cis_banner_final_en.png
Sự hội tụ của sức mạnh mềm Ấn Độ và Việt Nam

01/11/2019


Sự hội tụ của sức mạnh mềm Ấn Độ và Việt Nam

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài tham luận “Sự hội tụ của sức mạnh mềm Ấn Độ và Việt Nam” của TS Ajaneesh Kumar, Phó Tổng Giám đốc, Hội đồng các vấn đề thế giới, New Delhi, Ấn Độ. Bản dịch tiếng Việt của Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ.


Nhà khoa học chính trị người Mỹ theo chủ nghĩa Tân tự do, Joseph Nye, của Đại học Harvard được ghi nhận là người đưa ra thuật ngữ “Sức mạnh mềm” trong cuốn sách xuất bản năm 1990 ‘Bound to Lead: the changing nature of American Power’ (Giới hạn để dẫn dắt: bản chất thay đổi trong Sức mạnh Mỹ). Thuật ngữ này “dùng để mô tả khả năng thu hút và hợp tác thay vì ép buộc, sử dụng vũ lực hoặc mua chuộc như là phương tiện để thuyết phục”. Kể từ đó, các quốc gia bắt đầu nỗ lực gia tăng nhận thức của xã hội và người dân thông qua việc vận động hành lang một cách tinh vi hơn (thông qua văn hóa, thể thao, ẩm thực, nghệ thuật) trên phạm vi toàn cầu. Sức mạnh mềm dựa trên một nguồn tài nguyên của đất nước, đó là văn hóa (hấp dẫn người khác, quốc gia khác), đó là các giá trị chính trị (khi hệ giá trị này áp dụng cho những người sống trong hay ngoài nước), và các chính sách đối ngoại của quốc gia (khi chính sách được cho là chính đáng và có đạo đức).

Cội nguồn của Sức mạnh mềm Ấn Độ hết sức sâu xa. Ấn Độ là một nền văn minh lớn, cái nôi của gần như mọi tín ngưỡng mà loài người biết đến, và là một vùng đất đa dạng phong phú. Văn hóa, di sản và sự đa nguyên của Ấn Độ, cùng với các nguyên tắc bất bạo động, các thể chế dân chủ, v.v ... đã làm nên môi trường văn hóa Ấn Độ, đôi khi còn được gọi là sự hòa trộn của nhiều nền văn minh.

Mối quan hệ giữa Ấn Độ và Việt Nam kéo dài hơn 2000 năm. Ngày nay, mối quan hệ này đã phát triển thành “đối tác chiến lược toàn diện”. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, trong chuyến thăm chùa Quán Sứ vào tháng 9/2016, tuyên bố rằng, một số nước khác đến Việt Nam với mục tiêu gây chiến, nhưng từ xưa đến nay, người Ấn Độ đến đây với thông điệp hòa bình.

Sự liên kết giữa hai nền văn minh cổ xưa và những nét tương đồng thời hiện đại đã ràng buộc hai nước chúng ta. Phật giáo, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa bá quyền, và những mục tiêu phát triển, là những cơ sở cho mối liên kết, sự thống nhất lâu dài giữa hai nước về mục đích và cách thức hoạt động. Không đi quá xa vào lịch sử cổ đại và trung cổ, có thể nói rằng Ấn Độ và Việt Nam có tiềm năng to lớn để thể hiện và thực thi sức mạnh mềm của hai nước bằng cách khuyến khích xây dựng dựa trên các mối liên kết đã từng có trong lịch sử hai nước.  

Trong bối cảnh này, cho phép tôi trích dẫn lời của một trong những nhà lãnh đạo vĩ đại nhất mọi thời đại và đồng thời là kiến trúc sư cho sự phát triển đất nước Việt Nam như ngày nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã nói: “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ càng phải học”.

Quá trình học tập này được tài liệu hóa rất tốt từ thời đại của nền văn minh Champa, vốn có mối liên kết lịch sử với Ấn Độ. Vương quốc Champa phát triển mạnh mẽ từ Thế kỷ II đến Thế kỷ XV. Nền văn minh này xuất hiện lần đầu tiên vùng đất xung quanh Đà Nẵng ngày nay, và sau đó vào Thế kỷ VIII, lan rộng về phía Nam đến nơi hiện nay là Nha Trang và Phan Rang. Vương quốc cổ đại Champa là một nước mạnh trong khu vực này, và là một trung tâm thương mại hàng hải dọc theo con đường tơ lụa cũ. Vào cuối Thế kỷ IXX, người di cư từ các thuộc địa của Pháp ở Nam Ấn Độ, chủ yếu đến từ các vùng đất của Pháp như Pondicherry và Karikal, đã dựng lên ngôi đền Mariamman ở Sài Gòn.

