cis_banner_final_en.png
Hệ sinh thái khởi nghiệp của Ấn Độ: Động lực, thách thức và trụ cột hỗ trợ (Phần 3)

15/11/2019


Hệ sinh thái khởi nghiệp của Ấn Độ: Động lực, thách thức và trụ cột hỗ trợ (Phần 3)

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trân trọng giới thiệu báo cáo nghiên cứu “Hệ sinh thái khởi nghiệp của Ấn Độ: Động lực, thách thức và trụ cột hỗ trợ” (The Indian Công ty khởi nghiệp Ecosystem: Drivers, Challenges and Pillars of Support. Nghiên cứu này do TS Sabrina Korreck, nghiên cứu viên cao cấp, Quỹ Nghiên cứu các nhà quan sát (ORF) thực hiện. Báo cáo này do ORF xuất bản tháng 9/2019. Mã số tài liệu: ISBN: 978-93-89094-77-0. Đường liên kết đến tài liệu: https://www.orfonline.org/wp-content/uploads/2019/09/ORF_Occasional_Paper_210_Startups.pdf


4.3.2. Các yếu tố hỗ trợ khởi nghiệp
Khi các công ty khởi nghiệp cần sự hỗ trợ, thì sự hỗ trợ đó chủ yếu bao gồm cung cấp không gian văn phòng và cơ sở hạ tầng, tư vấn kinh doanh và cho phép gia nhập mạng lưới, hội nhóm, cũng như khả năng tiếp cận các quỹ.
 
Không gian văn phòng và cơ sở hạ tầng
Các công ty khởi nghiệp cần hỗ trợ không gian để đặt trụ sở làm việc. Không gian này bao gồm văn phòng, phòng họp cũng như các khu vực giải trí như quán ăn tự phục vụ hoặc phòng nghỉ giải lao. Thông thường, căn phòng làm việc như vậy có phòng chức năng, phù hợp để tổ chức các sự kiện lớn hơn. Các công ty khởi nghiệp còn cần thêm các phương tiện cơ bản như máy in, máy pha cà phê, kết nối Wi-Fi và dịch vụ lễ tân. Ngoài ra, đôi khi họ cần các trang thiết bị, phần cứng và phần mềm để có thể tạo ra sản phẩm. Hơn nữa, một số tổ chức hỗ trợ cũng cho phép các công ty khởi nghiệp được dùng phòng thí nghiệm, nơi có các thiết bị kỹ thuật như máy in 3D, thiết bị kết nối Internet vạn vật, laser và tai nghe thực tế ảo.
 
Các vườn ươm do công chúng lập ra thường cho nhiều công ty khởi nghiệp thuê mặt bằng, và thường hỗ trợ chi phí cho thuê trong giai đoạn đầu. Một lợi thế đặc biệt của nhiều cơ sở vườn ươm trong các trường đại học là họ được quyền sử dụng phòng thí nghiệm và cơ sở vật chất trong khuôn viên trường. Trong những năm gần đây, Chính phủ Ấn Độ đã cung cấp thêm kinh phí cho các phòng thí nghiệm, thử nghiệm khởi nghiệp. Các vườn ươm và công ty hỗ trợ tăng tốc của tư nhâncó thể không cung cấp nơi làm việc cho các công ty khởi nghiệp, mà họ thường thuê văn phòng trong một không gian làm việc chung, như chuỗi WeWork nổi tiếng. Hơn nữa, một số vườn ươm cũng cung cấp dịch vụ hỗ trợ từ xa cho các nhóm khởi nghiệp. Thông thường, các nhà đầu tư không cung cấp không gian văn phòng cho các công ty trong danh mục đầu tư của họ.
 
