cis_banner_final_en.png
Ấn Độ và các quốc gia CLMV: Đầu tư, hợp tác, và phát triển bền vững (Phần 1)

03/09/2019


Ấn Độ và các quốc gia CLMV: Đầu tư, hợp tác, và phát triển bền vững (Phần 1)

Ấn Độ có mối quan hệ chính trị và chiến lược với nhiều quốc gia trong tiểu vùng Đông Nam Á, trong đó bao gồm các nước Campuchia, Lào, Myanmar, và Việt Nam (gọi tắt là các quốc gia CLMV). Báo cáo này phân tích các sáng kiến hợp tác phát triển kinh tế và đầu tư của Ấn Độ trong tiểu vùng. Nghiên cứu điển hình tại Việt Nam, báo cáo phác thảo hiện trạng quan hệ kinh tế Ấn Độ-CLMV, nêu rõ những điểm yếu và chỉ ra con đường phát triển trong tương lai. Báo cáo khuyến nghị soạn thảo một cuốn sách trắng về ngoại giao kinh tế của Ấn Độ để khẳng định rõ chiến lược quốc gia và và mục tiêu dài hạn của Ấn Độ đối với các quốc gia trong tiểu vùng; báo cáo đề xuất cách tiếp cận tổng hợp đối với tiểu vùng CLMV về thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển.


 
ẤN ĐỘ VÀ CÁC QUỐC GIA CAMPUCHIA, LÀO, MYANMAR, VIỆT NAM (CLMV): ĐẦU TƯ, HỢP TÁC PHÁT TRIỂN
VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG(*)
Malancha Chakrabarty*
Tóm tắt
Ấn Độ có mối quan hệ chính trị và chiến lược với nhiều quốc gia trong tiểu vùng Đông Nam Á, trong đó bao gồm các nước Campuchia, Lào, Myanmar, và Việt Nam (gọi tắt là các quốc gia CLMV). Tuy nhiên, mối quan hệ hợp tác trên lĩnh vực kinh tế còn đang yếu, do bị chi phối bởi nhiều yếu tố như thiếu kết nối vật lý, cũng như sự vắng mặt của việc phối hợp giữa các dòng tín dụng Ấn Độ với các nước CLMV và sự tiếp cận về mặt kinh tế của Ấn Độ.
Báo cáo này phân tích các sáng kiến hợp tác phát triển kinh tế và đầu tư của Ấn Độ trong tiểu vùng. Nghiên cứu điển hình tại Việt Nam, báo cáo phác thảo hiện trạng quan hệ kinh tế Ấn Độ-CLMV, nêu rõ những điểm yếu và chỉ ra con đường phát triển trong tương lai. Báo cáo khuyến nghị soạn thảo một cuốn sách trắng về ngoại giao kinh tế của Ấn Độ để khẳng định rõ chiến lược quốc gia và và mục tiêu dài hạn của Ấn Độ đối với các quốc gia trong tiểu vùng; báo cáo đề xuất cách tiếp cận tổng hợp đối với tiểu vùng CLMV về thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển.