Thánh địa Mỹ Sơn, một trong tám Di sản Thế giới của UNESCO ở miền Trung Việt Nam, gồm một quần thể các đền thờ Ấn Độ giáo hiện đã bị xuống cấp, được xây dựng trong khoảng Thế kỷ IV đến Thế kỷ XIV sau Công nguyên, để thờ thần Shiva, Vishnu, Krishna và các vị thần khác của Ấn Độ giáo, là minh chứng cho mối quan hệ họ hàng và tình huynh đệ giữa hai nền văn minh Ấn Độ cổ và Champa của Việt Nam. Khoảng 80 ngôi đền bằng gạch và đá vẫn còn dấu tích trong khu thánh địa. Việt Nam đã làm được nhiệm vụ thực sự đáng chú ý trong việc bảo tồn khu khảo cổ học có người ở lâu nhất trong khu vực Đông Dương này. Viện Khảo cổ học Ấn Độ, những người khảo sát và khôi phục lại sự hiện diện của những dấu tích Ấn Độ cổ, nên đóng một vai trò có ý nghĩa hơn và tham gia cùng với đối tác Việt Nam trong việc khôi phục và bảo tồn di sản này cùng với các địa điểm Phật giáo quan trọng khác, để truyền cho các thế hệ sau này.

Kinh nghiệm và tri thức chuyên môn được truyền lại ở Việt Nam trong khoảng thời gian nền văn hóa Champa phát triển có thể là bài học kinh nghiệm quý báu cho những người làm nghề khảo cổ học Ấn Độ. Một bài học quan trọng đáng ghi nhớ, đó là, đảm bảo rằng, các quyền của các bên liên quan và cộng đồng địa phương được giữ nguyên trạng trong khi bảo tồn và duy trì di sản chung. Hơn nữa, quá trình phục dựng Mỹ Sơn có thể giúp Ấn Độ tìm hiểu những ví dụ thực tiễn, điển hình tiên tiến, liên quan đến việc thúc đẩy các sáng kiến về tăng trưởng xanh và phát thải carbon thấp ở các địa điểm tương tự ở Ấn Độ.

Hiện nay, Việt Nam vẫn duy trì mối liên kết chặt chẽ và truyền thống với thành phố Kolkata nói riêng và tỉnh Tây Bengal nói chung, thông qua mối quan hệ chính trị, tư tưởng chung của Chủ nghĩa Cộng sản. Nhiều tác phẩm văn học Cộng sản của hai nước đã được dịch sang các ngôn ngữ của nhau. Trong khi Rabindra Nath Tagore nổi tiếng ở Việt Nam, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh rất nổi tiếng ở Kolkata. Thành phố này có những con đường, công trình và tòa nhà được đặt theo tên Người. Câu chuyện cuộc đời của Người được nhiều người đọc, và Việt Nam được đánh giá rất cao. Người ta vẫn có thể nghe thấy cụm từ “amarnaam, tomarnaam, Vietnam, Vietnam” (Tên tôi, Tên của bạn, Việt Nam, Việt Nam) như cách nói của người Bengal. Ngoài ra, học sinh và sinh viên từ tỉnh này đến Việt Nam thường xuyên để trao đổi văn hóa và học thuật.

Văn hóa từ lâu đã đóng một vai trò then chốt trong việc nâng cao nhận thức và thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia. Điều này càng góp phần tăng cường hợp tác song phương, đảm bảo hòa bình và thịnh vượng của hai dân tộc. Ấn Độ và Việt Nam cũng đã thiết lập một số cơ chế nhất định để thúc đẩy giao lưu văn hóa. Năm 2017 đã được chọn là “Năm của tình hữu nghị” giữa hai nước.

