cis_banner_final_en.png
Du lịch tôn giáo, một nguồn sức mạnh mềm của Ấn Độ (Phần 1)

22/10/2019


Du lịch tôn giáo, một nguồn sức mạnh mềm của Ấn Độ (Phần 1)

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trân trọng giới thiệu bản dịch nghiên cứu: “Du lịch tôn giáo, một nguồn sức mạnh mềm của Ấn Độ: Tăng cường sự tiếp cận của Ấn Độ đến Đông Nam Á”/“Religious Tourism as Soft Power: Strengthening India’s Outreach to Southeast Asia”, Báo cáo đặc biệt của ORF, Số 97, tháng 9/2019, Quỹ nghiên cứu các nhà quan sát. Tác giả: Mihir Bhonsale. Đường liên kết đến tài liệu: https://www.orfonline.org/research/religious-tourism-as-soft-power-strengthening-indias-outreach-to-southeast-asia-55674/


Tóm tắt: Sức mạnh mềm Ấn Độ dựa trên những trụ cột chính là: một nền văn hóa đa dạng, một nền dân chủ sôi động, và chính sách đối ngoại theo truyền thống không liên kết. Đặc biệt là với Đông Nam Á, nơi Ấn Độ coi là một khu vực quan trọng, Ấn Độ đã thể hiện sức mạnh mềm từ những điểm tương đồng trong văn hóa đã được truyền bá, tiếp thu và phát triển trong suốt hơn hai thiên niên kỷ. Phật giáo là một phần của mối tương tác lịch sử này. Ngày nay, dòng người hành hương từ các nước Đông Nam Á vẫn liên tục đổ về Ấn Độ. Nghiên cứu đặc biệt này xem xét tác động của du lịch tôn giáo đến sự thể hiện sức mạnh mềm Ấn Độ ở Đông Nam Á, thông qua việc phân tích các mô hình du lịch tới các danh thắng Phật giáo ở đồng bằng Ấn Độ - Nepal và các con đường di sản Phật giáo ở vùng Đông Bắc Ấn Độ. Nghiên cứu này điểm lại các sáng kiến của chính phủ đã và đang được triển khai cả ở Ấn Độ và nước ngoài, hướng tới thúc đẩy và đưa ra những đề xuất để cải tiến du lịch hành hương của các tín đồ Phật giáo.

Từ khóa: ASEAN, Phật giáo, Ấn Độ - Nepal, RCEP, Đông Nam Á

Giới thiệu
Sức mạnh mềm trở nên phù hợp hơn bao giờ hết trong bối cảnh kết nối toàn cầu. Joseph N. Nye định nghĩa sức mạnh mềm là “khả năng gây ảnh hưởng đến người khác để đạt được kết quả như mong muốn thông qua sự hấp dẫn, không phải bằng cách dùng vũ lực hoặc mua chuộc”
[1]. Nye đã xác định, có ba nguồn sức mạnh mềm làm nên sức hấp dẫn cho một quốc gia: văn hóa (ở những nơi mà văn hóa đó được nhiều người thực hành), các giá trị chính trị (được giữ gìn và phát huy ở trong và ngoài nước), và các chính sách đối ngoại (khi những chính sách này phù hợp với các giá trị pháp lý và đạo đức)[2].
 
Sức mạnh mềm của Ấn Độ thường được xem xét trong bối cảnh sức hấp dẫn của nó thông qua văn hóa, hệ thống chính trị, Bollywood
[3], và chính sách đối ngoại dựa trên giá trị[4]. Những nỗ lực đầu tiên của Chính phủ Ấn Độ trong dự án phát triển sức mạnh mềm bao gồm việc thành lập Phòng Ngoại giao công chúng trong Bộ Ngoại giao Ấn Độ từ năm 2006, và khởi động chiến dịch quảng bá du lịch “Incredible India” từ năm 2002[5]. Thành tựu ngoại giao sức mạnh mềm gần đây nhất là Liên hợp quốc lấy ngày 21/6 hằng năm là ngày Quốc tế Yoga, với sự ủng hộ của 175 quốc gia[6].
 