Giới thiệu
Kể từ khi áp dụng “Chính sách Hướng Đông”, năm 1992, Ấn Độ đã tìm cách tăng cường quan hệ kinh tế với các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Vào năm 2014, “Chính sách Hướng Đông” được thay bằng chính sách “Hành động Phía Đông”, và Ấn Độ đã tìm cách chú trọng hơn nữa vào việc phát triển quan hệ kinh tế, văn hóa và chiến lược với khu vực này. Tầm quan trọng trong kinh tế của Đông Nam Á bắt nguồn từ thực tế là tỷ trọng của các quốc gia này trong sản lượng toàn cầu, xuất khẩu, nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã tăng trưởng một cách nhất quán; tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các nước ASEAN hiện được ước tính là 2,4 nghìn tỷ USD
[1]. Trọng tâm của sự thành công của khối ASEAN là sự kết nối: khu vực này là nơi có nhiều chuỗi sản xuất công nghiệp toàn cầu, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sản xuất và thương mại dịch vụ. Do đó, mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn giữa Ấn Độ và ASEAN sẽ vô cùng có lợi cho Ấn Độ.
Liên kết thương mại và đầu tư giữa Ấn Độ và ASEAN đã được cải thiện nhanh chóng trong những năm gần đây. Theo ASSOCHAM (the Associated Chambers of Commerce and Industry of India - Hiệp hội Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ), tổng thương mại song phương giữa Ấn Độ và các nước ASEAN đã tang gấp ba lần, từ 21 tỷ USD trong năm 2005-2006 đến 65 tỷ USD trong năm 2015-2016
[2]. Kể từ khi Hiệp định thương mại tự do ASEAN Ấn Độ (AIFTA) có hiệu lực năm 2010 và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) năm 2015, tiềm năng kinh tế của khu vực này đã tăng thêm. Việc loại bỏ thuế quan trên toàn AEC, dẫn đến dòng hàng hóa tự do hơn giữa các quốc gia, mang lại nhiều cơ hội cho các công ty Ấn Độ hiện đang sản xuất trong khu vực. Đồng thời, các công ty Ấn Độ đang mua hàng hóa trung gian từ các quốc gia ASEAN cho chuỗi cung ứng của họ cũng sẽ được hưởng lợi từ việc giảm chi phí.
Trong khu vực ASEAN, bốn nước Campuchia, Lào, Myanmar, và Việt Nam, (các nước CLMV), đã thu hút sự chú ý lớn hơn trong vài năm qua do tiềm năng kinh tế của họ. Ấn Độ đang ngày càng cố gắng xây dựng mối quan hệ chặt chẽ hơn với các quốc gia này vì nhiều lý do, trong đó chủ yếu là vì lợi thế vốn có của sự gần gũi về mặt địa lý với các bang phía đông bắc Ấn Độ. Khu vực này cũng chiếm một vị trí địa chiến lược quan trọng. Các nước CLMV có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây, và trở thành đích đến quan trọng cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Lao động giá rẻ, chế độ chính sách thương mại mở và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng mang đến những cơ hội quan trọng cho Ấn Độ.
Dhar (2015) khẳng định rằng, Ấn Độ đang tập trung vào hội nhập thương mại với các nước CLMV trong những năm gần đây vì Hiệp định Thương mại tự do với ASEAN cho đến nay đã không mang lại kết quả như Ấn Độ mong muốn. Là một phần của chiến lược này, chính phủ Ấn Độ đang cố gắng hỗ trợ phát triển các trung tâm sản xuất thuộc khu vực tư nhân tại các quốc gia này
[3]. Các nhà sản xuất Ấn Độ đầu tư vào khu vực sẽ tiếp cận dễ dàng hơn vào thị trường ASEAN và đạt được những thành tựu quan trọng theo Hệ thống ưu đãi tổng quát, theo đó, hàng từ các nước kém phát triển nhất được phép nhập khẩu vào các nước phát triển ở mức thuế bằng không hoặc rất thấp. Ngoài ra, các nước này còn có thể tiếp cận các thị trường lớn khác như Trung Quốc, Nhật Bản và Úc. Trong số các quốc gia CLMV, Việt Nam là nền kinh tế lớn nhất, và đang trở nên quan trọng hơn đối với Ấn Độ trong bối cảnh thỏa thuận thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)[4]. Bên cạnh đó, Myanmar đã trở thành một điểm đến quan trọng đối với các nhà đầu tư Ấn Độ sau khi phương Tây rút các lệnh trừng phạt vì nước này chuyển sang chế độ dân chủ. Trong khi đó, Campuchia và Lào, mặc dù là các nền kinh tế nhỏ, đang cho thấy tiềm năng để bắt kịp tăng trưởng.
Trong những năm gần đây, nhiều sáng kiến đã được Chính phủ Ấn Độ và CLMV thực hiện để thúc đẩy hợp tác kinh tế trên quy mô lớn hơn. Những sáng kiến này bao gồm Hội nghị Kinh doanh Ấn Độ - CLMV và Sáng kiến Hợp tác Sông Mêkông Sông Hằng (MGC). Sáng kiến quan trọng nhất của chính phủ Ấn Độ là thành lập Quỹ Phát triển dự án năm 2016 trong Ngân hàng xuất nhập khẩu Ấn Độ với vốn ban đầu 5 tỷ rupee (khoảng 72 triệu USD)
[5] để thúc đẩy đầu tư của Ấn Độ vào khu vực.
Báo cáo này nhằm mục đích trình bày tổng quan về các cam kết kinh tế của Ấn Độ với các nước CLMV, đặc biệt chú trọng đến các sáng kiến hợp tác phát triển và đầu tư của Ấn Độ trong tiểu vùng. Báo cáo đưa ra các khuyến nghị cụ thể để hỗ trợ cho các khoản đầu tư ra nước ngoài của Ấn Độ, nâng cao hiệu quả hợp tác phát triển Ấn Độ và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong tiểu vùng. Việt Nam được nghiên cứu như một trường hợp điển hình cho báo cáo này, vì Việt Nam là nguồn nhận lớn nhất của các khoản đầu tư nước ngoài của Ấn Độ vào tiểu vùng; đây cũng là nền kinh tế lớn nhất trong số các nước CLMV. Hai nguồn dữ liệu chính cho nghiên cứu này lấy từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI) về đầu tư trực tiếp nước ngoài
[6] và Cơ sở dữ liệu Ngân hàng EXIM về các khoản tín dụng của Ấn Độ. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là nhiều công ty Ấn Độ chuyển các khoản đầu tư của họ thông qua các công ty con của họ ở các quốc gia khác (như Singapore hoặc Thái Lan), và các khoản đầu tư đó không được cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI) nắm bắt. Để lấp đầy khoảng trống, nghiên cứu này dựa trên một số báo cáo kỹ thuật của các hiệp hội ngành, cũng như các nguồn thứ cấp khác như bài báo học thuật, tin tức, báo cáo thường niên của công ty và trang web của các Đại sứ quán Ấn Độ ở các nước CLMV. Bài viết cũng dựa trên thông tin chắt lọc từ các tọa đàm với Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ngày 16/01/2019, thông tin được thu thập thông qua các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với các chuyên gia và quan chức ở New Delhi và tại Việt Nam.
Báo cáo gồm 04 phần.
Phần I: Phân tích các sáng kiến hợp tác phát triển và đầu tư của Ấn Độ trong tiểu vùng CLMV.
Phần II: Thảo luận về các sáng kiến hợp tác phát triển và đầu tư ở nước ngoài của Ấn Độ tại Việt Nam.
Phần III: Trình bày những phát hiện mới của nghiên cứu dựa trên những phân tích trong Phần I và II cũng như các cuộc phỏng vấn được thực hiện ở New Delhi và Việt Nam.
Phần IV: Một số khuyến nghị để hỗ trợ mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Ấn Độ và các nước CLMV.
Các phụ lục cung cấp danh sách bảng các khoản đầu tư của Ấn Độ vào các quốc gia CLMV và danh sách những người được phỏng vấn ở Ấn Độ và Việt Nam.
 
1. ĐẦU TƯ VÀ CÁC SÁNG KIẾN HỢP TÁC PHÁT TRIỂN CỦA ẤN ĐỘ TẠI CLMV: TỔNG QUAN
Đầu tư của Ấn Độ trong vùng CLMV
Trong khi các quốc gia CLMV là điểm đến quan trọng của các công ty Ấn Độ, thì các khoản đầu tư của Ấn Độ vào tiểu vùng này vẫn còn khiêm tốn so với các nước khác như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Ấn Độ đứng thứ 27 trong số tất cả các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với 169 dự án và tổng vốn đầu tư là 756 triệu USD[7]. Theo số liệu từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI), trong giai đoạn 2008-2009 đến 2017-2018, các công ty Ấn Độ chỉ đầu tư khoảng 536,9 triệu USD vào các quốc gia này (Xem Bảng 1), hoặc 0,2% tổng số dòng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ODI) của Ấn Độ trong cùng kỳ. Trong các quốc gia CLMV, Việt Nam là nước nhận ODI Ấn Độ lớn nhất với tỷ lệ 54,9%, tiếp theo là Myanmar với 39,8%. Khoảng 40 công ty Ấn Độ đã đầu tư khoảng 294,5 triệu USD vào Việt Nam trong tám năm. Tuy nhiên, chỉ một số ít các công ty lớn của Ấn Độ như ONGC Videsh, Marico Industries, Tập đoàn TATA Group, Shapoorji Pallonji, RK Marble, Tufropes và Wolkem India chiếm hơn 80% khoản đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam.
 