Vài năm trước đây, Ấn Độ rất thiếu không gian làm việc cho các công ty khởi nghiệp. Tuy nhiên, khi ngày càng có nhiều tổ chức vườn ươm ra đời, cũng như không gian làm việc chung được mở thêm theo thời gian, việc thiếu không gian làm việc dường như không còn là vấn đề lớn. Một nghiên cứu về các tổ chức tương tự ở châu Phi cảnh báo rằng mở rộng nhanh như vậy không nhất thiết có nghĩa rằng các công ty khởi nghiệp đang hoạt động thành công
[1]. Các công ty khởi nghiệp Ấn Độ không chỉ cần có không gian làm việc. Nhiều người được phỏng vấn cho biết, không gian làm việc chỉ là thứ yếu, vì các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp chú trọng hơn vào việc xây dựng một cộng đồng và kết nối đúng người. Điều này phù hợp với nghiên cứu trước đây cho thấy ngoài việc hỗ trợ một cách truyền thống, ví dụ như cung cấp không gian văn phòng, đã có sự chú ý ngày càng tăng trong việc cung cấp quyền tiếp cận vốn và các dịch vụ chuyên biệt để tăng thời gian tiếp thị của các công ty khởi nghiệp và đưa sản phẩm của công ty vào thị trường[2]. Do đó, việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khác là một điểm để phân biệt các công ty vườn ươm với công ty cho thuê không gian làm việc chung thông thường. Trên thực tế, một số công ty tự cho rằng họ làm dịch vụ vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc khởi nghiệp nhưng họ chỉ đơn giản là cung cấp chỗ ngồi làm việc chung, mà không hỗ trợ thêm gì khác đáng kể. 
 
Hỗ trợ Kinh doanh và Hòa giải
Các công ty khởi nghiệp (đặc biệt là các công ty trẻ) có thể có lỗ hổng kiến ​​thức hoặc thiếu kết nối cần thiết để xây dựng doanh nghiệp thành công. Do đó, các công ty khởi nghiệp có thể nhận được hỗ trợ nội bộ từ các nhân viên của công ty vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc, những người này đóng vai trò là các đầu mối liên hệ và họ có thể giúp đỡ giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tế và hỗ trợ ban đầu. Họ cũng tổ chức các hội thảo và tọa đàm; trong trường hợp công ty hỗ trợ tăng tốc thường chỉ ở dạng chương trình được tổ chức trong vài tháng. Khi các công ty khởi nghiệp làm việc cùng nhau, và cùng tham dự các khóa học, họ bắt đầu tương tác, chia sẻ kinh nghiệm và đưa ra phản hồi có giá trị cho nhau. Do đó, để tạo điều kiện cho việc học hỏi lẫn nhau, các vườn ươm và công ty hỗ trợ tăng tốc cần tích cực thúc đẩy văn hóa cởi mở và hợp tác. Khi nhóm nội bộ thiếu kiến ​​thức chuyên môn hoặc tài nguyên cần thiết cho các công ty khởi nghiệp, họ có thể tìm kiếm sự hỗ trợ thông qua việc được giới thiệu đến các doanh nhân hoặc chuyên gia trong ngành, những người có kinh nghiệm trong mạng lưới bên ngoài. Chẳng hạn, họ có thể được kết nối với các cố vấn, những người có thể tư vấn cho các công ty khởi nghiệp trong các phiên gặp gỡ trực tiếp, hoặc kết nối với các khách hàng và đối tác tiềm năng, và với những cho phép các công ty khởi nghiệp tiến hành thử nghiệm sản phẩm. Ngoài ra, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp có một nhóm các nhà cung cấp dịch vụ, có khả năng cung cấp tư vấn trong các lĩnh vực chức năng như nhân sự, tiếp thị, kế toán và các vấn đề pháp lý. Hơn nữa, các cơ sở vườn ươm và dịch vụ hỗ trợ tăng tốc tích cực xây dựng một cộng đồng thông qua việc tổ chức các sự kiện, chẳng hạn như các cuộc gặp gỡ không chính thức, các cuộc nói chuyện của các chuyên gia công nghệ hoặc các chuyến thăm xúc tiến quảng bá, các hội nghị hoặc hệ sinh thái khởi nghiệp quốc tế. Đôi khi, họ cũng tổ chức tiếp xúc giữa các cộng đồng ngoại tuyến để thúc đẩy kết nối hơn nữa.
 
