cis_banner_final_en.png
Rama anh hùng và một nền văn hóa anh hùng

01/11/2019


Rama anh hùng và một nền văn hóa anh hùng

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Đức Ninh, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam gửi tới hội thảo khoa học do Trung tâm tổ chức. Bài viết xuất phát từ góc độ lý thuyết tiếp nhận, tiếp biến văn hóa, từ góc nhìn của anh hùng ca cổ đại để trình bày những cảm nhận của chúng tôi, những người Việt Nam về người anh hùng Rama, về nền văn hóa Ấn Độ vừa huyền bí vừa anh hùng.


1. Ấn Độ là một trong những cái nôi sớm nhất của nền văn minh nhân loại. Nền văn minh Ấn - Hằng từ 3000 năm trước Công nguyên tồn tại và bồi đắp theo dòng lịch sử, to cao sừng sững như dãy núi Hymalaya hùng vĩ, với ngọn Meru thần thánh được gọi là “cột trụ trời”, là cõi trời tỏa chiếu ánh hào quang lấp lánh, rực sáng cả vùng trời phương Đông. Cũng chính từ “cột trụ trời” ấy mà Ấn Độ huyền bí, nền văn hóa Ấn Độ huyền bí, cả nền văn hóa Ấn Độ hướng lên “cột trụ trời” đi vào cõi tâm linh, và chính Ấn Độ, chứ không phải nơi nào khác, dẫn đưa các vùng đất phương Đông trở thành duy linh. Đó là kết tinh sâu thẳm mọi giá trị của văn hóa Ấn Độ.

1.1. Nói tính huyền bí của văn hóa Ấn Độ, bởi từ xưa Ấn Độ được mệnh danh là xứ sở của thần thoại, huyền thoại với muôn điều kỳ diệu, xứ sở của cổ tích, truyền thuyết, của thần tích Purana, của cả một đại dương truyện. Với việc thờ phụng hàng nghìn các thần linh trong tự nhiên cùng với sự suy tôn hàng nghìn nhân thần qua cặp kính phóng đại nhân cách hóa, con người Ấn Độ đã tạo dựng một hệ thống thần thoại kỳ vĩ, phong phú, ngang ngửa không hề thua kém thần thoại Hy Lạp. Cũng chính từ cội gốc thần thoại Ấn Độ và thần thoại Hy Lạp trong quá trình phát triển xã hội đã tạo ra hai ngả đường tư duy triết lý khác nhau, không hề gặp nhau và luôn đối lập nhau: một ngả đường duy linh phương Đông và đối lập với nó là ngả đường duy lý phương Tây.

1.2. Nói tính huyền bí của văn hóa Ấn Độ bởi Ấn Độ là quê hương của các tôn giáo lớn (Ấn Độ giáo, Phật giáo) và là tiểu lục địa dung chứa nhiều tôn giáo nhất, cả tôn giáo bản địa và tôn giáo ngoại nhập (đạo Sích, đạo Janin, đạo Islam, đạo Thiên chúa,…). Tất cả các tôn giáo khác nhau ở Ấn Độ đều chung sống hòa bình, khoan dung từ xưa đến nay dưới mái nhà văn hóa Ấn Độ. Mỗi tôn giáo đều có tôn chỉ, giáo lý của mình nhưng đều hướng thiện. Những khái niệm như luân hồi (Samsara), nghiệp báo (Karma), nhân quả hay quá trình tu luyện hướng tới mục đích cuối cùng là giải thoát, siêu thoát (moksa) và những điều răn sống đạo đức, bình đẳng, bác ái, thực hiện đúng Dharma, hay luật bất tổn sinh (ahimsa) đều có thể tìm thấy trong đạo Hinđu, ra đời sớm nhất, quyện chặt và song hành với sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt mang tính chất thế tập (cha truyền con nối, đời đời không bao giờ thay đổi, bất di bất dịch về huyết thống) và tạo nên cấu trúc xã hội Ấn Độ tồn tại lâu dài.