Bảng 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Ấn Độ vào CLMV từ 2008-2009
đến 2017-2018 (đơn vị trính: triệu USD)
Campuchia Lào Myanmar Việt Nam Tổng CLMV
2008-2009 2.0 48.7 50.0 100.8
2009-2010 2.0 1.7 2.7 6.4
2010-2011 2.0 45.3 76.1 123.4
2011-2012 0.4 2.1 9.7 3.1 15.4
2012-2013 9.6 0.2 3.2 2.4 15.4
2013-2014 0.9 1.4 16.2 22.5 40.9
2014-2015 0.3 1.0 4.0 20.9 26.3
2015-2016 0.3 1.2 1.4 9.4 12.3
2016-2017 1.9 0.3 29.0 33.5 64.7
2017-2018 2.3 0.7 54.7 73.9 131.5
Tổng 15.7 12.8 213.9 294.5 536.9
Nguồn: Bảng tính do tác giả lập dựa trên cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ
 
 
ONGC Videsh, chi nhánh quốc tế của Tập đoàn Dầu và Khí tự nhiên (ONGC), công ty khai thác và khai thác dầu khí lớn nhất Ấn Độ, đã có sự hiện diện mạnh mẽ tại Việt Nam, đầu tư 114 triệu USD trong giai đoạn từ 2008-2009 đến 2017-2018
[8]. ONGC Videsh có lịch sử hoạt động lâu dài tại Việt Nam, lần đầu tiên gia nhập thị trường vào năm 1988 khi được trao giấy phép khai thác trong lô số 6 trên Biển Đông. Năm 2006, công ty đã nhận được giấy phép khai thác tại lô số 127 và 128, nhưng lô số 127 đang bị đóng lại sau khi chương trình thăm dò kết thúc[9]. Vào tháng 7 năm 2017, Chính phủ Việt Nam đã cấp gia hạn thêm hai năm để Ấn Độ khai thác lô dầu khí số 128[10]. Hiện tại, Việt Nam chiếm khoảng 12% sản lượng của ONGC Videsh, chỉ sau Nga với tỷ lệ 56%.[11] Ngoài lợi ích thương mại, còn có những lợi ích chiến lược đằng sau sự hiện diện của ONGC Videsh tại Việt Nam. Lô 128 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông và chính phủ Việt Nam hoan nghênh sự hiện diện của Ấn Độ ở Biển Đông để chống lại mối đe dọa của Trung Quốc[12].
Marico Industries là một nhà đầu tư lớn khác của Ấn Độ tại Việt Nam. Công ty này gia nhập thị trường Việt Nam vào năm 2010-2011 bằng cách mua 85% cổ phần của Tập đoàn Hàng tiêu dùng quốc tế (International Consumer Products Corporation), một công ty sản xuất và kinh doanh hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) hàng đầu Việt Nam
[13]. Tập đoàn Marico Đông Nam Á có mặt trong phân khúc hóa mỹ phẩm dành cho nam giới và kinh doanh thực phẩm (dưới thương hiệu Thuận Phát). Báo cáo thường niên của Marico cho thấy hoạt động kinh doanh tại Việt Nam đã giảm năm phần trăm trong năm 2017-2018 chủ yếu do hoạt động kinh doanh dầu gội nam kém hiệu quả, nhưng ngành kinh doanh thực phẩm có mức tăng trưởng hai con số liên tục trong các kỳ tiền tệ[14]. RK Marble, công ty đá cẩm thạch lớn nhất Ấn Độ, lần đầu tiên thâm nhập thị trường Việt Nam vào năm 2006. Trong khoảng thời gian từ 2008-2009 đến 2017-2018, công ty này đã đầu tư khoảng 50 triệu USD vào lĩnh vực đá cẩm thạch tại Việt Nam. Kể từ khi thành lập, RK Marble Vietnam đã là nhà sản xuất và xuất khẩu đá cẩm thạch trắng và vàng hàng đầu tại tỉnh Yên Bái của Việt Nam. Hai công ty Ấn Độ khác, Wolkem Ấn Độ và Tufropes Ấn Độ, đã đầu tư khoảng 9 triệu USD mỗi công ty.
Các công ty Ấn Độ cũng đã đạt được một số tiến bộ trong thị trường năng lượng tái tạo tại Việt Nam. Tập đoàn TATA, Adani Green Energy và Công ty TNHH Cơ sở hạ tầng Ấn Độ Shapoorji Pallonji đã đầu tư đáng kể vào Việt Nam. Năm 2017, Tập đoàn TATA đã đầu tư vào các nhà máy điện mặt trời tại bốn tỉnh của Việt Nam với tổng công suất 250 MW
[15]. Gần đây, tập đoàn TATA đầu tư vào một dự án điện mặt trời công suất 49 MW trị giá 54 triệu USD tại tỉnh Bình Phước của Việt Nam[16]. Nhà máy này dự kiến ​​hoàn thành vào tháng 6 năm 2019. Tương tự, Adani Green Energy cũng đã mở rộng kinh doanh năng lượng tái tạo sang Việt Nam. Năm 2018, Adani Green Energy đã đăng ký 80% vốn cổ phần của Công ty Điện gió Adani Phước Minh (APMWPCL) tại Việt Nam[17]. APMWPCL đang phát triển nhà máy điện gió 27,3 MW tại Phước Minh và xã Phước Ninh, thuộc tỉnh Ninh Thuận của Việt Nam. Theo một báo cáo của Việt Nam News, Công ty TNHH Cơ sở hạ tầng Ấn Độ Shapoorji Pallonji và Công ty Thương mại Điện lực Việt Nam (EPTC) đã ký hợp đồng mua bán điện cho dự án Nhà máy điện mặt trời SP infra 1 tại tỉnh Ninh Thuận[18]. Tổng vốn đầu tư của nhà máy năng lượng mặt trời 50MW là khoảng 71 triệu USD.
Tại Myanmar, ngành năng lượng chiếm phần lớn danh mục đầu tư của Ấn Độ. ONGC Videsh, GAIL Ấn Độ và Essar Oil là những nhà đầu tư hàng đầu Ấn Độ tại Myanmar. Trong khoảng thời gian 2008-2009 đến 2017-2018, ONGC Videsh là nhà đầu tư Ấn Độ lớn nhất tại Myanmar với các khoản đầu tư trị giá 145 triệu USD, tiếp theo là GAIL Ấn Độ với 44,8 triệu USD
[19]. Hai công ty ONGC Videsh và GAIL Ấn Độ chiếm gần 90% các khoản đầu tư của Ấn Độ vào Myanmar[20]. Ngoài lĩnh vực năng lượng, hai trong số các nhà sản xuất ván ép và gỗ dán hàng đầu Ấn Độ là Century Plyboards và Greenply Industries, cũng đã đầu tư trị giá 6,25 triệu USD và 2 triệu USD vào Myanmar. Century Plyboards đã thành lập một cơ sở làm gỗ dán tại Yangon vào năm 2012 với mục tiêu xuất khẩu ván ép và gỗ dán trở lại Ấn Độ để đáp trả lệnh cấm xuất khẩu gỗ thô chưa qua chế tác sắp có hiệu lực ở Myanmar[21]. Greenply Industries đã nhanh chóng làm theo và bắt đầu sản xuất ván ép thương mại vào năm 2014[22].
Theo số liệu từ Ngân hàng RBI, trong giai đoạn 2008-2009 đến 2017-2018, các công ty Ấn Độ đã đầu tư lần lượt 15,7 triệu USD và 12,8 triệu USD vào Campuchia và Lào (Xem Bảng 1). Các công ty tư nhân Ấn Độ đã có mặt trong lĩnh vực ô tô, khai thác mỏ và dược phẩm ở Campuchia. Grasim Industries, một trong những công ty tư nhân lớn nhất Ấn Độ, đã đầu tư trị giá 9,6 triệu USD vào Campuchia trong giai đoạn 2008-2009 đến 2017-2018 (Bảng A1). Theo một báo cáo gần đây của Liên đoàn Công nghiệp Ấn Độ (CII), Tập đoàn TATA cũng đã đầu tư 226,7 triệu USD vào một nhà máy ô tô tại Đặc khu kinh tế Sihanoukville ở Campuchia thông qua công ty con TATA International
[23]. Nhà máy sản xuất này sẽ sản xuất một loạt các phương tiện giao thông thương mại hạng nhẹ. Bajaj Auto, một công ty ô tô hàng đầu khác của Ấn Độ, cũng đã thâm nhập thị trường Campuchia. Bajaj Campuchia đã bắt đầu xây dựng một nhà máy ở Stung Meanchey để sản xuất xe hai và ba bánh[24]. Mesco Gold, một công ty con của Mesco Steel, là công ty đầu tiên có được giấy phép khai thác thương mại để khai thác và chế biến quặng vàng tại tỉnh Ratanakkiri của Campuchia[25]. Trong khoảng thời gian 2008-2009 đến 2017-2018, Mesco Gold đã đầu tư khoảng 3,5 triệu USD vào Campuchia. Nhà máy dự kiến ​​sẽ xử lý khoảng 500 tấn quặng vàng mỗi ngày khi bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2019[26].
Tập đoàn dược phẩm VTSIX đã đầu tư 19,5 triệu USD để thành lập một nhà máy tại Đặc khu kinh tế Phnom Penh tại Campuchia
[27]. Công ty dược phẩm sắp hoạt động sẽ tuân thủ Quy định về Thực hành Sản xuất Tốt của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO GMP) và sản xuất khoảng 500 triệu đơn vị dược phẩm uống (bao gồm thuốc viên, thuốc con nhộng và xi-rô). Việc thành lập nhà máy này sẽ giúp đa dạng hóa sản xuất công nghiệp của Campuchia và tạo việc làm cho ít nhất 25 người lao động có tay nghề cao trong thời gian ngắn[28]. Theo số liệu từ CII, các dự án của Ấn Độ đã tạo ra khoảng 1525 việc làm tại Campuchia.
Ở Lào, đầu tư của Ấn Độ tập trung vào đồn điền và khai thác mỏ. Grasim Industries Ấn Độ cùng với hai tập đoàn khác là Thai Rayon (Thái Lan) và PT Indo Bharat Rayon (Indonesia) đã thành lập Công ty liên doanh TNHH Bột giấy và đồn điền Birla Lào (Birla Lao Pulp and Plantations) vào năm 2006 để đầu tư trồng bạch đàn và thành lập nhà máy sản xuất bột giấy. Đây là khoản đầu tư lớn nhất của Ấn Độ vào Lào cho đến nay. Birla Lao Pulp and Plantations đã cam kết đầu tư khoảng 400 triệu USD vào dự án bạch đàn ở tỉnh Savannakhet
[29]. Trong khoảng thời gian 2008-2009 đến 2017-2018, công ty đã đầu tư khoảng 10,4 triệu USD vào dự án này. Tập đoàn HSMM đã đầu tư 13,8 triệu USD vào các khu rừng trầm hương và hai nhà máy ở Xaysomboun và tỉnh Viêng Chăn của Lào, và công ty lốp xe Apollo cũng có một đồn điền cao su ở Lào[30]. Công ty khai thác mỏ SPG CMC Lào, một công ty con của GIMPEX Ấn Độ và Tập đoàn HSMM có các khoản đầu tư vào khai thác quặng sắt. Cho đến tháng 6/2019, SPG CMC Lào đã chi 7,7 triệu USD trong một mỏ rộng 200 ha tại làng Ta En ở tỉnh Samneua, và sản xuất được 60.717 tấn quặng sắt[31]. Tập đoàn HSMM cũng đã thực hiện các khoản đầu tư nhỏ trị giá 0,8 triệu USD và 0,1 triệu USD vào các mỏ quặng sắt ở tỉnh Sekong và tỉnh Khammuan của Lào.

