cis_banner_final_en.png
Ấn Độ và các quốc gia CLMV: Đầu tư, hợp tác, và phát triển bền vững (Phần 3)

03/09/2019


Ấn Độ và các quốc gia CLMV: Đầu tư, hợp tác, và phát triển bền vững (Phần 3)

Ấn Độ có mối quan hệ chính trị và chiến lược với nhiều quốc gia trong tiểu vùng Đông Nam Á, trong đó bao gồm các nước Campuchia, Lào, Myanmar, và Việt Nam (gọi tắt là các quốc gia CLMV). Báo cáo này phân tích các sáng kiến hợp tác phát triển kinh tế và đầu tư của Ấn Độ trong tiểu vùng. Nghiên cứu điển hình tại Việt Nam, báo cáo phác thảo hiện trạng quan hệ kinh tế Ấn Độ-CLMV, nêu rõ những điểm yếu và chỉ ra con đường phát triển trong tương lai. Báo cáo khuyến nghị soạn thảo một cuốn sách trắng về ngoại giao kinh tế của Ấn Độ để khẳng định rõ chiến lược quốc gia và và mục tiêu dài hạn của Ấn Độ đối với các quốc gia trong tiểu vùng; báo cáo đề xuất cách tiếp cận tổng hợp đối với tiểu vùng CLMV về thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển.


ẤN ĐỘ VÀ CÁC QUỐC GIA CAMPUCHIA, LÀO, MYANMAR, VIỆT NAM (CLMV): ĐẦU TƯ, HỢP TÁC PHÁT TRIỂN
VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG(*)
Malancha Chakrabarty*
Tóm tắt
Ấn Độ có mối quan hệ chính trị và chiến lược với nhiều quốc gia trong tiểu vùng Đông Nam Á, trong đó bao gồm các nước Campuchia, Lào, Myanmar, và Việt Nam (gọi tắt là các quốc gia CLMV). Tuy nhiên, mối quan hệ hợp tác trên lĩnh vực kinh tế còn đang yếu, do bị chi phối bởi nhiều yếu tố như thiếu kết nối vật lý, cũng như sự vắng mặt của việc phối hợp giữa các dòng tín dụng Ấn Độ với các nước CLMV và sự tiếp cận về mặt kinh tế của Ấn Độ.
Báo cáo này phân tích các sáng kiến hợp tác phát triển kinh tế và đầu tư của Ấn Độ trong tiểu vùng. Nghiên cứu điển hình tại Việt Nam, báo cáo phác thảo hiện trạng quan hệ kinh tế Ấn Độ-CLMV, nêu rõ những điểm yếu và chỉ ra con đường phát triển trong tương lai. Báo cáo khuyến nghị soạn thảo một cuốn sách trắng về ngoại giao kinh tế của Ấn Độ để khẳng định rõ chiến lược quốc gia và và mục tiêu dài hạn của Ấn Độ đối với các quốc gia trong tiểu vùng; báo cáo đề xuất cách tiếp cận tổng hợp đối với tiểu vùng CLMV về thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển.

PHẦN III. THẢO LUẬN
Phần ba thảo luận về các nhận định chính rút ra từ các tài liệu và dữ liệu khác hiện có, các cuộc phỏng vấn ở Ấn Độ và các cuộc họp thảo luận tại Việt Nam:

Sự thống trị của một vài công ty lớn và tập trung đầu tư vào lĩnh vực năng lượng
Đầu tư của Ấn Độ vào khu vực CLMV tập trung nhiều vào một số ít các công ty. Ví dụ, Công ty Grasim Industries chiếm khoảng 71% và 85% các khoản đầu tư của Ấn Độ vào Campuchia và Lào. Tình hình tương tự diễn ra ở Myanmar và Việt Nam. Tại Myanmar, năm nhà đầu tư hàng đầu chiếm gần 97% các khoản đầu tư của Ấn Độ. Riêng công ty ONGC Videsh chiếm 71% các khoản đầu tư. Ở Việt Nam, các tập đoàn lớn của Ấn Độ cũng chiếm ưu thế. Tác giả nhận thấy kết quả tương tự tại các nước châu Phi, chỉ có một số ít các công ty lớn của Ấn Độ dám đầu tư mạo hiểm ra nước ngoài
[1]. Thêm vào đó, các khoản đầu tư của Ấn Độ tập trung chủ yếu vào ngành năng lượng, trong khi các cơ sở sản xuất chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng đầu tư. Ngoài ra, các công ty dầu khí khu vực công chiếm ưu thế trong đầu tư, các công ty ONGC Videsh, Công ty TNHH Dầu Ấn Độ Oil India Limited và GAIL India chiếm vị trí hàng đầu.