Hiện đã có Chương trình trao đổi văn hóa (CEP) giữa hai nước. Trung tâm văn hóa Ấn Độ (ICC) tại Hà Nội, được khánh thành năm 2017, tiếp tục củng cố sự hiện diện văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam. Nơi đây là một trung tâm văn hóa với các hoạt động từ Yoga đến các lớp khiêu vũ và âm nhạc Ấn Độ. Với tinh thần mang hai nền văn hóa lại với nhau, một nhóm múa cổ truyền Bhangra của Ấn Độ, gồm 12 thành viên, do ông Kanwarpreet Singh Shetra làm trưởng nhóm, đã tham gia Lễ hội trái cây miền Nam (Việt Nam) từ ngày 31/5 đến ngày 3/6/2016. Một nhóm nhạc 6 thành viên là nhóm Dementia, do ông Inakhu A Ayeh đã biểu diễn nghệ thuật nhân dịp lễ Diwali từ 19 đến 24/10/2016. Nhóm nhảy Kuchipudi gồm 6 thành viên, do Đạo sư Jayrama Rao làm trưởng nhóm, đã đến biểu diễn văn nghệ nhân kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Ấn Độ và Việt Nam vào tháng 4/2017. Một nhóm nhảy Kathak có tên gọi là Nadam, gồm 10 thành viên, do bà Nadini K Mehta làm trưởng nhóm đã đến Việt Nam tham gia Lễ hội bãi biển Khánh Hòa từ ngày 10 đến 14/6/2017.

Các nhóm biểu diễn nghệ thuật Việt Nam cũng đã được đón nhận ở Ấn Độ và đã đóng vai trò thúc đẩy việc kết nối hai dân tộc. Vào tháng 1/2015, một nhóm ca múa nhạc gồm 15 nghệ sĩ Việt Nam đã đến Ấn Độ để tham gia Liên hoan Âm nhạc và Khiêu vũ Quốc tế lần thứ 7 tại Phòng nghệ thuật Kamani, New Delhi. Ngoài Delhi, nhóm cũng đã biểu diễn tại Bengaluru và Trivandrum. Một nhóm khác, nhóm “The Legacy” gồm 12 nghệ sĩ của một trường Trung cấp Nghệ thuật Việt Nam đã đến Ấn Độ biểu diễn từ 21/2 đến 1/3/2017. Nhóm đã biểu diễn ở Delhi, Guwahati và Kolkata.

Nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Ấn Độ, trong tháng 1/2017, Hội đồng Quan hệ Văn hóa Ấn Độ (ICCR) hỗ trợ cho một nhóm họa sĩ Việt Nam thăm Delhi và Kolkata. Hội đồng cũng đã gửi tác phẩm của nghệ sĩ Benoy Behl tới Việt Nam để tổ chức một triển lãm ảnh về “Thánh tích và Di sản Phật giáo”.

Lễ hội Ấn Độ được Viện Nghiên cứu Văn hóa Himalaya tổ chức tại Việt Nam vào tháng 3/2014, và các hoạt động lễ hội ẩm thực, múa dân gian, nghệ thuật vẽ trên tay và Yoga, đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt tại các thành phố Đà Nẵng, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2015. Trong lễ hội này, tám bộ phim tiếng Hindi có phụ đề tiếng Việt đã được trình chiếu. Một cuộc hội thảo về “Hợp tác sản xuất phim và vai trò của điện ảnh trong quảng bá du lịch” đã được tổ chức vào ngày 19/12/2015, tại Hà Nội. Lễ khai mạc Liên hoan phim và Hội thảo có sự tham gia của 11 nhà sản xuất và đạo diễn phim Ấn Độ, và nhiều nhà quản lý và đạo diễn phim Việt Nam. Ấn Độ là một trong những quốc gia đối tác trong Liên hoan phim quốc tế Hà Nội tháng 11/2016. Một số bộ phim Ấn Độ đã được chiếu trong Liên hoan phim. Tuy nhiên, cần phải có một lịch chiếu phim Ấn Độ thường xuyên, chứ không chỉ chiếu trong Lễ hội Ấn Độ.