Ấn Độ hợp tác phát triển tại các nước CLMV
Hợp tác phát triển Ấn Độ được xây dựng dựa trên ba thành phần, bao gồm: (i) Hợp tác kinh tế và kỹ thuật Ấn Độ (ITEC); (ii) dòng tín dụng; và (iii) tài trợ. Chương trình ITEC, được khởi xướng năm 1964 để tăng cường hợp tác kỹ thuật và nâng cao năng lực với các nước đang phát triển khác, vẫn giữ được tầm quan trọng như là một trụ cột của chương trình hợp tác phát triển Ấn Độ. Đây là một chương trình hỗ trợ song phương, theo đó Ấn Độ đào tạo cho các nước đang phát triển khác trong các lĩnh vực khác nhau (như nông nghiệp, thực phẩm, phân bón, công nghệ mạng, y tế, dệt may, truyền thông và báo chí, và quốc phòng, và rất nhiều lĩnh vực khác). Campuchia đã được phân bổ 150 suất huấn luyện dân sự và 14 suất huấn luyện quân sự trong các khóa học Quốc phòng của ITEC
[32]. Ấn Độ cung cấp tổng cộng 210 suất học bổng cho Lào thông qua ITEC (150 suất), Hợp tác sông Hằng sông Mêkông (12 suất), Chương trình học bổng văn hóa chung (8 suất học bổng đại học trở lên), Chương trình Kế hoạch TCS Colombo (40 suất)[33]. Ấn Độ cũng đào tạo ngôn ngữ tiếng Anh, kinh doanh và công nghệ thông tin cho Lào. Myanmar cũng là quốc gia thụ hưởng chính của các chương trình đào tạo của Ấn Độ trong chương trình ITEC, Chương trình học bổng văn hóa chung, học bổng văn hóa sông Hằng sông Mêkông, và Kế hoạch TCS Colombo. Hiện tại, khoảng 150 suất ITEC đang được cung cấp cho Việt Nam mỗi năm cùng với 16 suất Học bổng văn hóa chung, 14 học bổng theo Chương trình trao đổi giáo dục và 10 học bổng theo Chương trình học bổng sông Hằng sông Mêkông.
Dòng tín dụng là công cụ quan trọng nhất của ngoại giao kinh tế Ấn Độ. Theo dữ liệu từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Ấn Độ (EXIM), tổng giá trị của các khoản tín dụng Ấn Độ tại Campuchia là 102,1 triệu USD và tính đến thời điểm tháng 6/2019, có bốn dòng tín dụng hoạt động (Xem Bảng 2). Như thể hiện trong Bảng 2, hầu hết các dự án đều thuộc lĩnh vực năng lượng và tài nguyên nước. Dự án phát triển Stung Tasal bao gồm việc xây dựng đập Stung Tasal với dung lượng lưu trữ 140 MCM đã được hoàn thành thành công và các cuộc thảo luận về giai đoạn hai của dự án đang được tiến hành[34]. Vào tháng 1 năm 2018, Ngân hàng EXIM đã gia hạn hạn mức tín dụng trị giá 36,9 triệu USD để tài trợ cho dự án Phát triển tài nguyên nước Stung Sva Hab/Slab[35]. Đây là dự án lớn nhất của Ấn Độ cho đến nay tại Campuchia. Tại Lào, Ấn Độ có năm dòng tín dụng hoạt động trị giá 190,9 triệu USD (Bảng 3). Trong số năm dự án được đề cập trong Bảng 3, ba dự án đầu tiên đã được hoàn thành và bàn giao cho chính phủ Lào. Việc xây dựng các đập trữ nước và phát triển hệ thống thủy lợi hiện đang được tiến hành nhưng đóng góp quan trọng nhất của Ấn Độ sẽ là thành lập một trường đại học Nông nghiệp ở tỉnh Champasak.
 