Tất cả các loại công ty vườn ươm và dịch vụ hỗ trợ tăng tốc đều nhằm mục đích cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và kết nối các công ty khởi nghiệp, nhưng mỗi công ty tập trung vào lĩnh vực khác nhau. Ví dụ, các công ty vườn ươm đặt tại trường đại học có lợi thế trong việc giúp đỡ các công ty khởi nghiệp tuyển dụng nhân sự, vì họ có thể thu hút sinh viên từ trong trường tới làm thực tập sinh. Năng lực cốt lõi mà các công ty dịch vụ hỗ trợ tăng tốc có thể cung cấp cho các công ty khởi nghiệp là thu hẹp khoảng cách xâm nhập thị trường thông qua chiến lược phân phối và kết nối công ty khởi nghiệp với dữ liệu về khách hàng để nhận phản hồi từ khách hàng. Các vườn ươm độc lập và tư nhân thường nhấn mạnh giá trị của một cộng đồng và họ chú trọng kết nối các công ty khởi nghiệp với các cố vấn có kinh nghiệm trong mạng lưới mối quan hệ. Vì nhiều nhà đầu tư thiên thần đang nắm giữ, hoặc trước đây giữ vai trò lãnh đạo cấp cao trong các lĩnh vực kinh doanh truyền thống, họ có thể hỗ trợ các công ty khởi nghiệp bằng những kiến thức chuyên sâu về thị trường.

Khi người nghiên yêu cầu người được phỏng vấn đánh giá về những dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và hòa giải, một bức tranh tổng hợp của gam sáng và tối đã được phác họa. Nhiều công ty khởi nghiệp nhận xét rằng, có nhiều cố vấn tốt và môi trường hỗ trợ, học hỏi lẫn nhau là rất hữu ích. Tuy nhiên, một số nhà sáng lập nói rằng, họ không cần nhiều ý kiến cố vấn mà cần được hỗ trợ kinh doanh nhiều hơn nữa. Một số nhà sáng lập đã nhận được sự hỗ trợ và ủng hộ mạnh mẽ từ việc trao đổi với các đồng nghiệp. Những người khác mô tả rằng, có rất ít trao đổi giữa các công ty khởi nghiệp, hiếm khi có những cuộc trò chuyện trung thực và ít sự đồng cảm. Trên thực tế, điều quan trọng hơn cả việc hỗ trợ kinh doanh là các công ty khởi nghiệp có một mạng lưới mạnh mẽ và có thể tạo kết nối với đúng người tại địa phương và trên thị trường. Nhiều số liệu cho thấy các công ty vườn ươm ở các trường đại học thường được điều hành bởi các học giả, những người này thiếu kinh nghiệm kinh doanh thực tế và do đó, không thể tạo điều kiện kết nối với những người quan trọng trên thị trường. Trong khi các nhà đầu tư thiên thần khá thụ động trong việc đưa ra lời tư vấn kinh doanh, họ có thể giúp đỡ nhiều hơn trong việc kết nối các công ty khởi nghiệp với những người quan trọng trên thị trường. Hiện nay thế hệ khởi nghiệp đầu tiên của Ấn Độ đã gặt hái thành công, hy vọng rằng sẽ họ tiếp tục hỗ trợ thế hệ doanh nhân tiếp theo. Mặc dù chất lượng hỗ trợ kinh doanh cũng như sức mạnh của mạng lưới của mỗi công ty là khác nhau, cả hai yếu tố này đều quyết định liệu một tổ chức hỗ trợ hoặc nhà đầu tư có thể hoạt động như một chất xúc tác cho sự thay đổi thực sự hay không.
 
Tài trợ và hỗ trợ gây quỹ
Cuối cùng, các công ty khởi nghiệp cần tiền cho hoạt động của họ. Một số công ty khởi nghiệp tự duy trì thông qua doanh thu họ tạo ra. Một số khác huy động vốn bên ngoài, đặc biệt nếu họ có kế hoạch mở rộng quy mô.