Bollywood, ngành công nghiệp điện ảnh Ấn Độ, và các nền điện ảnh khác trong khu vực, đã đóng góp rất lớn trong việc làm chiếc kính vạn hoa phản chiếu đời sống Ấn Độ. Bên cạnh mục tiêu giải trí, mang lại cảm giác vui vẻ và hạnh phúc, những bộ phim còn mô tả chiến thắng của cái thiện trước cái ác, và là công cụ tuyệt vời trong việc phá vỡ các rào cản xã hội. Những bộ phim truyền hình dài tập Ấn Độ chính là một phần mở rộng của văn hóa Ấn Độ, đang được yêu thích và thưởng thức ở Việt Nam. Người xem vẫn sẽ nhớ bộ phim nổi tiến “Cô dâu 8 tuổi” (Balika Badhu) được chiếu ở Việt Nam. Anandi, nhân vật chính trong phim trở thành một cái tên quen thuộc. Thông qua những bộ phim như vậy, người dân Việt Nam biết đến các lễ hội Ấn Độ. Cần có các dự án chung có thể đồng hóa các câu chuyện và văn hóa của cả hai quốc gia. Phim và khiêu vũ Ấn Độ đang trở nên phổ biến trong giới trẻ Việt Nam, và có thể là một lĩnh vực khác về mặt văn hóa cần được củng cố và khai thác.

Báo chí hai nước (gồm báo in, đài phát thanh và truyền hình, báo điện tử) có thể phát triển tương tác đa phương tiện với hai mục tiêu chính. Thứ nhất là, kể những câu chuyện diễn ra ở mỗi nước, từ đó nâng cao sự hiểu biết về nhau, chia sẻ tầm nhìn, sự quan tâm, thông tin, sự hiểu biết và trọng tâm của quốc gia này ở quốc gia kia. Thứ hai là, trong quá trình hợp tác liên kết, các cá nhân và tổ chức sẽ có thể trao đổi nội dung và các chuyên gia một cách bền vững. Một sự hợp tác truyền thông toàn diện giữa hai nước có thể bổ sung thêm và đa dạng hóa giá trị nội dung của sản phẩm báo chí và học thuật hai nước. Ví dụ, Báo chí Ấn Độ có thể hợp tác với đối tác Việt Nam để tìm hiểu khả năng xuất bản ấn phẩm bằng tiếng Anh.

Du lịch giữa hai nước có tiềm năng rất lớn để thu hẹp khoảng cách và đưa mọi người lại gần nhau. Việt Nam, cũng như Ấn Độ, có nhiều danh lam thắng cảnh ngoạn mục, như Vịnh Hạ Long, ngoài việc là một điểm đến hấp dẫn khách du lịch Ấn Độ, còn có thể đóng vai trò là địa điểm có chi phí thấp hơn để quay các bộ phim điện ảnh và phim truyền hình Ấn Độ. Tuy nhiên, du lịch giữa hai nước chưa bùng nổ. Ngành du lịch cần tăng cường nhận thức và kết nối tất cả các bên liên quan, gồm các hãng hàng không, hiệp hội khách sạn, công ty lữ hành và những nhà quản lý sự kiện. Về phần mình, Ấn Độ cần có những hoạt động sáng tạo hơn nữa để quảng bá du lịch đến mọi thành phần trong xã hội như thanh niên, sinh viên, giáo viên, chuyên gia, nghệ sĩ, giới tăng lữ, thương nhân, doanh nhân và những người chỉ đơn giản là tò mò khám phá chương trình du lịch “Kinh ngạc Ấn Độ” (Incredible India). Mỗi năm, một số lượng lớn các nhà sư và chuyên gia nghiên cứu Phật giáo người Việt Nam đến Ấn Độ để nghiên cứu tôn giáo và tham quan các thánh địa Phật giáo linh thiêng ở Ấn Độ. Những chuyến đi này nâng cao hiểu biết và cung cấp kiến ​​thức sâu sắc, mới mẻ về Phật giáo cho người Việt Nam. Những tri thức đó sẽ được người Việt Nam học hỏi, trân trọng, và truyền lại cho các thế hệ mai sau.