Giáo lý Dharma của Ấn Độ giáo đã qui định mỗi người từ khi sinh ra đã vĩnh viễn thuộc về đẳng cấp nào của mình rồi. Con người ở đẳng cấp thấp (như nô lệ Sudra chẳng hạn) chỉ có thể kỳ vọng kiếp này đem hết sức mình ra để phục vụ cho kẻ khác, tu luyện cho dày công đức để mong kiếp sau đầu thai vào đẳng cấp cao hơn (theo thuyết luân hồi Samsara). Chính điều này mới là cơ sở vững chắc nhất để lý giải, để cắt nghĩa tại sao dân chúng Ấn Độ lại mộ đạo. Và Ấn Độ giáo trở thành cứu cánh duy nhất cân bằng đời sống tinh thần cho đại đa số dân chúng, là sức mạnh tinh thần giúp người dân Ấn Độ vượt qua mọi trở lực, thử thách, vượt qua mọi nỗi đau trần thế để xây dựng và phát triển xã hội Ấn Độ cho đến ngày hôm nay. Ấn Độ giáo trở thành một nhu cầu không thể thiếu như hơi thở, cơm ăn nước uống hàng ngày trong đời sống tâm linh của người Ấn Độ. Nó là thứ thuốc an thần hữu hiệu, xoa dịu nỗi đau, khích lệ con người Ấn Độ thêm nhiều nghị lực vượt qua mọi éo le, bất hạnh, tiếp sức sống mãnh liệt cho họ bằng thuyết luân hồi (Samsara) và nghiệp báo (Karma), đem lại niềm hy vọng vĩnh hằng cho người Ấn Độ bằng thuyết lý giải thoát, siêu thoát (moksa). Tôn giáo là một trong những nhân tố quan trọng nhất qui định bộ mặt văn hóa dân tộc với những giá trị nằm ở chiều sâu của nó. Với Ấn Độ, tôn giáo là tất cả. Văn hóa, nghệ thuật Ấn Độ phát triển xuôi dòng theo sự phát triển của tôn giáo, triết học và đều đượm màu sắc tôn giáo. Văn hóa với các thành tố khác nhau của nó như kiến trúc, điêu khắc, ca múa, nhạc, văn chương,… song hành cùng tôn giáo Ấn Độ, tôn giáo chi phối văn hóa, tôn giáo “đọc” cho văn học chép. Nêu khái quát một cách ngắn gọn nhất thì, khác với văn hóa, văn học Trung Quốc vốn là hình ảnh, hình tượng người quân tử và đối lập với nó là tiểu nhân thì, hình ảnh, hình tượng xuyên suốt của văn hóa, văn học Ấn Độ là tu sĩ và vũ nữ. Ấn Độ là xứ sở của đạo sĩ.

1.3. Tính huyền bí của văn hóa Ấn Độ ẩn chứa trong triết học, từ gốc nguồn kinh Veda và về sau đẳng cấp, tôn giáo ra đời làm cho triết học Ấn Độ cùng tồn tại với tôn giáo một cách hòa bình. Tôn giáo và triết học Ấn Độ lại gắn kết mật thiết với nhau, chi phối lẫn nhau. Triết học Ấn Độ phong phú, đa dạng với nhiều môn phái khác nhau (phái charvac, phái darsana,v.v..) trong đó phái Vedanta ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tư tưởng Ấn Độ. Vedanta là triết học trừu tượng, siêu hình, tư biện, giải thích nguyên lý về linh hồn tuyệt đối (Brahman) đồng nhất với linh hồn cá thể (atman) trong kinh Upanisad.  

Về sau môn phái Sùng tín (Bhakti, Thế kỷ X) ảnh hưởng tới các nhà văn hóa Ấn Độ, có khuynh hướng đề cao tình yêu thương của con người, kêu gọi hòa hợp, phủ nhận đẳng cấp. Triết học Yoya của Ấn Độ ảnh hưởng sâu rộng ở nhiều nơi trên thế giới. Các phép tu luyện Yoya với những kết quả của nó làm cho chúng ta kinh ngạc về những khả năng vô biên của con người mà con người chưa làm chủ được những khả năng của chính mình. Triết học và tôn giáo vừa là động lực vừa biến thành mục tiêu phát triển văn hóa Ấn Độ. Tôn giáo - Triết học - Văn hóa nghệ thuật là ba bộ phận hữu cơ cấu thành cốt lõi nền văn hóa Ấn Độ, mang bản sắc Ấn Độ với sắc thái rất huyền bí cao siêu.