Các công ty vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc thường không cấp vốn hoặc cấp rất ít vốn cho các công ty khởi nghiệp. Thay vào đó, họ thường tư vấn cho các công ty khởi nghiệp sẵn sàng tìm nguồn tiền đầu tư bằng cách hướng dẫn các công ty khởi nghiệp thuyết trình kêu gọi vốn (pitching) và đưa ra nhận xét phản hồi cho những lần thuyết trình. Ngoài ra, họ thường hợp tác với một nhóm các nhà đầu tư và có thể giới thiệu nhà đầu tư phù hợp cho từng công ty khởi nghiệp. Đặc biệt, các chương trình tăng tốc thường kết thúc bằng một ngày thử nghiệm, tạo cơ hội cho các công ty khởi nghiệp thuyết trình trước một đối tượng đa dạng, bao gồm các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp. Nếu các nhà quản lý doanh nghiệp nhìn thấy tiềm năng trong các công ty khởi nghiệp, có khả năng họ sẽ thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai bên theo dạng bên bán - bên mua, hoặc tham gia vào mô hình chia sẻ doanh thu. Mặc dù bản thân chương trình không phải là nơi để kêu gọi đầu tư vào các công ty khởi nghiệp, nhưng các công ty vườn ươm và tăng tốc giữ liên lạc thường xuyên với các quỹ đầu tư mạo hiểm có khả năng bỏ vốn đầu tư vào giai đoạn sau
[3]. Một số công ty vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc độc lập của tư nhân có các gói tài trợ hoặc họ giới thiệu những nhà đầu tư sẵn sàng cấp vốn mà họ biết. Một trong những lợi thế của họ là những người cố vấn hiểu rõ về các công ty khởi nghiệp, điều này giúp họ đưa ra quyết định đầu tư sáng suốt. Cuối cùng, phần lớn số vốn đáng kể đến từ các nhà đầu tư thiên thần và đầu tư mạo hiểm.  
 
Khi được hỏi về những dòng tiền vốn từ bên ngoài đầu tư vào các công ty khởi nghiệp, những người trả lời phỏng vấn đã đưa ra một bức tranh rất đa dạng. Đại diện của các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và mạng lưới nhà đầu tư thiên thần tham gia trả lời cho nghiên cứu này đã cho biết, hiện có nhiều dòng vốn trong những năm gần đây. Điều này phù hợp với những phát hiện mới từ một báo cáo gần đây
[4], cung cấp dữ liệu về sự tăng trưởng trong năm năm gần đây của các thành phố khởi nghiệp trên toàn thế giới. Theo báo cáo đó, có năm thành phố của Ấn Độ nằm trong tốp mười thành phố có tốc độ tăng trưởng cao nhất về giao dịch đầu tư mạo hiểm. Delhi, Bangalore và Mumbai đã có số lượng giao dịch giữa các doanh nghiệp cao nhất trong giai đoạn 2010 - 2012, nhưng sau đó đã có sự tăng trưởng còn mạnh mẽ hơn. Số lượng giao dịch đầu tư mạo hiểm ở Delhi đã tăng lên 407%, từ 168 lên 851. Tại Bangalore, số lượng giao dịch giữa các doanh nghiệp tăng 306%, từ 195 lên 792. Tại Mumbai, con số này tăng lên 288%, từ 133 đến 516 giao dịch. Nhìn chung, các công ty khởi nghiệp Ấn Độ đã huy động được 11 tỷ USD tiền vốn tài trợ trong năm 2018[5]. Vì vậy, có vẻ như việc huy động vốn thực sự đã trở nên dễ dàng hơn nhiều đối với các công ty khởi nghiệp. Tuy nhiên, các công ty khởi nghiệp được phỏng vấn cho biết, phần lớn họ phải tự thân vận động và không có đủ nguồn lực, họ phải nỗ lực hết sức để có được tiền, cho dù họ có ý tưởng tốt được biết đến rộng rãi và giành được một số thị trường. Những người trả lời phỏng vấn cho biết, con số công ty khởi nghiệp thực sự nhận được tài trợ là rất thấp.
 
Bảng 2: Các thành phố hàng đầu toàn cầu về tăng trưởng trong đầu tư mạo hiểm trong vòng 5 năm
TT Thành phố Số giao dịch giai đoạn 2010-2012 Số giao dịch giai đoạn 2015-2017 Số thay đổi %
1 Bangkok, Thái Lan 9 65 622%
2 Ahmedabad, Ấn Độ 7 49 600%
3 Jakarta, Indonesia 24 161 571%
4 Delhi, Ấn Độ 168 851 407%
5 Bangalore, Ấn Độ 195 792 306%
6 Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam 8 32 300%
7 Mumbai, Ấn Độ 133 516 288%
8 Kolkata, Ấn Độ 8 31 288%
9 Dubai, Tiểu vương quốc A rập Thống nhất 23 86 274%
10 Kuala Lumpur, Malaysia 28 103 268%
11 Pune, Ấn Độ 26 91 250%
30 Hyderabad, Ấn Độ 40 104 160%
40 Chennai, Ấn Độ 42 101 140%
Nguồn: Florida, Hathaway (2018)
 