Các công ty chưa đủ tầm quốc tế hóa  
Các công ty Ấn Độ vẫn chưa đủ sức vươn tầm quốc tế; chỉ một số ít các công ty lớn nhất của Ấn Độ quan tâm đến việc theo đuổi các dự án ở nước ngoài, nhưng hầu hết các công ty đều thích tập trung vào thị trường nội địa. Trong mười công ty hàng đầu của Ấn Độ, Tập đoàn TATA thường được coi là công ty toàn cầu thực sự duy nhất
[2]. Điều quan trọng cần lưu ý là trong thời đại toàn cầu hóa, đầu tư ra nước ngoài là bắt buộc, không còn là lựa chọn nữa, vì phần lớn quá trình sản xuất diễn ra trên các chuỗi cung ứng giá trị, và bắt buộc các công ty Ấn Độ nhỏ hơn phải trở thành một phần của các chuỗi này. Tuy nhiên, đối với hầu hết các công ty Ấn Độ, đầu tư vào một quốc gia khác là một việc khó khăn hơn so với giao dịch đơn thuần.
Trở ngại chính cho các công ty nhỏ của Ấn Độ đi đầu tư mạo hiểm ra nước ngoài là thiếu nguồn lực tài chính và kiến thức
[3]. Nhiều công ty Ấn Độ nhỏ hoàn toàn không biết về những cơ hội trong khu vực CLMV. Hơn nữa, họ cảm thấy khó khăn khi trở thành một phần của chuỗi cung ứng giá trị trong khu vực ở Đông Nam Á vì quy mô doanh nghiệp trung bình ở khu vực này nhỏ hơn nhiều ở Ấn Độ. Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực dệt may, lĩnh vực vô cùng quan trọng trong bối cảnh các nước CLMV. Các công ty Ấn Độ nhỏ hơn cũng bị ảnh hưởng từ việc thiếu cơ cấu thể chế từ trong nước; hiện tại không có bộ phận nào trong chính phủ phụ trách đầu tư trực tiếp ở nước ngoài của Ấn Độ.
Có ba lý do khiến các công ty Ấn Độ cảm thấy khó khăn khi trở thành một phần của chuỗi cung ứng giá trị khu vực. Đầu tiên, hầu hết các công ty Ấn Độ hoạt động như các thực thể cá nhân và thất bại khi muốn đạt các lợi ích tập thể. Thứ hai, các chuỗi giá trị được dẫn dắt bởi những công ty năng động đóng vai trò là động lực cho sự tăng trưởng; cho đến nay không có bằng chứng nào về các công ty hoạt động năng động như vậy ở Ấn Độ. Cuối cùng, sự thất bại của chính sách sản xuất của Ấn Độ được thể hiện qua xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài: ví dụ, trong các lĩnh vực như dệt may, Ấn Độ đã tụt hậu, và các nước như Việt Nam không có hứng thú nhận đầu tư của Ấn Độ.

Dòng tín dụng (LoCs) của Ấn Độ hoạt động như một công cụ ngoại giao độc lập
Một quan sát quan trọng trong nghiên cứu này là các dòng tín dụng ưu đãi (LoCs), công cụ quan trọng nhất của ngoại giao kinh tế Ấn Độ, đang hoạt động như một công cụ độc lập và gần như không có mối liên hệ nào với lợi ích kinh tế của Ấn Độ trong tiểu vùng CLMV. Điều này rất quan trọng vì không giống như Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) nguồn tài chính ưu đãi, các dòng tín dụng của Ấn Độ đã được bắt đầu với mục tiêu đôi bên cùng có lợi. LoCs được coi là một thành phần quan trọng trong chiến lược ngoại giao của Ấn Độ để tạo thiện chí, xây dựng mối quan hệ đối tác lâu dài với chính phủ nước ngoài, thúc đẩy xuất khẩu, mở thị trường mới cho các công ty Ấn Độ và giới thiệu các sản phẩm Ấn Độ và thể hiện Ấn Độ có khả năng thực hiện các dự án. Tuy nhiên, ngoài điều khoản nội dung bắt buộc 75%, có rất ít bằng chứng ủng hộ quan điểm rằng các dòng tín dụng của Ấn Độ thực sự thúc đẩy lợi ích thương mại của Ấn Độ trong khu vực. Các dự án được tài trợ theo chương trình LoCs hoàn toàn vận hành theo nhu cầu. Quốc gia nhận tín dụng, dựa trên nhu cầu phát triển của họ, chuyển yêu cầu của họ thông qua cơ quan ngoại giao tại Ấn Độ hoặc cơ quan ngoại giao Ấn Độ tại quốc gia nhận tín dụng.
LoCs của Ấn Độ tạo ra mối thiện cảm về Ấn Độ ở các nước nhận tín dụng và có rất ít vai trò, nếu thực sự có vai trò, trong việc thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư giữa Ấn Độ và quốc gia nhận tín dụng. Căn nguyên là sự thiếu vắng sức mạnh tổng hợp giữa các sáng kiến hợp tác phát triển Ấn Độ và các mục tiêu đầu tư và thương mại.
Do đó, chưa thể xác định rõ là liệu LoC là công cụ ngoại giao hay tài chính? Đây là câu hỏi mà Bộ Ngoại giao (MEA) và Bộ Kinh tế (DEA) chưa có câu trả lời thống nhất. DEA cho rằng LoCs là sản phẩm tài chính với mục tiêu chính là thúc đẩy lợi ích thương mại của Ấn Độ, và bất kỳ thiện chí chính trị nào cũng là sản phẩm phụ ngẫu nhiên
[4]. Về phần mình, MEA coi LoCs chủ yếu phục vụ lợi ích chiến lược và lo ngại rằng một vị trí không khoan nhượng trên mặt trận tài chính sẽ gây tổn hại cho lợi ích chiến lược của Ấn Độ[5].