2. Không cao siêu huyền bí sao được, khi tôn giáo Ấn Độ “đọc” cho văn học ghi chép. Văn học Ấn Độ, với bề dày lịch sử 40 thế kỷ, đã để lại cho văn học thế giới chúng ta nhiều tác phẩm vĩ đại, chẳng khác gì thánh kinh như anh hùng ca Ramayana, Mahabharata; những tên tuổi lẫy lừng mọi thời đại như nhà thơ Kalidasa - kỳ công thứ nhất của nền văn học Ấn Độ và R. Tagore - kỳ công thứ hai, sau Kalidasa, là mặt trời của đất nước Ấn Độ, thánh Tagore, một nhà khai sáng vĩ đại trong nền văn học Ấn Độ cận hiện đại (R.Tagore là thi hào châu Á đầu tiên được nhận giải thưởng văn học Nobel năm 1913). Nhà hiền triết, nhà văn hóa vĩ đại R.Tagore là kết tinh của nền văn hóa, tư tưởng truyền thống Ấn Độ nhưng được ông khai sáng, soi rọi, nhận thức lại trong sự kết hợp Đông - Tây trên tinh thần phát triển của thời đại mới, đặc biệt là ở Ấn Độ. Trong hoàn cảnh của đất nước Ấn Độ, của xứ sở tôn giáo mờ mịt khói hương, của kho tàng huyền thoại, thần phả, thần tích, của xứ sở đạo sĩ và vũ nữ, R. Tagore đã lấy thơ ca làm thần tỏa sáng, vén bức màn khói hương bao phủ dày đặc trên bầu trời Ấn Độ để soi rọi, khai mở trí tuệ muôn màu cho dân tộc Ấn Độ. R. Tagore đã cống hiến toàn bộ tài năng, trí tuệ của mình để phụng sự con người, vì tình yêu thương con người, cho con người, vì con người, tôn thờ con người, bởi lẽ tất cả mọi cái đang, sẽ tồn tại CON NGƯỜI là và sẽ là TỐI CAO (kinh Veda). Một nhà khai sáng vĩ đại như R. Tagore nhưng người ta vẫn thấy R. Tagore huyền bí, thơ Tagore huyền bí (nhất là tập Thơ Dâng - Gitanjali) như chính nền văn hóa Ấn Độ huyền bí.

2.1. Bàn về các giá trị văn hóa Ấn Độ là bàn về một trong những cái nôi văn minh sớm nhất của loài người, là cắt nghĩa một nền văn hóa tại sao lại gọi là anh hùng. Gọi nền văn hóa Ấn Độ là anh hùng bởi vì nền văn hóa ấy có người anh hùng Rama, thần Rama. Chính nền văn hóa này đã mang tính toàn cầu hóa, đã toàn cầu hóa từ thời cổ đại. Những giá trị, những phát hiện từ nền văn hóa này đã chiếu rọi ảnh hưởng, lan tỏa, hội tụ rất nhiều vào những vùng đất, vùng văn hóa ở gần nó (như Đông Nam Á chẳng hạn) và ít hơn, nhạt hơn vào những vùng đất, vùng văn hóa ở xa nó (như Trung Á và châu Âu). Sự tỏa sáng của văn hóa Ấn Độ và sự đón nhận sáng tạo của các nền văn hóa khác trên trái đất đã làm cho chúng ta sửng sốt, kinh ngạc và ngượng mộ nó. Đó chính là sự anh hùng. Ấn Độ không mở mang bờ cõi quốc gia bằng chiến tranh gươm súng, để chiếm đất đai của quốc gia khác, mà Ấn Độ đã mở mang bờ cõi văn hóa, lan chiếm rộng không gian văn hóa ra ngoài đất nước Ấn Độ. Điều này được chứng minh, cắt nghĩa qua câu hỏi viện dẫn: Tại sao (sử thi) anh hùng ca Ramayana lại lan truyền rộng rãi ở các nước Đông Nam Á?