Sức mạnh mềm của Ấn Độ có lẽ đã có sự cộng hưởng rất nhiều từ các quốc gia Đông Nam Á. Sau hai thiên niên kỷ giao lưu giữa các nền văn minh, Ấn Độ và Đông Nam Á có nhiều điểm tương đồng, bổ trợ cho nhau về mặt tôn giáo và văn hóa, cụ thể là về ngôn ngữ, lối sống, ẩm thực, nghệ thuật và kiến trúc. Sự truyền bá của Phật giáo vào Đông Nam Á đã và đang là một khía cạnh quan trọng của những tiếp biến văn hóa này. Mối quan hệ hiện nay của Ấn Độ với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã mở rộng ra nhiều lĩnh vực hợp tác, có ý nghĩa chiến lược và kinh tế to lớn. ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ tư của Ấn Độ. Ấn Độ là đối tác thương mại lớn thứ sáu của ASEAN
[7]. Chính sách “Hành động phía Đông” của Ấn Độ khuyến khích các sáng kiến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, chiến lược, và văn hóa để giúp Ấn Độ tham gia sâu rộng vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương[8].
 
Báo cáo đặc biệt này mô tả tiềm năng của du lịch tôn giáo, và đưa ra những nhận định dự báo sức mạnh mềm Ấn Độ tại Đông Nam Á. Báo cáo sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích mô tả, sử dụng các nguồn tài liệu chính thức và không chính thức, thông tin thu được từ các chuyến đi thực địa đến các địa điểm và các cuộc phỏng vấn các bên liên quan. Nghiên cứu xem xét các xu hướng hiện nay, các khả năng phát triển du lịch tôn giáo ở các tỉnh Đông Bắc Ấn Độ. Báo cáo cũng xem xét các sáng kiến thúc đẩy du lịch tôn giáo do công đoàn và chính phủ các tỉnh thực hiện. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất một số gợi ý và giải pháp để nâng cao sức mạnh mềm Ấn Độ tại Đông Nam Á.
 
Sức mạnh mềm và du lịch
Du lịch đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức mạnh mềm của một quốc gia.
[9] Du lịch kết nối mọi người, giúp du khách sống trong nền văn nền văn hóa khác.[10] Du lịch còn giúp truyền bá các thuộc tính văn hóa và phương thức quản trị của quốc gia, làm cho quốc gia được nhiều người ngưỡng mộ.[11] Thành công của du lịch nội địa thường được coi là thước đo sức mạnh mềm của quốc gia[12] và xếp hạng sức mạnh mềm quốc tế thường sử dụng số liệu trong ngành du lịch như một trong những chỉ số đo lường[13]. Ví dụ, báo cáo “Sức mạnh Mềm 30” - Bảng xếp hạng 30 quốc gia có sức mạnh mềm nhiều nhất thế giới 2018 của Portland sử dụng các chỉ số như số lượng khách du lịch quốc tế đến một quốc gia, sự phát triển của ngành công nghiệp âm nhạc và thể thao của quốc gia để đo lường các chỉ tiêu văn hóa làm nên sức mạnh  mềm.[14] Một quốc gia có tinh thần cởi mở thân thiện và có đủ năng lực tiếp nhận khách du lịch nước ngoài hay không cũng là một tiêu chí để đo lường sức mạnh mềm của quốc gia.[15] Ấn Độ không góp mặt trong số 30 cường quốc sức mạnh mềm hàng đầu thế giới trong báo cáo Portland. Ấn Độ thường được mô tả là có nhiều biểu hiện của sức mạnh mềm, nhưng chưa biết cách phát huy sức mạnh mềm. Trong hạng mục xếp hạng “top 10 sức mạnh mềm châu Á”, được công bố lần đầu tiên trong Báo cáo Portland 2018, Ấn Độ được xếp thứ tám.[16]
 
Trong bảng xếp hạng du lịch, Ấn Độ đứng thứ 26 trên thế giới về lượng khách du lịch quốc tế  (FTA) trong năm 2017, chiếm thị phần 1,15%.
[17] Năm 2017, Ấn Độ thu về 27,31 tỷ USD ngoại hối từ du lịch, tốc độ tăng trưởng hằng năm là 19,1%, thị phần của Ấn Độ trong chi tiêu du lịch thế giới là 2,05%.[18] Lượng khách FTA đến Ấn Độ năm 2017 là 10,04 triệu người, đánh dấu mức tăng trưởng hằng năm khoảng 14% so với 8,8 triệu du khách FTA trong năm 2016.[19] Trong đó, Đông Nam Á thu hút 8,22 triệu FTA, đứng thứ tư về lượt FTA năm 2017 (Phụ lục 1). 15 quốc gia có nhiều FTA nhất chiếm 75,35% (Phụ lục 2). Trong số các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, Malaysia là nước có số lượng FTA cao thứ sáu, 3,21%. Con số này ở Singapore là 1,75%. Singapore đứng thứ 13 trong 15 quốc gia có nhiều FTA nhất trong năm 2017. Trong số các tỉnh và vùng lãnh thổ của Ấn Độ, tỉnh Maharashtra đứng đầu trong việc thu hút FTA trong năm 2017, 18,9%, tiếp theo là tỉnh Tamil Nadu (Phụ lục 3). 10 tỉnh hàng đầu Ấn Độ có ​​87,6% tổng số lượt FTA của cả nước, cho thấy gần như du khách chỉ đến 10 tỉnh này.[20]
 