Đương nhiên, huy động vốn là một quá trình cạnh tranh cao và không phải mọi công ty khởi nghiệp đều được coi là có triển vọng. Tuy nhiên, sự khác biệt lớn trong ý kiến trả lời phỏng vấn cho thấy, cần có nghiên cứu kỹ hơn về các tiêu chí lựa chọn. Có một số điều có thể quan sát thấy rõ ràng. Đó là, đầu tiên, sau một đợt bùng nổ tài trợ ban đầu, một số nhà đầu tư tư nhân đã “đốt tiền” và nhận được bài học về làm việc gì thì có hiệu quả, việc gì không hiệu quả. Sau đó, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện cách tiếp cận thận trọng hơn và chỉ tài trợ cho các công ty khởi nghiệp trưởng thành hơn, đã có MVP (minimum viable product - sản phẩm khả thi tối thiểu) và có bằng chứng cho thấy công ty khởi nghiệp đó có lực kéo trên thị trường. So với năm 2017, số tiền tài trợ cho giai đoạn hạt giống năm 2018 giảm 40%
[6]. Do đó, việc huy động vốn ở giai đoạn mới hoạt động là không dễ dàng đối với các công ty khởi nghiệp Ấn Độ. Trở ngại lớn nhất mà các công ty khởi nghiệp phải đối diện, đó là việc khan hiếm những nhà đầu tư thiên thần, những người có thể cấp vốn ban đầu từ 5 triệu đến 10 triệu rupee để các công ty khởi nghiệp xây dựng mô hình chạy sản phẩm mẫu và chạy thử nghiệm sớm với những khách hàng thực sự[7]. Thứ hai, vì nhà đầu tư có ít thông tin, nên họ chỉ đầu tư mạnh vào người họ biết. Do đó, tiền được đầu tư dựa trên cơ chế lòng tin, điều này rõ ràng ngụ ý rằng, các nhà đầu tư tài trợ cho những người trong mạng lưới mối quan hệ, quen biết sẵn có, và dựa trên sự tương đồng chứ không phải sự đa dạng. Những người sáng lập, đến từ các gia đình kinh doanh lớn, tốt nghiệp những trường có uy tín, có tên công ty lớn trong sơ yếu lý lịch của họ, được coi là những người có khả năng hơn. Nhận định này có thể đúng một phần, vì đã có những ví dụ cụ thể để xác thực điều đó. Nhưng nó cũng bị coi là quá lý tưởng hóa giới tinh hoa, khiến cho những người khác có ý tưởng tốt nhưng thuộc tầng lớp có ít đặc quyền hơn phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc gây quỹ. Cụ thể, các doanh nhân nữ thường phải đấu tranh với các khuôn mẫu định kiến và phải đối mặt với sự thiên vị nam giới trong chu kỳ cạnh tranh vốn đầu tư[8]. Thứ ba, tiêu chí lựa chọn chủ yếu nhằm vào các công ty công nghệ, vì những công ty này hứa hẹn sẽ mở rộng nhanh chóng và phục vụ thị trường hàng triệu khách hàng.
 
Các nhà đầu tư mang lại một cảm nhận rõ ràng, đó là, họ chủ yếu tài trợ cho các công ty khởi nghiệp có khả năng thoát vốn thành công (exit) trong vòng vài năm với số tiền đầu tư ban đầu nhiều lần. Ít nhà đầu tư có định hướng dài hạn hơn và sẵn sàng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R & D) các công ty khởi nghiệp. Hơn nữa, mặc dù nhiều công ty khởi nghiệp hiện đang tham gia vào thị trường tiêu dùng, hệ sinh thái được mô tả là vẫn ít thuận lợi hơn cho các công ty khởi nghiệp phát triển phần cứng hoặc các sản phẩm hữu hình khác. Điều này tạo ra ấn tượng rằng ở Ấn Độ, nhiều người đặt rất nhiều kỳ vọng vào giỏ công nghệ. Hơn nữa, có nhiều ý kiến đánh giá rằng, nhà đầu tư thường đuổi theo xu hướng đầu tư vào các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ tiên tiến, mặc dù có rất ít trường hợp các công ty như vậy có hiệu quả, và việc này không góp phần thiết thực để giải quyết những vấn đề cấp bách hơn của Ấn Độ.
 