Quê hương của Ramayana là Ấn Độ huyền bí, nhưng mảnh đất Đông Nam Á tươi đẹp lại là nơi lưu dấu sâu đậm bước chân của người anh hùng Rama; nơi đến giờ sử thi Ramayana vẫn không ngừng được tái sinh, thay da đổi thịt để tiếp tục làm say mê lòng người và cứu giúp họ thoát khỏi vòng tội lỗi. Hiện tại bây giờ là cuộc sống của Thế kỷ XXI - thế kỷ của công nghệ thông tin, của nền kinh tế kỹ trị và tri thức nhưng người dân Đông Nam Á vẫn tìm về với không gian cổ xưa. Giọt lệ xót thương cho tình sử bi ai giữa Rama và Sita vẫn nhỏ trên vùng đất Đông Nam Á mỗi khi con người nghe kể lại bản tình ca này. Đối với người dân Đông Nam Á, Ramayana từ xưa đến nay vẫn là suối nguồn của đời sống tinh thần, là sự hồi sinh của những yêu thương, của một không gian bình yên ngập tràn những âm điệu du dương quyến rũ. Sử thi Ramayana lan truyền sang Đông Nam Á và trở thành máu thịt, thành linh hồn của cư dân Đông Nam Á, được họ yêu quý, trân trọng như một sáng tạo văn hóa của dân tộc mình.
Tại sao lại có hiện tượng đó?

2.2.Ramayana được lan truyền qua không gian thương mại.
Khát vọng khám phá và chinh phục “xứ sở của hương liệu” đã đưa các thương gia Ấn Độ đặt chân lên vùng đất Đông Nam Á. Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Ấn Độ và Đông Nam Á chính là cuộc tiếp xúc thương mại. Quá trình tiếp xúc này ngày càng được mở rộng, phát triển đến một mức độ nhất định đã dần dần chuyển thành tiếp xúc văn hóa. Đó là khi các thương điếm của người Ấn Độ đặt tại Đông Nam Á ra đời. Trong cuộc giao lưu Ấn - Đông Nam Á thì sự xuất hiện các thương điếm có vai trò vô cùng quan trọng, là dấu ấn văn hóa trong lịch sử Ấn Độ và Đông Nam Á. Do việc buôn bán xa phụ thuộc vào gió mùa, vì vậy thời gian buôn bán phải tính bằng cả năm nên thương gia Ấn Độ buộc phải dừng chân lâu dài trên đất Đông Nam Á. Các thương điếm được hình thành không có nghĩa chỉ là không gian trú chân tạm thời mà còn là không gian trao đổi, giao tiếp và sinh sống nữa. Cho nên người Ấn Độ đã mang theo cả “ba lô văn hóa” của Ấn Độ huyền bí đến đây, tạo dựng nền một “tiểu Ấn Độ” mới trên mảnh đất Đông Nam Á. Lâu dần, không chỉ bén duyên với đất, các thương gia Ấn Độ còn bén duyên với người. Các cuộc hôn nhân giữa người Ấn Độ và dân bản địa càng làm cho văn hóa Ấn Độ lan tỏa sâu rộng vào đời sống tinh thần của cư dân Đông Nam Á. Anh hùng ca Ramayana đã theo không gian thương mại đến với cư dân Đông Nam Á. Đây cũng là lý do Đông Nam Á tiếp nhận Ramayana đầu tiên mà không phải là một quốc gia nào của phương Tây.

Ramayana vượt đường biển sang Đông Nam Á đã tạo nên một cuộc hôn phối văn hóa giữa sử thi Ramayana với thần thoại, truyền thuyết dân gian, với tín ngưỡng cổ xưa và quan niệm thẩm mỹ của người dân Đông Nam Á. Đó là cuộc kết duyên tự nguyện trên tinh thần cộng sinh và những sinh thể văn hóa mới ra đời, tái tạo và lưu giữ lại tinh thần Ấn Độ bằng hơi thở của tinh thần văn hóa bản địa. Chúng ta có Sri Rama của Indonesia, Riêm Kê của Cămpuchia, Pha Lắc Pha Lam, Xin xay của Lào, Rama Kiên của Thái Lan, Rama của Myanma, Alim của Philippin, rồi Da Thoa Vương trong Lĩnh Nam Chích quái của Việt Nam. Những sinh thể văn hóa này, nói theo thói thường, là những đứa con lai. Nhưng người dân Đông Nam Á lại rất yêu quý nó, vì nó phản chiếu bóng dáng, hình hài của dân tộc mình, đồng điệu với tâm linh của các dân tộc Đông Nam Á. Cứ thế năm tháng trôi đi, lớp bụi thời gian đã phủ mờ mọi vật nhưng chiến công của chàng Rama thì vẫn còn đó, sừng sững hiện hình trên mảnh đất Đông Nam Á như dãy núi Hymalaya ngàn năm tuyết phủ vậy.