Một khía cạnh khác của mối liên kết này là tìm hiểu các tác động của Phật giáo, mối quan hệ giữa giới thương gia và giới tăng lữ, việc chuyển giao các hiện vật, văn bản, tập quán, giáo lý và nghi lễ Phật giáo cho các cộng đồng thương mại địa phương cuối cùng đã được củng cố thành các tập quán và truyền thống văn hóa. Các học giả, học viên và nhà sử học nghiêm túc có thể thấy thú vị khi lập bản đồ kết nối tôn giáo giữa Ấn Độ và Việt Nam. Các nhà sư và học viên Việt Nam có thể muốn học ngôn ngữ Paali và Prakrit. Các bản thảo kinh điển của Phật giáo về cuộc đời và giáo lý của Đức Phật có thể là một lĩnh vực khác để nghiên cứu và học tập. Thời gian đã chín muồi để thực hiện các chuyến tham quan, học hỏi như vậy, và cần có kế hoạch hành động được cụ thể hóa thông qua các thỏa thuận hợp tác chính thức ở cấp độ từng cơ quan cụ thể giữa hai bên.

Nhân dịp kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Ấn Độ và Việt Nam, và kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam phối hợp với Hiệp hội hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ (VIFA) và Đại sứ quán Ấn Độ tại Hà Nội, đã tổ chức “Lễ hội Phật giáo - Ngày Ấn Độ” trong bốn ngày tại Tây Thiên, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Lễ hội có sự tham gia của một tăng đoàn gồm 200 tăng ni từ Ladhak và Darjeeling, dẫn đầu là Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa Jigme Pema Wangchen từ Tu viện Hemis Jangchubling, Leh.

Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 9/2016, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã mời các tăng ni, phật tử tại chùa Quán Sứ, trụ sở của Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam, đến thăm “Đất Phật” Ấn Độ và Varanasi, khu vực bầu cử nơi Thủ tướng Ấn Độ làm đại diện trong quốc hội.

Năm 2017, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, Nguyễn Thị Kim Ngân đến thăm ngôi chùa Đại Giác Ngộ (Mahabodhi) nổi tiếng thế giới ở Bồ Đề Đạo Tràng. Nơi đây được kinh Phật mô tả là “Rốn Trái đất”. Chuyến thăm là một ví dụ nữa về mối liên kết văn hóa mạnh mẽ giữa hai nước.

Lĩnh vực giáo dục, với các khóa học mới nhất về khoa học và công nghệ, đã trở thành một mô hình thành công trong việc xác định phạm vi và quảng bá sức mạnh mềm của Ấn Độ tới các nước nhận tài trợ. “Trung tâm Nguồn nhân lực chất lượng cao Công nghệ Thông tin và Truyền thông” (ARC-ICT) do Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ khánh thành tại Hà Nội vào tháng 9/2011 và “Dự án hỗ trợ nâng cao năng lực tính toán hiệu năng cao tại Việt Nam” đặt tại Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội năm 2013, là những ví dụ tiêu biểu của quá trình triển khai sức mạnh mềm Ấn Độ ở Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục.

Tôi trân trọng ghi nhận sự thành công của Chương trình học bổng Chính phủ Ấn Độ thông qua ICCR, cụ thể là Chương trình học bổng chung, Chương trình học bổng EEP/CEP và Chương trình học bổng sông Hằng - sông Mêkông, với lần lượt 24, 14 và 10 suất học bổng mỗi năm cho sinh viên Việt Nam. Ngoài ra, theo chương trình học bổng ITEC, Bộ Ngoại giao đã cấp 120 suất học bổng mỗi năm cho các cán bộ và chuyên gia Việt Nam để tham gia vào một loạt các khóa học tại Ấn Độ, bao gồm nhiều lĩnh vực từ quốc phòng an ninh, tới nâng cao năng lực và kỹ năng.

Yoga, theo nghĩa là một môn khoa học tổng hợp, rèn luyện cả thế chất, tinh thần được hỗ trợ bởi yếu tố tâm linh, đã được xã hội Việt Nam chấp nhận và thích nghi. Theo lời của Thủ tướng Modi: “Yoga là món quà Ấn Độ đã tặng cho thế giới, bằng cách thực hành Yoga, một tinh thần thế giới đồng nhất được tạo ra. Ngày nay, cả thế giới đều muốn hòa bình, không những thoát khỏi các cuộc chiến tranh và xung đột, mà còn có sự tĩnh tâm sau những căng thẳng trong cuộc sống, và vì thế, chúng ta có Yoga”. Bắt đầu từ năm 2015, ngày quốc tế Yoga (IDY) đã được tổ chức thành công vang dội tại Việt Nam. IDY được tổ chức bởi Phái đoàn Ngoại giao Ấn Độ tại Việt Nam, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng Việt Nam, Văn phòng Liên hợp quốc tại Hà Nội và Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội. Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) đã hỗ trợ cho sự kiện này, và kể từ năm 2016, Công ty bảo hiểm Bảo Việt đã trở thành đối tác thường xuyên của Đại sứ quán. Ngày Quốc tế Yoga lần thứ 3 đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 6/2017 tại Quảng trường Lý Lý Tổ gần Hồ Hoàn Kiếm. Khoảng 4000 người tham gia tập biểu diễn Yoga trong ngày này.