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (gồm Ấn Độ và các nước Đông Nam Á) có mức tăng trưởng cao nhất (9%) về số lượng khách quốc tế trong năm 2017.
[21] Số liệu ước tính cho biết, trong số 600 triệu chuyến du lịch tôn giáo và tâm linh trên toàn thế giới, 50% số chuyến là của châu Á.[22] Trong số các tôn giáo truyền bá từ Ấn Độ sang các nước khác, Phật giáo có tiềm năng tối đa để thu hút khách du lịch nước ngoài, vì tuy hình thành ở Ấn Độ, Phật giáo lại thu hút nhiều tín đồ nước ngoài. 97% số người theo đạo Phật thế giới tập trung ở Đông và Đông Nam Á.[23]

Thúc đẩy tuyến đường du lịch Phật giáo xuyên quốc gia
Tuyến du lịch được định nghĩa là một hành trình có ít nhất ba điểm du lịch chính, khác biệt và cách xa nhau, với các điểm xuất phát và điểm kết thúc được xác định rõ. Các địa điểm có thể giới hạn trong một tỉnh hoặc một vùng, hoặc có thể xuyên quốc gia, qua nhiều lãnh thổ các tỉnh hoặc nhiều vùng lãnh thổ. Các địa điểm này có cùng một đặc điểm chính, hoặc các đặc điểm phụ.
[24] Báo báo cáo này nghiên cứu tuyến du lịch Phật giáo xuyên quốc gia với các địa điểm ở Ấn Độ và Nepal.

Hình 1: Bản đồ Tuyến du lịch Phật giáo xuyên quốc gia

Nguồn: Bản đồ do Jaya Thakur lập dựa trên số liệu từ “Các chuyến và tour du lịch hàng đầu - Tuyến đường hành hương Phật giáo”,
www.buddhisttrain.com, http://www.buddhisttrain.com/images/buddhist_map_big.jpg

Một tuyến du lịch qua các thánh địa Phật giáo ở hai quốc gia cần từ 7 đến 15 ngày.
[25] Hành trình dài bảy ngày bao gồm ít nhất sáu đến bảy điểm đến bao gồm Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật đắc đạo dưới gốc cây Bồ Đề), Rajgir, Nalanda, Kushinagar (Câu Thi Na), Lumbini (Vườn Lâm Tì Ny - Nepal), Shravasti và Sarnath (Lộc Uyển). Hành trình 15 ngày thường bao gồm 12 điểm đến (xem bảng 1)
 
Bảng 1: Các thánh địa và đặc điểm chính của thánh địa trên tuyến du lịch Phật giáo xuyên quốc gia
Thánh địa Đặc điểm Các địa điểm tôn giáo chính
Lumbini
(Lâm Tì Ny)
Nơi sinh của Đức Phật Thích Ca Đền Mayadevi*, Tilaurakot, Devdaha.
Kapilvastu (Piparhwa)
(Ca Tỳ La Vệ)
Cung điện của phụ thân Đức Phật Bảo tàng nơi chôn tro Đức Phật.
Rajgir
(Có Thành Vương Xá)
Đức Phật trải qua 12 mùa an cư kiết hạ Hang động Saptaparni Caves, Trụ đá Vishwa Shanti.
Bodh Gaya
(Bồ Đề Đạo Tràng)
Nơi Đức Phật đắc đạo dưới tán cây Đền Mahabodhi Temple*, Quần thể hang Pragbodhi.
Sarnath
(Lộc Uyển)
Đức Phật chuyển bánh xe công lý (chuyển pháp luân) Vườn nai, Trụ đá của vua Ashoka được dựng lên tại đây.
Shravasti Nơi Đức Phật thường an trú trong mùa mưa Làng tu Jetavana, KacchiKuthi và PakkiKuthi.
Nalanda Đại học Phật giáo cổ xưa Tàn tích của Đại học NalandaVihar*.
Sankisa Giáng trần từ chiếc thang vàng Điện thờ đánh dấu sự giáng trần
Kesariya
(Đại bảo pháp)
Giảng kinh Kalama Các cột trụ đá gợi nhớ Kinh Kalama
Kaushambi
(Thành Câu Thâm)
Đức Phật đã an cư nơi đây khoảng 6 đến 9 năm sau khi giác ngộ
Vaishali
(Tỳ Xá Ly)
Đức Phật lưu lại đây sau khi xuất gia Các cột và trụ thời vua Ashokan
Kushinagara
(Thành Câu Thi Na)
Phật nhập Niết bàn Cột đá Nirvana.
*Di sản Thến giới được UNESCO công nhận
Nguồn: Dựa trên tài liệu “Đường đến thánh địa” trong cuốn sách do Swati Mitra chủ biên, tựa đề “Hành hương với tín đồ Phật giáo ở Ấn Độ” (New Delhi: Goodearth Publications, 2009)