Giải ngân chậm trong chương trình LoC
Ấn Độ còn yếu kém về mặt hoàn thành dự án và tỷ lệ giải ngân của các dự án LoC. Ngân hàng EXIM Ấn Độ giải thích rằng việc chậm giải ngân như vậy phần lớn là do các dự án chủ yếu là liên quan đến cơ sở hạ tầng, nông nghiệp và công nghiệp đòi hỏi thời gian đáng kể trong giai đoạn tuyển thầu, chuẩn bị đấu thầu, đánh giá thầu và giai đoạn lựa chọn nhà thầu và ký hợp đồng
[6]. Các dự án cơ sở hạ tầng như tuyến đường sắt, dự án thủy điện và dự án xây dựng dân dụng đòi hỏi phải giải phóng mặt bằng (ví dụ: làm đường, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, môi trường) thường gây ra sự chậm trễ. Vấn đề là các dự án bị trì hoãn hoặc chưa hoàn thành làm ảnh hưởng đến uy tín của chương trình hợp tác phát triển Ấn Độ và cũng lãng phí các nguồn lực công quý giá.

Yếu kém trong kết nối vật lý
Thiếu kết nối là một rào cản lớn đối với các liên kết thương mại và đầu tư giữa Ấn Độ và các nước CLMV. Thật không may, tiến độ nhiều dự án kết nối vật lý đang chậm. Mở rộng đường cao tốc Ấn Độ - Myanmar - Thái Lan sang Campuchia, Lào và Việt Nam là một dự án sẽ đóng vai trò chính trong việc thúc đẩy thương mại và đầu tư. Hơn nữa, kết nối giao thông trên biển nếu được cải thiện cũng sẽ thúc đẩy quan hệ thương mại với các quốc gia không giáp biển, như Lào, có thể sử dụng cảng Việt Nam để giao thương với Ấn Độ. Sự vắng mặt của các chuyến bay thẳng là một rào cản lớn khác cho việc phát triển mối quan hệ kinh tế. Mặc dù các quốc gia Ấn Độ và CLMV gần nhau về mặt địa lý, nhưng việc thiếu các chuyến bay thẳng làm tăng thời gian di chuyển giữa các quốc gia
[7].
 
Quỹ phát triển dự án
Quỹ phát triển dự án là sáng kiến ​​lớn nhất của Chính phủ Ấn Độ nhằm kích thích cơ hội thương mại và đầu tư cho Ấn Độ tại các quốc gia CLMV. Tuy nhiên, như đã thảo luận ở phần trước, việc đóng góp của quỹ phát triển dự án đã mất một thời gian dài. Hơn nữa, bản chất của các dự án đang được Ngân hàng EXIM triển khai dường như không phù hợp với những dự định ban đầu. Ngoài một đơn vị dược phẩm của Ấn Độ tại Việt Nam, sản xuất dường như là ngành bị lãng quên. Nhiều công ty Ấn Độ cũng hoàn toàn không biết về quỹ phát triển dự án, vốn đã phải chịu sự chậm trễ do quan liêu. Một nghiên cứu năm 2015 của Ngân hàng EXIM, có tiêu đề “Khung phát triển và điều phối dự án: Cơ hội thương mại và đầu tư của Ấn Độ tại các quốc gia CLMV” và nghiên cứu công bố năm 2015 của Bộ Thương mại Ấn Độ, với tiêu đề “Chiến lược hội nhập kinh tế của Ấn Độ với CLMV”, đều đưa ra nhận định rằng phần lớn các công ty từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Vương quốc Anh đã có mặt ở các nước CLMV và Ấn Độ có thể đã bỏ lỡ nhiều cơ hội
[8],[9].