Các chuyến thăm của Đoàn Thanh niên hai quốc gia là một liên kết quan trọng khác để làm sâu sắc thêm các mối quan hệ hiện có. Chuyến thăm của Đoàn Thanh niên Ấn Độ đến Việt Nam theo Biên bản ghi nhớ hợp tác về Chương trình trao đổi thanh niên được ký năm 2014 là một sáng kiến đáng hoan nghênh. Vào tháng 3-4/2017, đại diện Đoàn Thanh niên Việt Nam đã đến thăm Ấn Độ. Tôi chắc chắn rằng sẽ có nhiều dịp trao đổi đoàn như vậy trong tương lai, dẫn đến sự hiểu biết tốt hơn về những khát vọng, ý tưởng và giá trị của nhau.

Trong thời gian gần đây, Việt Nam đạt được những thành tựu rất tốt trong lĩnh vực thể thao quốc tế. Ấn Độ cũng đang thực hiện mọi nỗ lực để xóa bỏ định kiến rằng “người Ấn Độ chỉ biết chơi cricket”. Hai nước nên tìm hiểu khả năng thường xuyên giao hữu trong các môn thể thao, trao đổi huấn luyện viên và giáo viên, để giúp nhau trau dồi kinh nghiệm, cùng tiến bộ về chuyên môn và kỹ thuật thi đấu.

Từ ngày 20-21/2/ 2016, ICCR đã tổ chức một hội thảo quốc tế song phương “Quan hệ văn hóa Việt Ấn: Thực tế và triển vọng”, bao gồm nhiều chủ đề như liên kết văn hóa nhiều thế kỷ giữa Ấn Độ và Việt Nam, và sự ảnh hưởng của liên kết văn hóa đến viễn cảnh địa chính trị ngày nay, Hồ Chí Minh & Ấn Độ, và Tagore & Việt Nam. 7 học giả Việt Nam đã tọa đàm với 15 học giả Ấn Độ để cùng phân tích mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, vốn đã có truyền thống lâu đời và đánh giá mối quan hệ này trong bối cảnh hiện đại.

Việt Nam có nền văn minh sông nước, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, thích hợp để đưa vào sản xuất trong các sản phẩm tiêu dùng thời trang. Điều này tương đồng với bối cảnh ở Ấn Độ, nơi tồn tại các hệ sinh thái và nhiều ngành nghề thủ công mỹ nghệ tương tự. Đây có thể là cơ sở để tổ chức các hội thảo, trao đổi nghệ nhân, trao đổi kỹ năng và nâng cấp công nghệ chế biến vật liệu. Trao đổi nghệ nhân là việc hết sức cần thiết để hai nước củng cố sự hiểu biết sâu sắc hơn về các động lực và thực tiễn sáng tạo văn hóa đương đại. Bên cạnh các trung tâm dệt may, thời trang và thiết kế, Ấn Độ có mạng lưới trung tâm dịch vụ dệt sợi khổng lồ, làm ra những sản phẩm được người tiêu dùng các thành phố phương Tây ưa chuộng. Trong khi đó, các thành phố phương Đông mới chỉ lấy hàng từ một vài trung tâm như Singapore, Hồng Kông, Thượng Hải, Bắc Kinh và Seoul. Còn rất nhiều lĩnh vực để hợp tác xuyên quốc gia, mang lại lợi ích cho sinh viên, học viên, giảng viên và các cơ quan, tổ chức. Phạm vi hợp tác có thể mở rộng cho tất cả các lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, sản xuẩt sản phẩm, nghệ thuật thị giác, nghệ thuật biểu diễn, bên cạnh các lĩnh vực truyền thống như hàng dệt may, đồ thủ công mỹ nghệ, thiết kế và điện ảnh.