Bảng 2: Dòng tín dụng hoạt động của ngân hàng EXIM tại Campuchia
TT Năm duyệt dự án Mục đích Tổng số tín dụng
(triệu USD)
1 2007-2008 Dự án phát triển Stung Tasal của WAPCOS, mua máy bơm nước, xây dựng đường truyền dẫn điện giữa Kratie và Stung Treng do WAPCOS đảm trách 35.2
2 2007-2008 Nâng cao năng lực truyền dẫn điện giữa Kratie và Stung Treng 15
3 2010-2011 Hoàn thành Dự án phát triển quản lý tài nguyên nước Stung Tasal 15
4 2013-2014 Dự án phát triển tài nguyên nước Stung Sva Hab/Slab 36.9
Tổng cộng 102.1
Nguồn: Dữ liệu ngân hàng xuất nhập khẩu Ấn Độ, EXIM Bank,
https://www.eximbankindia.in/lines-of-credit-GOILOC.aspx
 
Bảng 3: Dòng tín dụng hoạt động của Ngân hàng EXIM tại Lào
TT Năm duyệt dự án Mục đích Tổng số tín dụng
(triệu USD)
1 2006-2007 Phát triển các công trình thủy lợi ở tỉnh Champassack 17.34
2 2007-2008 Paksong S/S – Jiangxai 115 KV, dự án đường dây truyền tải mạch đôi, Dự án thủy điện Nam Song 7.5 MW và trang thiết bị cho điện khí hóa nông thôn giai đoạn 2 33
3 2010-2011 (i) Dự án Truyền tải mạch đôi 230 kV từ Nabong tới Thabok và các trạm phụ (34,68 triệu USD), (ii) Nâng cấp các trạm phụ ở Thabok & Nabong lên 230 kV (12 triệu USD) và (iii) Đường dây vận tải điện Nam Gnung – Laksao và các trạm phụ 115 kV (23,25 triệu USD) tại Lào 37.3
4 2013-2014 Xây dựng đập và hồ chứa nước và Phát triển hệ thống thủy lợi ở bốn tỉnh lớn tại Lào 30.94
5 2016-2017 Thành lập trường Nông nghiệp tại tỉnh Champasak, Lào 72.4
 Tổng 190.98
Nguồn: Dữ liệu ngân hàng xuất nhập khẩu Ấn Độ, EXIM Bank,
https://www.eximbankindia.in/lines-of-credit-GOILOC.aspx
 
Cho đến tháng 6/2019, Ấn Độ đã gia hạn 11 hạn mức tín dụng trị giá 678,9 triệu USD cho Myanmar (Xem Bảng 4). Tuy nhiên, đầu tư của Ấn Độ vào Myanmar đã không có kết quả như mong muốn trong những năm gần đây. Bảy dự án đầu tiên được đề cập trong Bảng 4 (bao gồm Khu liên hợp hóa dầu Tanbayakan và cải tạo Nhà máy lọc dầu Thanlyin) đã hoàn thành, nhưng hiện tại Ấn Độ đang phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến việc kết thúc dự án và tỷ lệ giải ngân thấp. Theo Sonu Trivedi, một chuyên gia về quan hệ Ấn Độ-Myanmar, các dự án nhỏ hơn được đón nhận tốt hơn, các dự án lớn thường bị chậm trễ
[36]. Các chương trình xây dựng năng lực của Ấn Độ lại có nhiều thành công. Ví dụ, Viện Công nghệ và đào tạo máy tính Myanmar của Trung tâm Phát triển Máy tính tiên tiến (CDAC) đã được đón nhận rất tốt.
 
Bảng 4: Dòng tín dụng hoạt động của Ngân hàng EXIM tại Myanmar
TT Năm duyệt dự án Mục đích Tổng số tín dụng
(triệu USD)
1 2003-2004 Thiết lập liên kết OFC giữa Moreh và Mandalay, một liên kết ADSL tốc độ cao trong khu vực Yangon và giảm số liên kết COR-DECT 7
2 2003-2004 Cải tạo đường sắt 56.4
3 2005-2006 Cải tạo nhà máy lọc dầu Thanlyin 20
4 2006-2007 Các dự án đường sắt do Công ty TNHH RITES đảm trách 60
5 2006-2007 Thành lập dự án sản xuất và lắp ráp cho công ty xe Tata 20
6 2007-2008 (i) Đường dây truyền tải điện 239 kV và các trạm phụ Oakshitpin – Thahtay Chaung – Taungup; (ii) Đường dây truyền tải điện 239 kV và các trạm phụ Taungup – Maei – Ann – Mann; và (iii) Đường dây truyền tải điện 239 kV và các trạm phụ Maei – Kyaukpyu 64.07
7 2008-2009 Nâng cấp tổ hợp hóa dầu Thanbayakan 20
8 2012-2013 16 công trình thủy lợi đang triển khai và 2 công trình cải tạo các công trình thủy lợi ở Myanmar 198.96
9 2013-2014 Mua sắm đầu máy toa xe, thiết bị và mua sắm máy móc để nâng cấp ba Xưởng đường sắt chính 86.31
10 2014-2015 Triển khai Liên kết Phát thanh sóng ngắn trên tuyến Rhi-Mindat ở Myanmar 6.2
11 2014-2015 Nâng cấp đường xá ở Shwebo Putao và bang Rakhine ở Myanmar 140
 