Bản thân Ramayana là một sử thi dân gian. Khi đến Đông Nam Á, nó bắt gặp ngay đời sống dân gian vô cùng phong phú của người dân Đông Nam Á khiến nó không ngừng được phát sinh, phát triển rộng khắp. Vậy đó, Ramayana cứ thế được truyền tụng, thấm đẫm vào tâm hồng người dân bản xứ. Tuy vậy, việc “định cư” lâu dài của sử thi Ramayana ở Đông Nam Á không đơn giản chỉ cắt nghĩa bằng lý do địa lý, thương mại. Bởi, Ramayana vẫn có thể đến Đông Nam Á và trở về quê hương mà không chinh phục được một người dân bản địa nào nếu nó không mang trong mình sức hấp dẫn nghệ thuật và tư tưởng gì. Cho nên, câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao sử thi Ramayana lại lan truyền rộng rãi ở Đông Nam Á nằm ngay trong chính bản thân tác phẩm này.

2.3. Ramayana đan gài các mô típ truyện kể dân gian:
Ramayana tự nó đã diễn ra một quá trình vận động, một cuộc di chuyển văn hóa vào đời sống tinh thần của cư dân Đông Nam Á mà không cần bất cứ sự cưỡng ép nào. Sử thi Ramayana hấp dẫn người nghe ở lối kể chuyện bằng các mô típ dân gian. Các mô típ dân gian là những mảnh vỡ, độc lập và sử thi Ramayana là sự sắp xếp khéo léo, đan lồng một cách nghệ thuật các mô típ đó để tạo nên bức tranh hoành tráng về một thời đại vừa anh hùng vừa thần thánh của người cổ xưa. Trên thực tế, quốc gia nào của Đông Nam Á cũng có hệ thống các mô típ truyện kể dân gian. Bởi vậy, ngay khi sử thi Ramayana đặt chân đến Đông Nam Á cư dân bản địa đã tiếp đón nó theo kiểu người lạ mà quen biết. Bởi, ở Ramayana người ta gặp lại cái quen thuộc, cái gần gũi trong những mô típ kể truyện dân gian đã từng có mặt trong đời sống đất nước của họ.

Trục chính trong cấu trúc của sử thi Ramayana là mô típ Dũng sĩ - Người đẹp - Con quỷ. Mô típ này vừa quen thuộc vừa hấp dẫn đối với bất cứ truyện kể nào. Dũng sĩ gợi người ta nghĩ đến sự can đảm, sức mạnh, lòng quả cảm. Người đẹp gợi người ta nghĩ đến giai nhân, sự yếu đuối cần được che chở và cũng là phần thưởng giành cho sự dũng cảm. Con quỷ gợi nhắc đến cái ác, cái khó khăn, do đó, gắn liền với những hình ảnh của thử thách. Nếu dũng sĩ tạo cái anh hùng thì giai nhân tạo cái trữ tình, lãng mạn. Còn con quỷ tạo cái khắc nghiệt, dữ dội. Bộ ba đó không thể thiếu nhau mỗi lần xuất hiện. Không có quỷ thì không sinh ra anh hùng. Không có giai nhân thì không có cuộc chiến đấu của người dũng sĩ. Sự xuất hiện này góp phần xây dựng nên một triết lý cuộc sống: con người muốn chiếm lĩnh được cái đẹp của cuộc sống thì phải chiến thắng khó khăn, thử thách.

Chúng ta không thể không nhắc đến Tam vị nhất thể của thần thoại Ấn Độ, bởi trong mô típ Dũng sĩ - Người đẹp - Con quỷ phảng phất quá trình vận động của sự sống mang màu sắc tôn giáo: Sáng tạo - Bảo vệ - Hủy diệt. Không có sự sống nào mà không tiến tới hủy diệt, chính do có hủy diệt mà có sự sống mới tạo ra và trưởng thành. Mô típ bộ ba Rama – Sita - Ravana trong sử thi Ramayana cuối cùng cũng để phản ánh sự kỳ diệu của nhịp cuộc sống đó. Có lẽ vì thế mà sử thi này hấp dẫn người nghe.