Thủ tướng Modi đã khởi xướng “Cuộc cách mạng sức khỏe” tại Ấn Độ khi đưa ra Chính sách y tế quốc gia 2017. Chính phủ đã có Bộ Ayush, với chức năng nghiên cứu cũng như thực hành hệ thống y tế và y học cổ truyền Ấn Độ, như Ayurveda, Yoga, Bệnh lý tự nhiên, Unani, Siddha và vi lượng đồng căn, và hợp tác giữa các viện nghiên cứu y tế và nghiên cứu y học cổ truyền.

Không gian đô thị Việt Nam có thể áp dụng các phương pháp tái chế chất thải tiên tiến, đồng thời duy trì vệ sinh trên khắp các thành phố và vùng nông thôn. Mặc dù Ấn Độ đã khởi xướng phong trào “Ấn Độ Sạch” (Swachh Bharat Abhiyaan), nhưng vẫn rất cần học hỏi kinh nghiệm của Việt Nam trong xử lý chất thải và tái chế, đây vẫn là thách thức lớn đối với vấn đề đô thị ở Ấn Độ. Cơ hội cũng có thể được mở ra cho các dự án chung giữa các thành phố liên kết, giữa các lưu vực sông, như sông Hồng và sông Yamuna, đây đều là những vùng đồng bằng châu thổ lớn ở hai thủ đô của Việt Nam và Ấn Độ. Mục tiêu là chia sẻ và hưởng lợi từ tất cả các điểm ưu việt trong nền văn minh của mỗi quốc gia, trong mối liên kết từ văn hóa đến nông nghiệp.

Sinh viên Việt Nam có thể khám phá các cơ hội học đại học với giá cả phải chăng và chất lượng tương đương tiêu chuẩn giáo dục phương Tây tại các trường đại học Ấn Độ, các viện danh tiếng, hoặc đăng ký vào học các trường thiết kế, thời trang và các ngành kỹ thuật. Ngược lại, những người đầu tư mở trường của Ấn Độ có thể hợp tác để thiết lập các tổ chức giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam nơi tôn vinh những giá trị học tập truyền thống của Việt Nam.

Cuối cùng, cộng đồng gần 2500 người Ấn Độ sinh sống tại Việt Nam vẫn giữ mối quan hệ gia đình, văn hóa và kinh doanh chặt chẽ với người Ấn Độ trong nước, góp phần vào sự gia tăng thương mại, đầu tư và du lịch song phương. Chính họ đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố mối quan hệ ngoại giao nhân dân giữa hai nước chúng ta.

Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020 xác định ba lĩnh vực đột phá. Một là, thúc đẩy phát triển kỹ năng, đặc biệt là cho công nghiệp hiện đại và đổi mới. Hai là, cải thiện thể chế thị trường. Ba là, phát triển cơ sở hạ tầng hơn nữa. Tất cả các lĩnh vực này đòi hỏi chuyên môn chuyên sâu và tri thức cao. Cần có sự hợp tác giữa Ấn Độ và Việt Nam về mặt chuyên môn để đưa ra các giải pháp thay thế, cũng như những mô hình mới để giải quyết một số thách thức mới trong phát triển kinh tế. Cần phải tăng cường quan hệ đối tác chiến lược để làm cho mối quan hệ này thực sự toàn diện, trên mọi mặt kinh tế, khoa học & công nghệ, và văn hóa & du lịch.

Tôi muốn kết thúc bài viết của mình với lời kêu gọi đậm chất châu Á của người Cha già dân tộc Ấn Độ, Mahatma Gandhi, trong Hội nghị quan hệ châu Á ở New Delhi vào tháng 4/1947. Người kêu gọi: “...thông điệp của phương Đông, thông điệp của châu Á, không nên lấy châu Âu làm trung tâm, không nên được nhìn qua lăng kính châu Âu... Nếu muốn gửi một thông điệp một lần nữa cho phương Tây, đó phải là một thông điệp của Tình Yêu, đó phải là một thông điệp của Sự thật”.

 
Ajaneesh Kumar
Phó Tổng Giám đốc, Hội đồng các vấn đề thế giới, New Delhi, Ấn Độ

Bấm vào đây để đọc bản tiếng Anh của tham luận này/Click here to read the English version of this paper.

Bình luận của bạn