[1] Joseph S. Nye, Jr., The Annals of the American Academy of Political and Social Science, Vol. 616, Public Diplomacy in a Changing World (Mar., 2008), pp. 94-109
[2] Joseph S. Nye, Jr., Soft Power: The Means to Success in World Politics (New York: Public Affairs, 2004), 111
[3] Tên phổ biến của ngành công nghiệp điện ảnh có trụ sở chính tại thành phố Mumbai
[4] Tridivesh Singh Maini, “Can Soft Power Facilitate India’s Foreign Policy Goals?”, The Hindu Centre, 05/8/2016, https://www.thehinducentre.com/ the-arena/current-issues/article8943319.ece
[5] Jian Wiang, “Rising Soft Powers: India”, (Los Angeles, USC Centre on Public Diplomacy, 2014) https://www.uscpublicdiplomacy.org/sites/uscpublic diplomacy.org/files/useruploads/u20150/India%20soft%20power_0.pdf
[6] “UN declares June 21 as ‘International Day of Yoga”, The Times of India, December 11, 2014, https://timesofindia.indiatimes.com/india/UNdeclares-June-21-as-International-Day-of-Yoga/articleshow/45480636.cms
[7] "ASEAN-India Relations”, Ministry of External Affairs- Government of India https://www.mea.gov.in/Portal/ForeignRelation/ASEAN_India_August_20 17.pdf
[8] "Act East Policy”, Press Information Bureau- Government of India- Ministry of External Affairs, http://pib.nic.in/newsite/PrintRelease.aspx? relid=133837
[11]Tourism and Soft Power”, British Foreign Policy Group.
[12]India Tourism Statistics- 2017”, Ministry of Tourism Government of India.
[13]Place Branding Research-Taking your reputation places”, Anholt-GFK Nation Brands Index;
[14]The Soft Power 30- A Global Ranking of Soft Power 2018”, Portland- Facebook-USC Centre on Public Diplomacy.
[15]The Soft Power 30- A Global Ranking of Soft Power 2018”, Portland- Facebook-USC Centre on Public Diplomacy.
[16] Theo Jaishankar, nền văn hóa và dân chủ đa dạng của Ấn Độ đã làm cho Ấn Độ nổi bật so với các cường quốc khác, những cường quốc khác được cho là theo chủ nghĩa độc đoán và xét lại. Các nhà lãnh đạo Ấn Độ tự hào về tiềm năng sức mạnh mềm của đất nước họ. Tuy nhiên, Ấn Độ không có mặt trong top 30 quốc gia có sức mạnh mềm nhiều nhất toàn cầu. Điều đó cho thấy Ấn Độ chưa làm cho thế giới nhận ra sức mạnh mềm của Ấn Độ cho dù Ấn Độ tích cực tham gia và đầu tư vào ngoại giao văn hóa với nhiều quốc gia. Để biết chi tiết, xem báo cáo: Trung tâm Portland – Facebook - USC về Ngoại giao công chúng, Sức mạnh mềm 30, trang 62
[17]India- Tourism Statistics at a glance-2018”, Ministry of Tourism Government of India.
[18]India- Tourism Statistics at a glance-2018”, Ministry of Tourism Government of India
[19]India- Tourism Statistics at a glance-2018”, Ministry of Tourism Government of India
[20] Những số liệu này được tính dựa trên báo cáo hằng tháng thu được từ các khách sạn và các cơ sở lưu trú khác. Để biết chi tiết, xem Thống kê Du lịch Ấn Độ, 2015, của Bộ Du lịch - Chính phủ Ấn Độ. “India Tourism Statistics”,
[21]2017 Annual Report- World Tourism Organisation”, United Nations World Tourism Organisation.
[22]Executive Summary”, United Nations World Tourism Organization, (Madrid UNWTO: 2011) xii.
[23] Jaishankar, “India rising”,63
[25] Tác giả phỏng vấn những người điều hành tour ở Patna, Bodh Gaya, Rajgir và Lumbini trong thời gian 20-28/3/2017.
 

Bấm vào đây để đọc Phần 2 của nghiên cứu này
 

Bấm vào đây để đọc Phần 3 của nghiên cứu này

Bình luận của bạn