Người anh hùng Rama là nhân vật duy nhất xuất hiện với tư cách là chủ thể của mọi hành động: Hành động thử thách tình yêu (bắn cung), hành động chấp nhận tai họa (đi đày ở rừng, chiến đấu với Ravana), hành động thủ tiêu tai họa (giết Ravana, trở về). Cũng có thể thấy ở Rama vừa có sức mạnh “hủy diệt” vừa có sức mạnh “sáng tạo”. Thủ tiêu tai họa (giết Ravana) chính là kết thúc một sự vận hành của cái xấu, cái ác để khai sinh một sự vận hành cái tốt, cái thiện, cái trong lành.

Như đã nói, sử thi Ramayana là sự đan gài của nhiều mô típ dân gian. Điều đó tạo ra sự gần gũi với người dân Đông Nam Á. Các mô típ trong sử thi tạo nên một kết cấu mở. Mỗi mô típ là độc lập nên tự nó có thể trở thành một câu truyện riêng. Người bản địa, vì thế, nhanh chóng tiếp biến Ramayana một cách năng động, sáng tạo. Các biến thể của Ramayana ra đời ở các nước Đông Nam Á.

2.4. Các nhân vật của Ramayana là những biểu tượng về con người cổ xưa. Các nhân vật chính đại diện cho lý tưởng của con người: Rama, Sita, Laksamana, Hanuman là những nhân vật của thế giới thiện. Đối lập với Ravana, Vali những nhân vật thuộc thế giới của cái ác. Rama là ước mơ của người xưa về một vị minh quân. Dưới góc độ con người, người anh hùng Rama hơn người thường ở chỗ là hóa thân thứ bảy của thần Visnu. Dưới góc độ là thần, Rama khác thần ở chất người của mình. Rama được coi là tiêu biểu cho việc tuân theo và thực hành Dharma, vì thế chàng là kiểu mẫu lí tưởng mà người dân mong đợi. Ở Rama người ta tìm thấy cuộc đấu tranh giữa chất thần và chất người trong một con người. Người anh hùng Rama cũng ghen tuông, cũng giận dữ. Cái ghen ấy của Rama là sự thắng thế của chất người trong cuộc tranh giành vị trí với chất thần thánh. Sự tuân theo Dharma của Rama khiến ta liên tưởng đến con người Nho giáo Trung Hoa với người quân tử đề cao, trung, hiếu, lễ, nghĩa,… Tất cả đều làm cho người dân Đông Nam Á say mê, ngưỡng mộ các nhân vật thiện, đặc biệt là người anh hùng Rama và Sita.

2.5. Các yếu tố thần kỳ, huyền thoại tham gia cải biến thế giới của cái ác, cái xấu. Đây chính là nghệ thuật lôi cuốn, hấp dẫn người nghe của Ramayana. Nghệ thuật ấy chính là cái “thần kỳ”. Tại sao lại phải dùng yếu tố thần kỳ? Bởi vì chỉ có sự tham gia của các yếu tố thần kỳ mới thực hiện được việc cải hóa cái ác, cái xấu, thực hiện khát vọng tiêu diệt cái ác, cái xấu. Người dân Đông Nam Á gặp lại trong Ramayana tinh thần chiến đấu với cái ác bằng sức mạnh huyền thoại đã từng xuất hiện trong các truyện kể dân gian của mình. Vì thế nó cũng hấp dẫn lôi cuốn cư dân Đông Nam Á ở việc thỏa mãn ước mơ của mình về một xã hội lý tưởng.

2.6. Sự kết hợp hài hòa giữa triết lý tôn giáo và triết lý tình thương. Đây là một sự kỳ diệu đối với bất cứ người dân nào khi nghe kể về Ramayana. Tôn giáo vốn vẫn luôn là chỗ dựa tinh thần và niềm an ủi cuối cùng mà con người tìm đến. Trong Ramayana tôn giáo xuất hiện như một cái phông nền mà mọi sự kiện, hình ảnh, số phận con người đều diễn ra trên cái phông đó.