 
Tổng 678.9
Nguồn: Dữ liệu ngân hàng xuất nhập khẩu Ấn Độ, EXIM Bank, https://www.eximbankindia.in/lines-of-credit-GOILOC.aspx
 
Ngân hàng EXIM có năm hạn mức tín dụng tại Việt Nam trị giá 691,5 triệu USD (Xem Bảng 5). Các dòng tín dụng của Ấn Độ đã giúp Việt Nam mua sắm các thiết bị như thép cán nguội, máy móc và kéo sợi, và máy chế biến chè
[37]. Ấn Độ cũng đã hỗ trợ dự án thủy điện Nậm Chiến tại Việt Nam. Dự án lớn nhất cho đến tháng 6/2019 có hạn mức tín dụng 500 triệu USD để mua sắm các thiết bị liên quan đến quốc phòng từ Ấn Độ. Hợp tác quốc phòng là một phần không thể thiếu trong Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Ấn Độ, nhưng đã có sự chậm trễ trong việc triển khai mua sắm, chủ yếu là do Việt Nam lo ngại nợ công tăng cao. Tỷ lệ nợ công trên GDP hiện tại của nước này (ước tính là 63,9%) khá gần với mức trần là 65%[38]. Theo báo cáo tin tức, thay vì mua sắm quốc phòng, Việt Nam quan tâm hơn đến việc sử dụng hạn mức tín dụng để phát triển cơ sở hạ tầng[39],[40].
 
Bảng 5: Dòng tín dụng hoạt động của Ngân hàng EXIM tại Việt Nam
TT Năm duyệt dự án Mục đích Tổng số tín dụng
(triệu USD)
1 2003-2004 Mục đích chung - Hợp đồng được phê duyệt bao gồm xuất khẩu máy móc, thiết bị dệt may, và dịch vụ cho các dự án thủy điện 27
2 2006-2007 Thủy điện Nậm Chiến (200 MW) tại tỉnh Sơn La 45
3 2007-2008 Hai dự án 19.5
4 2014-2015 Mua sắm cung cấp thiết bị 100
5 2016-2017 Mua sắm quốc phòng từ nguồn hàng Ấn Độ 500
     Tổng 691.5
Nguồn: Dữ liệu ngân hàng xuất nhập khẩu Ấn Độ, EXIM Bank, https://www.eximbankindia.in/lines-of-credit-GOILOC.aspx
 
 
Ngoài các khoản tín dụng ưu đãi, Ấn Độ cũng đã cấp 40 triệu USD để khởi động các dự án kết nối kỹ thuật số tại các quốc gia CLMV vào năm 2018. Ban đầu, Chính phủ Ấn Độ đã công bố vào năm 2015 một khoản tín dụng trị giá 1 tỷ USD để thúc đẩy kết nối kỹ thuật số trong khu vực ASEAN như là một phần của chính sách “Hành động phía Đông”. Tuy nhiên, không có quốc gia ASEAN nào xúc tiến việc sử dụng quỹ này; do đó, khoản tài trợ trị giá 40 triệu USD đã được dành cho các nước CLMV để khởi động các dự án kết nối kỹ thuật số trong tiểu vùng
[41].
Trong Hội nghị Bộ trưởng Hợp tác sông Hằng sông Mêkông lần thứ sáu năm 2012, Ấn Độ cũng đã khởi động các dự án Tác động nhanh (QIPs) của Ấn Độ-CLMV
[42]. QIPs là các dự án ngắn hạn nhằm cung cấp kết quả nhanh chóng cho người dân địa phương. Chúng chủ yếu là nâng cấp cơ sở hạ tầng vật chất như đường xá hoặc các dự án cơ sở hạ tầng xã hội như trường học và bệnh viện. Các quốc gia CLMV cũng là những người được hưởng lợi từ hỗ trợ tài trợ của Ấn Độ để thực hiện QIPs theo Hợp tác sông Hằng - sông Mêkông. Các cuộc thảo luận đang được tiến hành cho ba QIPs tại Lào, hai tại Myanmar và năm dự án ở Campuchia và Việt Nam[43].

Quỹ phát triển dự án
Quỹ phát triển dự án là sáng kiến quan trọng nhất của Ấn Độ nhằm thúc đẩy mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với các nước CLMV. Quỹ thành lập vào tháng 8 năm 2016 với số vốn 500 vạn triệu rupee Ấn Độ (khoảng 70,4 triệu USD)
[44]. Mục tiêu chính đằng sau việc tạo ra quỹ này là tạo điều kiện cho các khoản đầu tư của Ấn Độ vào khu vực và mở rộng cơ sở sản xuất của các công ty Ấn Độ bằng cách giúp các công ty Ấn Độ hòa nhập với mạng lưới sản xuất khu vực. Quỹ được đặt dưới sự quản lý của Bộ Thương mại Ấn Độ, và Ngân hàng EXIM được xác định là cơ quan đầu mối. Ngân hàng EXIM có các nhiệm vụ sau:
i.                    Xác định các dự án khả thi trong khu vực CLMV, điều này sẽ giúp các công ty Ấn Độ thâm nhập vào Chuỗi giá trị khu vực (RVC);
ii.                 Thiết lập các dự án thông qua các phương tiện đặc biệt (SPV) trong khu vực CLMV;
iii.               Đưa các dự án đến giai đoạn ngân hàng hóa, từ đó thu hút đầu tư từ khối tư nhân.
Quỹ phát triển dự án đã được hình thành với mục tiêu mở rộng thị trường cho hàng xuất khẩu của Ấn Độ bằng cách đầu tư vào các nước đối tác. Nói cách khác, nếu chính phủ Ấn Độ có thể hỗ trợ các công ty Ấn Độ đầu tư vào tận dụng những năng lực mới hơn ở các nước CLMV thì Ấn Độ có thể thu lợi thông qua xuất khẩu nhiều hơn vào tiểu vùng, và hơn thế nữa bằng cách khai thác lợi ích mà các nước này có được về chi phí sản xuất thấp và tiếp cận ưu đãi với các thị trường khác. Đây dường như là một hướng đi mang lại nhiều lợi ích khi mà Ấn Độ mất khả năng cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực, ví dụ như dệt may, trong khi một số nước CLMV, đặc biệt là Việt Nam, đã trở thành trung tâm sản xuất đáng gờm. Theo một nhà phân tích Ấn Độ, hàng dệt may và hàng hóa kỹ thuật nên là hai lĩnh vực trọng tâm chính của Ấn Độ
[45].
Một nhà phân tích khác bày tỏ sự thất vọng đối với sự chậm trễ trong việc vận hành quỹ phát triển dự án[46]. Cho đến nay, bốn dự án đang chuẩn bị các báo cáo chi tiết, một dự án ở Campuchia và Việt Nam và hai dự án ở Myanmar (Xem Bảng 6). Mặc dù mục tiêu ban đầu của quỹ là giúp các công ty sản xuất Ấn Độ tham gia vào chuỗi giá trị khu vực, nhưng hầu hết các dự án được xác định đều liên quan đến lĩnh vực dịch vụ như xây bệnh viện và trường học. Có thể lập luận rằng các dự án này không khác biệt so với các QIP trong lĩnh vực giáo dục và y tế. Không rõ mục tiêu mở rộng cơ sở sản xuất của Ấn Độ sẽ đạt được bằng cách nào thông qua các dự án về cơ bản không khác biệt với các QIP và LoC khác. Lĩnh vực sản xuất (đáng chú ý là dệt may), mục tiêu chính của việc tạo ra quỹ, cho đến nay đã bị lãng quên. Việt Nam là quốc gia duy nhất mà Quỹ Phát triển Dự án đang cố gắng hỗ trợ thành lập cơ sở sản xuất dược phẩm.
 