Hợp tác kỹ thuật, nâng cao năng lực và ngành y tế
Kể từ khi bắt đầu chương trình ITEC, Ấn Độ đã nổi lên như một địa chỉ đáng tin cậy về đào tạo kỹ thuật và nâng cao năng lực cho các nước đang phát triển. Theo Tuhin (2016), các nước CLMV yêu cầu đào tạo cụ thể cho khu vực tư nhân và giới kinh doanh tại các quốc gia này, và ITEC đã đáp ứng yêu cầu đó. Việt Nam đối mặt với thâm hụt lao động kỹ thuật lành nghề, vì vậy Việt Nam đánh giá cao sự hợp tác với Ấn Độ trong vấn đề đào tạo này. Cũng cần lưu ý rằng các chương trình này đã tạo ra mối thiện cảm lớn cho Ấn Độ, và có rất nhiều lĩnh vực để Ấn Độ mở rộng chương trình hợp tác kỹ thuật và giáo dục ở các nước CLMV.
Các quốc gia CLMV có cơ sở hạ tầng chăm sóc sức khỏe kém. Chất lượng và khả năng chi trả của các cơ sở chăm sóc sức khỏe là những thách thức nghiêm trọng. Mặc dù lĩnh vực này là một điểm đến ưa thích của các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, dòng vốn vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đã không đáng kể. Theo Sinate et al (2018), tỷ trọng của ngành chăm sóc sức khỏe (bao gồm cả dược phẩm) trong tổng vốn FDI trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2003 đến tháng 3 năm 2018 là cao nhất ở Myanmar với 1,3%
[10]. Ấn Độ hiện là nhà đầu tư lớn thứ 13 trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nhưng có nhiều khả năng mở rộng hợp tác y tế giữa Ấn Độ và các nước CLMV, đặc biệt là trong lĩnh vực dược phẩm.

[1] Malancha Chakrabarty, “Indian Investments in Africa: Scale, Trends, and Policy Recommendations”, ORF Occasional Paper No. 142, February 2018, https://www.orfonline.org/wp-content/uploads/2018/02/ORF_OccasionalPaper_142_India_Africa.pdf
[2] Phỏng vấn những nhà phân tích Ấn Độ tại New Delhi
[3] Tham vấn người chịu trách nhiệm phụ trách việc này, New Delhi, 11/4/2019
[4] Prabodh Saxena, “India’s credit lines: instrument of economic diplomacy”, in Sachin Chaturvedi and Anthea Mulakala (Eds.) India’s Approach to Development Cooperation, Routledge, 2016
[5] Sách đã dẫn
[6] David Rasquinha (Chủ tịch hội đồng và Giám đốc điều hành ngân hàng EXIM Ấn Độ) trả lời bảng câu hỏi trong thư điện tử
[7] Từ tháng 11/2019, sẽ có các chuyến bay thẳng kết nối Việt Nam và Ấn Độ.
[8] “Project Development & Facilitation Framework: Opportunities in Trade & Investment for India in CLMV Countries”, Export and Import Bank of India, April 2015, http://commerce.gov.in/writereaddata/uploadedfile/MOC_635963414360381849_Opportunities_India_CLMV_Region_EXIM_Bank.pdf
[9] Ram Upendra Das, “India's Strategy for Economic Integration with CLMV”, Ministry of Commerce and Industry, Government of India, New Delhi, 2015
[10] David Sinate, Vanlalruata Fanai, Sara Joy and Srejita Nandy, “Enhancing India’s Engagement in Healthcare Sector of CLMV Countries”, EXIM Bank, Working Paper No. 76, May 2018, https://www.eximbankindia.in/Assets/Dynamic/PDF/Publication-Resources/ResearchPapers/93file.pdf

(*) “India and CLMV Countries: Investment, Development Cooperation and Sustainable Development”, ORF Occasional Paper No. 195, tháng 6/2019; Báo cáo không định kỳ, số 195, tháng 6/2019 của Observer Research Foundation (ORF), Ấn Độ. Đơn vị phối hợp thực hiện: Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Bản quyền tiếng Việt: Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh); Mã số tài liệu bản in tiếng Anh: ISBN: 978-93-89094-42-8; Mã số tài liệu bản điện tử tiếng Anh: 978-93-89094-30-5. Bản tiếng Anh:  https://www.orfonline.org/research/india-and-clmv-countries-investments-development-cooperation-and-sustainable-development-51608/ 
* Malancha Chakrabarty là nghiên cứu viên của Quỹ Các nhà quan sát (ORF), tại New Delhi, Ấn Độ. Bà có bằng tiến sĩ kinh tế của Đại học Jawaharlal Nehru. Các nghiên cứu của bà tập trung vào chủ đề đầu tư và hợp tác phát triển của Ấn Độ với các quốc gia đang phát triển.

Xem tiếp
Phần 1Phần 2Phần 4

Bình luận của bạn