Tôn giáo được đan gài khéo léo với lòng thương yêu con người. Điều này đã tạo cho Ramayana một sự điều hòa tuyệt vời giữa Đạo với Đời, giữa niềm khát khao đi tìm cái tuyệt đối, cái vĩnh hằng của vũ trụ với sự đam mê, gìn giữ và bảo vệ đến cùng cuộc sống đang hiện sinh giữa con người của Dharma và con người của khát vọng trần tục.

Trong Ramayana mọi cái của hiện tại có thể được giải thích bằng quá khứ, nhân nào thì quả ấy. Đây là triết lý về định mệnh (Karma) trong Ramayana. Cả Rama, Sita, Ravana đều mang trong mình một định mệnh có sẵn. Con người dù mang chất thần cũng không thể chối bỏ định mệnh của mình. Cho nên tuân theo định mệnh là một thái độ phù hợp với quy luật của Brahma. Trong Ramayana có nhiều lớp định mệnh liên quan đến nhân vật. Chẳng hạn sự lưu đày của Rama, số phận của Sita, thân thế qủi vương Ravana đều không tự nhiên diễn ra như thế. Quá trình tiếp diễn và tuân theo định mệnh phù hợp với quan niệm cổ xưa của người Ấn Độ về sự vận động của vũ trụ. Vũ trụ vận động như một vòng tuần hoàn của sinh và tử, lặp đi lặp lại, cái sau do cái trước mà thành. Sử thi Ramayana đã thỏa mãn được khát vọng giải hóa và tìm hiểu về chính mình của con người, do đó, nó hấp dẫn và lôi cuốn lòng người.

Cảm hứng chủ đạo khi nói về con người trong sử thi này là cảm hứng thương cảm. Tước bỏ mọi yếu tố thần kì, huyền thoại, hoang đường, rốt cuộc, sử thi Ramayana là tác phẩm viết về tình yêu thương, là sự đồng cảm với khổ đau của con người. Con người và số phận của nó là tư tưởng chủ đạo, là tinh thần của sử thi. Cho nên dù núp dưới bóng dáng của một vị thần hay một con quỉ thì Rama, Ravana, Sita vẫn là một sự hiện hữu một con người trong giới hạn của sự đam mê và dục vọng trần thế. Không khí nhân văn này là nguyên nhân làm cho Ramayana lan rộng, hấp dân cư dân Đông Nam Á.

2.7. Cái bi của một thiên tình sử lãng mạn chính là một yếu tố cơ bản hấp dẫn người dân Đông Nam Á. Đó là cái bi trong mối tình giữa Rama - Sita. Tại sao mỗi khi nghe đến Ramayana con người lại rơi lệ? Tại sao đôi khi người ta yêu quý Sita hơn cả Rama? Tại sao trong sử thi không thiếu những cảnh tượng hùng vĩ, hoành tráng nhưng vẫn không mất đi những trạng thái thương cảm ở lòng người? Đó, là tất cả vì cái “bi”.

Tình sử giữa Rama - Sita rất đẹp nhưng buồn. Cái đẹp được cắt nghĩa ở sự toàn vẹn trong phẩm hạnh và tài đức của nhân vật, ở sự trong sáng, không vụ lợi trong tình cảm con người. Nếu vi phạm một trong ba điều này thì xuất hiện cái buồn. Sita bị Rama nghi ngờ phẩm hạnh, ấy là buồn. Từ cái buồn này, tất yếu tạo nên không khí bi ai cho tác phẩm. Xét đến cùng cái bi trong tình sử Rama - Sita do mâu thuẫn giữa một bên là việc tuân thủ Dhamar với một bên là những say mê trần thế mà tạo thành. Con người bổn phận và con người trần tục, tự do luôn tìm cách thức điều hòa lẫn nhau, và, khi không thể tự điều hòa được thì cái bi xuất hiện. Chẳng hạn, vua Đaxaratha vì nguyên tắc giữ đúng lời hứa mà đầy Rama vào rừng, bắt đầu giai đoạn khổ ải của gia đình chàng, mở màn cho không gian cái bi của tác phẩm. Người anh hùng Rama trong sự giằng co giữa bổn phận và tình yêu thì tất yếu bổn phận thắng thế và Sita rơi vào cuộc sống bi kịch. Tuân theo Dharma, họ được ca ngợi, nhưng rời bỏ tình yêu - niềm say mê trần tục, họ cũng bị lên án. Và cái không được thỏa mãn sẽ là cái bi trong tác phẩm.