Bảng 6: Các dự án do Ngân hàng EXIM chỉ định chuẩn bị báo cáo chi tiết về dự án
Quốc gia Dự án /Chuẩn bị báo cáo chi tiết dự án
Campuchia
 
1. Khả năng thành lập bệnh viên đa khoa hoặc Trường Đại học Y tế ở Campuchia
Myanmar 1. Khả năng thành lập bệnh viên đa khoa hoặc Trường Đại học Y tế ở Myanmar
2. Khả năng thành lập một cơ sở giáo dục tại Myanmar
Việt Nam 1. Khả năng thành lập một cơ sở sản xuất dược ở Việt Nam
Nguồn: Ngân hàng EXIM[47]
 
 
Một phần lý do tại sao không có đủ các dự án sản xuất là do sự thất bại của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Quỹ phát triển dự án ban đầu được hình thành vào năm 2016 trong bối cảnh có TPP. Vào thời điểm đó, việc thành lập các nhà máy ở các nước CLMV, đặc biệt trong các lĩnh vực dệt may, để tham gia vào các chuỗi giá trị, dường như là một ý tưởng sinh lợi. Tuy nhiên, với sự thất bại của TPP, mọi thứ đã thay đổi đáng kể. Hơn nữa, những thách thức liên quan đến cơ sở hạ tầng, đặc biệt liên quan đến ngành điện, ở các quốc gia như Myanmar, Lào và Campuchia trở nên rõ ràng hơn trong các giai đoạn tiếp theo. Sản xuất tiếp tục nằm trong chương trình nghị sự, nhưng dịch vụ bệnh viện và trường học mang lại lợi nhuận nhanh chóng và tạo ra nhiều thiện cảm hơn.


 

