhưng chưa khai phá, chưa thăm dò vì thiếu phát triển công nghệ. Cho nên, điều này sẽ là chất xám để đổi mới và lựa chọn vai trò quan trọng nhất. Một điều có tầm quan trọng lớn là chính phủ Ấn Độ cần phải tăng cường kinh phí đầu tư cho R&D và nghiên cứu công nghệ tăng cường hàng năm.
Ba là, tính tự chủ cần được nhân rộng. Một thách thức chủ yếu đối với ngành dầu khí Ấn Độ là chưa có nhân viên kiểm soát công nhân trên thị trường quốc tế và đây là một yêu cầu bắt buộc để công nhân tiếp nhận sự tư vấn, lắng nghe ý kiến từ các nhân viên cấp trên phụ trách về chất lượng sản phẩm ở các công ty, bộ xăng dầu hay  tại các ủy ban của chính phủ. Tốn nhiều thời gian vào các việc đàm phán, mời thầu..vv. những việc mà cam kết tài chính thường đến muộn, thậm chí sau khi các tổ chức cạnh tranh của các nước khác kết thúc hồ sơ và sắp đặt tài chính. Sự mất thời gian này là có thể tránh được. với các quy trình tư duy  thực tế và đầu tư kinh phí trước. Các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực dầu khí của ngành năng lượng cần xử lý vấn đề khó khăn nội địa này của Ấn Độ. Ấn Độ có tiềm năng xử lý các vấn đề này và phát triển các mỏ năng lượng.
Bốn là,  trong quy trình tiếp nhận tài nguyên năng lượng và làm cho năng lượng phải đảm bảo cho xã hội, trên thực tế, Ấn Độ cần ưu tiên hóa các mục tiêu về giá trị. Không liên kết các vấn đề và mối quan tâm với năng lượng và hợp tác kinh tế sẽ huy động được cơ chế thương mại và đầu tư một cách hiệu quả hơn.
Năm là, sử dụng hiệu quả  ngoại giao quyền lực mềm đối với trường hợp các quốc gia Đông Nam Châu Á nơi mà Ấn Độ có quan hệ văn hóa, xã hội và thương mại sâu sắc với các nước, yếu tố cần thiết để lấy lại những gì đã mất. Chính sách Hành động Hướng Đông của Ấn Độ tập trung vào kết nối, văn hóa, thương mại hòa nhịp với phát triển một xã hội an ninh về năng lượng.
Sáu là, chính trị cấp cao của Ấn Độ luôn là nổi trội trong các quan hệ của Ấn Độ với các quốc gia Nam Á và Đông Nam Á . Các cuộc gặp chính trị cấp thượng đỉnh với các đối tác ở Đông Nam Á có thể tạo ra các lợi ích tiềm năng về chiến lược địa lý và kinh tế địa lý khi Ấn Độ can dự vào khu vực. Nó có thể là một thị trường và cơ chế thương mại cân bằng ở Đông Nam Á.
Bảy là, chính sách đơn phương chủ nghĩa xây dựng với các nước láng giềng Nam Á có thể mở rộng ra các nước Đông Nam Á cũng như các nước mà có thể thúc đẩy phát triển về y tế, IT và dịch vụ cho Ấn Độ. Gói tín dụng dành cho phát triển và và trợ cấp trong trường hợp khủng hoảng nhân đạo (Tỵ nạn Rohingya) sẽ đặt một nền móng vững chắc hơn cho hợp tác song phương và đa phương trong các lĩnh vực  năng lượng, thương mại và đầu tư./.

* Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nam Á, Nguyên Giám đốc Chương trình nghiên cứu năng lượng, Đại học Tổng hợp Jawaharlal Nehru, Ấn Độ.

Bình luận của bạn