Tình sử ở Ramayana, khi sang Đông Nam Á, được đón nhận nồng nhiệt và được lưu giữ trong lòng người chính là cái bi này. Đồng cảm với nỗi buồn và sự đau khổ bao giờ cũng nhiệt thành và lớn lao hơn là với niềm vui hay niềm hạnh phúc đối với tâm lý người dân Đông Nam Á. Cái bi là cái quen thuộc với họ hơn là cái vui, cái hạnh phúc. Vì thế, khi tới Đông Nam Á, Ramayana được người dân mở lòng ra đón nhận như một người bạn cố tri vậy. Người dân Đông Nam Á không chỉ đồng cảm, rơi lệ, xót thương cho mối tình của Rama - Sita, mà còn thấy trong cái bi của thiên tình sử này có cái bi của mình, Do vậy, tiếng khóc dành cho mối tình đẹp và buồn của Sita cũng tiếng khóc dành cho họ. Chia sẻ với cái bi - đó là cái mà Ramayana đã chinh phục được mọi trái tim của cư dân Đông Nam Á thành tổ quốc thứ hai của sử thi, của người anh hùng Rama.

3. Rama là anh hùng đã mở mang bờ cõi văn hóa, đem văn hóa Ấn Độ đi “chinh phục” trái tim của con người và mảnh đất nơi xa lạ là Đông Nam Á và các khu vực khác. Một người anh hùng và một nền văn hóa anh hùng không phải là đem súng gươm, xe pháo và cả lực lượng quân sự đi chinh phạt, khuất phục dân tộc khác bằng cách chém giết người, hủy diệt cuộc sống của con người bản xứ để mở rộng lãnh thổ địa lý; mà nền văn hóa anh hùng Ấn Độ ở đây đã dùng văn hóa của minh để mở rộng “bờ cõi” không chỉ đến đảo Lanka ( Sri Lanka ngày nay) mà còn đến tận khu vực Đông Nam Á, tận Trung Đông, châu Âu bằng con đường hòa bình tự nguyện. Một anh hùng Rama - một nền văn hóa anh hùng Ấn Độ đi liền nhau là vậy.

Chất anh hùng của nền văn hóa ấy được cắt nghĩa cũng chính từ giáo lý Drahma, tạo nên tính cách cam chịu, nhẫn nại, bền bỉ, tính hòa hợp, tính thiện, hòa đồng với thiên nhiên của con người Ấn Độ trong lao động, trong đấu tranh để phát triển xã hội. Do đặc thù không gian môi trường văn hóa, trong con người Ấn Độ luôn luôn mâu thuẫn với chính mình: vừa khát vọng tâm linh cao siêu, huyền bí, vừa sâu sắc tính người trần thế, thống nhất hòa quyện sự vận động vũ trụ vào nhịp sống của con người. Người Ấn Độ coi trọng đời sống tâm linh và tư duy luôn hướng vào cái tuyệt đối, cái vô hạn, xem nhẹ cái cụ thể, cái cá biệt và luôn có cách thích nghi với thế giới thực tại. Người Ấn Độ sống hướng nội, luôn chiêm nghiệm đời sống, để tâm hồn mình bay bổng vào thế giới trừu tượng huyền ảo và không bao giờ ngơi nghỉ đấu tranh vì cuộc sống hòa bình, bình đẳng, bác ái, vì cái thiện và tình yêu, vì sự hòa hợp của các dân tộc. Họ là chủ nhân của một nền văn hóa anh hùng.

Người Ấn Độ hiện tại vẫn luôn luôn tìm về những giá trị văn hóa truyền thống, khai thác và phát triển những yếu tố, những giá trị văn hóa truyền thống phù hợp với sự phát triển của sự phát triển xã hội đương đại. Văn hóa Ấn Độ đầy tính nhân văn, một nền văn hóa anh hùng đã cống hiến cho loài người nhiều di sản có giá trị và chính những giá trị trường tồn ấy là sức mạnh to lớn để Ấn Độ phát triển hôm nay.

 
GS, TS Nguyễn Đức Ninh

Bình luận của bạn