Tài liệu tham khảo


(*) “India and CLMV Countries: Investment, Development Cooperation and Sustainable Development”, ORF Occasional Paper No. 195, tháng 6/2019; Báo cáo không định kỳ, số 195, tháng 6/2019 của Observer Research Foundation (ORF), Ấn Độ. Đơn vị phối hợp thực hiện: Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Bản quyền tiếng Việt: Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh); Mã số tài liệu bản in tiếng Anh: ISBN: 978-93-89094-42-8; Mã số tài liệu bản điện tử tiếng Anh: 978-93-89094-30-5. Bản tiếng Anh:  https://www.orfonline.org/research/india-and-clmv-countries-investments-development-cooperation-and-sustainable-development-51608/ 
* Malancha Chakrabarty là nghiên cứu viên của Quỹ Các nhà quan sát (ORF), tại New Delhi, Ấn Độ. Bà có bằng tiến sĩ kinh tế của Đại học Jawaharlal Nehru. Các nghiên cứu của bà tập trung vào chủ đề đầu tư và hợp tác phát triển của Ấn Độ với các quốc gia đang phát triển.
[1] Sushant  Palakurthi Rao, “Trade, entrepreneurship and the future of ASEAN's economy”, World Economic Forum, September 5, 2018, https://www.weforum.org/agenda/2018/09/trade-entrepreneurship-and-the-future-of-asean/
[2] “India ASEAN Trade and Investment Relations: Opportunities and Challenges”, ASSOCHAM, New Delhi, July 2016.
[3] Biswajit Dhar, “India’s New Foreign Trade Policy Pluses and Minuses”, Economic and Political Weekly, 50(16), April 18, 2015
[4] Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một thỏa thuận thương mại hiện khôn còn tác dụng giữa Mỹ, Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Việt Nam. Nó được dự kiến là hiệp định thương mại lớn nhất chiếm khoảng 40% nền kinh tế toàn cầu nhưng Mỹ đã rút khỏi thỏa thuận vào năm 2017. Tuy nhiên, các thành viên khác vẫn tiếp tục thực hiện một phiên bản mới của thỏa thuận mà không có Mỹ, được gọi là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)
[5] Tại thời điểm 2/8/2019, tỷ giá 1USD=69.2INR, nguồn: http://dollarrupee.in/
[6] RBI công bố số liệu thống kê hàng tháng về đầu tư trực tiếp ở nước ngoài của Ấn Độ. Các số liệu hàng tháng đã được cộng lại để ra được tổng số hàng năm.
[7] “Vietnam anticipates wave of FDI from India”, VietNamNet, January 29, 2018, https://english.vietnamnet.vn/fms/business/194838/vietnam-anticipates-wave-of-fdi-from-india.html
[8] Tác giả tính dựa trên cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ.
[9] ONGC and ONGC Videsh sign Agreements with PVEP Vietnam”, Oil and Natural Gas Corporation Limited, October 29, 2014, https://www.ongcindia.com/wps/wcm/connect/en/media/press-release/ongc-and-ongc-videsh-sign-agreements-with-pvep-vietnam
[10] Mai Nguyen, Nidhi Verma and Sanjeev Miglani, “Vietnam renews India oil deal in tense South China Sea”, Reuters, July 6, 2017, https://www.reuters.com/article/us-southchinasea-vietnam-idUSKBN19R25P
[11] Shine Jacob, “No proposal before us to list ONGC Videsh, says Dharmendra Pradhan”, Business Standard, January 29, 2019, https://www.business-standard.com/article/companies/no-proposal-before-us-to-list-ongc-videsh-says-dharmendra-pradhan-119012801543_1.html
[12] Press Trust of India, “ONGC Videsh gets 2-year extension for exploring Vietnamese oil block”, The Economic Times,  July 9, 2017, https://economictimes.indiatimes.com/industry/energy/oil-gas/ongc-videsh-gets-2-year-extension-for-exploring-vietnamese-oil-block/articleshow/59512891.cms
[13] “Emerging business striving to make a difference”, Marico Industries, https://marico.com/vn/about-us/overview
[14] Annual Report 2017-18, Marico Industries, https://marico.com/investorspdf/Annual_Report_FY18.pdf
[15] “Indian firms strengthen renewable energy investment in Vietnam”, Vietnam Investment Review, March 6, 2018,  https://www.vir.com.vn/indian-firms-strengthen-renewable-energy-investment-in-vietnam-56828.html
[16] “Tata Power gets nod for 49-MW solar farm in Vietnam - report”, Renewables Now, https://renewablesnow.com/news/tata-power-gets-nod-for-49-mw-solar-farm-in-vietnam-report-591785/
[17] “Adani Green Energy Acquires AGEPteL”, Taiyang News, August 23, 2018, http://taiyangnews.info/business/adani-green-energy-acquires-ageptel/
[18] “First solar power purchase contract signed”, Viet Nam News, July 17, 2018, https://vietnamnews.vn/economy/451909/first-solar-power-purchase-contract-signed.html#R6szDsH6yUjkD7AQ.97
[19] Tác giả tính trên số liệu của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ
[20] Để biết chi tiết về hoạt động của ONGC Videsh và Gail Ấn Độ tại Myanmar, xem thêm tài liệu của Ananya Basu Ray Chaudhury và Pratnashree Basu, “India-Myanmar Connectivity: Possibilities and Challenges”, Observer Research Foundation, truy cập tại https://www.orfonline.org/research/india-myanmar-connectivity-possibilites-and-challenges/
[21] Jayant Mallick, “Century Plyboards to set up unit in Myanmar”, Business Line, December 29, 2012, https://www.thehindubusinessline.com/companies/Century-Plyboards-to-set-up-unit-in-Myanmar/article20546202.ece
[23] “Enhancing Asian LDCs Market Access into India: Case Studies of Cambodia, Lao PDR and Myanmar”, Confederation of Indian Industries, New Delhi, 2018
[24] “Indian auto firms plan factories in Cambodia”, Thai PBS World, February 22, 2016, http://englishnews.thaipbs.or.th/indian-auto-firms-plan-factories-cambodia/
[25] Cam McGrath, “First mine licensed to draw gold”, The Phnom Penh Post, September 14, 2016, https://www.phnompenhpost.com/business/first-mine-licensed-draw-gold
[26] Hor Kimsay, “Mesco Gold soon to produce gold”, The Phnom Penh Post, January 28, 2019, https://www.phnompenhpost.com/business/mesco-gold-soon-produce-gold
[27] Tài liệu đã dẫn như trên.
[28] May Kunmakara, “Indian pharma giant joins PPSEZ”, Khmer Times, November 27, 2017, https://www.khmertimeskh.com/92304/
[29] David Sinate, Vanlalruata Fanai, and Debapriya Chakrabarti, “Enhancing India’s Bilateral Ties with Cambodia, Lao PDR, Myanmar, Vietnam: A Brief Analysis”, EXIM Bank Working Paper No. 34, November
[30] Tài liệu đã dẫn như trên.
[31] Tài liệu đã dẫn như trên.
[34] “WAPCOS completes Stung Tasal Dam in Cambodia”, The Newsman of India, September 18, 2015, http://www.thenewsmanofindia.com/wapcos-completes-stung-tasal-dam-in-cambodia/
[35] EXIM Bank Press Release, “EXIM Bank, on Behalf of the Government of India, Extends a Line of Credit (LOC) of US$ 36.92 to the Government of the Kingdom of Cambodia”, https://www.eximbankindia.in/press-releases
[36] Phỏng vấn Sonu Trivedi ngày 26/11/2018
[37] “Exim Bank extends $100-million LOC to Vietnam”, Press Trust of India,  September 17, 2014, https://www.livemint.com/Industry/nqOH6LGsTwMnwfX4ztcBWJ/Exim-Bank-extends-100million-LOC-to-Vietnam.html
[38] “Vietnam public debt projected to touch 64% of GDP in 2018: Ministry”, VietNamNet, September 15, 2018, https://english.vietnamnet.vn/fms/business/208341/vietnam-public-debt-projected-to-touch-64--of-gdp-in-2018--ministry.html
[39] Sachin Parashar, “India, Vietnam fail to operationalize $500 million credit line during Prez Kovind’s visit”, The Times of India, November 21, 2018, https://timesofindia.indiatimes.com/india/india-vietnam-fail-to-operationalize-500-million-credit-line-during-prez-kovinds-visit/articleshow/66741175.cms
[40] Tính tới thời điểm tháng 8/2019, Việt Nam đã có những động thái cho thấy việc bắt đầu chú trọng sử dụng hạn mức tín dụng để mua sắm quốc phòng. “Ngày 14/8, tại xưởng đóng tàu Kattupalli của tập đoàn Larsen & Toubro ở gần Chennai, bang Tamil Nadu, Đông Nam Ấn Độ, đã diễn ra lễ khởi công dự án đóng 12 tàu tuần tra cao tốc (HSGB) cho lực lượng biên phòng Việt Nam.” Theo báo VietNamNet: https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/an-do-dong-12-tau-tuan-tra-cao-toc-cho-viet-nam-559345.html  (Ghi chú của Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ) Dự án được tài trợ trong khuôn khổ gói tín dụng Chính phủ Ấn Độ dành cho Việt Nam và đây là lần đầu tiên hợp tác quốc phòng giữa hai nước mang lại những dự án lớn cụ thể.
[41] Sushant Singh, “Three years, no takers for India’s $1-billion credit line for ASEAN digital links”, Indian Express, April 4, 2018, https://indianexpress.com/article/india/three-years-no-takers-for-indias-1-billion-credit-line-for-asean-digital-links-narerndra-modi-5122440/
[42] “Mekong-Ganga Cooperation (MGC)”, Ministry of External Affairs, March 2017,  https://mea.gov.in/Portal/ForeignRelation/Brief_MGC_March_2017.pdf
[43] Jayanth Jacob, “Central govt likely to launch more Quick Impact Projects abroad”, Hindustan Times,  August 12, 2018, https://www.hindustantimes.com/india-news/central-govt-likely-to-launch-more-quick-impact-projects-abroad/story-z52xQJcw1YTJFhrCJCe5YJ.html
[44] “Cabinet approves creation of a Project Development Fund to catalyse Indian economic presence in Cambodia, Laos, Myanmar and Vietnam”, Press Information Bureau,  August 31, 2016, http://pib.nic.in/newsite/PrintRelease.aspx?relid=149378
[45] Phỏng vấn các học giả Ấn Độ tại New Delhi
[46] Trao đổi với các học giả Ấn Độ tại New Delhi
[47] David Rasquinha trả lời phỏng vấn qua email


Xem tiếp Phần 2Phần 3Phần 4

 

Bình luận của bạn