5.  Kết luận
Thị trường Ấn Độ mang đến nhiều cơ hội cho các công ty khởi nghiệp và ngược lại, các công ty khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng và tạo việc làm. Trong hai thập kỷ qua, nhiều công ty khởi nghiệp đã xuất hiện ở Ấn Độ và hệ sinh thái liên quan đã phát triển năng động. Kết quả là, các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đã gia tăng trong nhiều khía cạnh: không gian văn phòng và cơ sở hạ tầng, hỗ trợ kinh doanh qua dịch vụ cố vấn và kết nối mạng lưới mối quan hệ, cũng như sự sẵn sàng đầu tư của giới tài chính. Có sự lạc quan rõ rệt rằng, hệ sinh thái này sẽ tiếp tục trưởng thành. Tuy nhiên, các công ty khởi nghiệp Ấn Độ phải đối mặt với những thách thức đáng kể. Việc vượt qua những rào cản đòi hỏi nỗ lực của tất cả các bên liên quan, bao gồm các nhân tố trong hệ sinh thái, cơ quan chính phủ, cũng như chính bản thân các công ty khởi nghiệp. Ngoài ra, cần có những thay đổi trong môi trường văn hóa để khuyến khích doanh nhân chấp nhận rủi ro và có thể phát triển các giải pháp có tác động lớn.
 
Các công ty khởi nghiệp không tồn tại một mình mà là một phần của nền kinh tế rộng lớn hơn. Cải cách chính sách cải thiện điều kiện kinh tế chung cũng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và hạ tầng vật lý (ví dụ, kết nối internet, đường bộ và giao thông công cộng, năng lượng và điện), dự kiến ​​cũng sẽ mang lại lợi ích cho các công ty khởi nghiệp. Liên quan đến khung pháp lý, việc cải thiện phương thức thực hiện các chính sách khởi nghiệp hiện tại và loại bỏ sự thiếu hiệu quả trong bộ máy hành chính quan liêu được coi là rất quan trọng để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các công ty khởi nghiệp. Giảm các giấy tờ và tài liệu cần thiết, cải thiện quyền truy cập thông tin, thiết lập các quy trình vận hành được chuẩn hóa hơn và các tiêu chí rõ ràng (ví dụ: cách đặt giá thầu cho các gói thầu hoặc xin giấy phép của Chính phủ) sẽ giúp các công ty khởi nghiệp. Hơn nữa, bắt buộc phải đầu tư vào giáo dục để phát triển một nhóm các doanh nhân tài năng cho công ty khởi nghiệp. Đặc biệt, những người tham gia trả lời cho nghiên cứu này ủng hộ việc tích hợp các khóa học khởi nghiệp trong chương trình giảng dạy đại học, điều này sẽ giúp sinh viên chuẩn bị tốt hơn cho công việc của họ tại các công ty khởi nghiệp.
 
Mặc dù số lượng nhà đầu tư thiên thần và các quỹ đầu tư mạo hiểm vào các công ty khởi nghiệp Ấn Độ đã tăng lên rất nhiều trong những năm gần đây, hệ sinh thái này vẫn thiếu nhiều tài nguyên. Nhà đầu tư có xu hướng tài trợ cho các công ty khởi nghiệp đã hoạt động hiệu quả, vì vậy cần phải tìm nhiều tiền hơn để giúp những công ty non trẻ phát triển các nguyên mẫu và MVP (sản phẩm khả thi tối thiểu). Để thu hẹp khoảng cách từ ý tưởng sang bước cụ thể tiếp theo, các công ty khởi nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp hy vọng rằng các cơ quan Chính phủ có thể khuyến khích đầu tư thiên thần bằng nhiều cách, ví dụ, bãi bỏ thuế đầu tư thiên thần hoặc đưa ra các loại lợi ích thuế khác. Cách Chính phủ thiết lập một quỹ hạt giống và cấp các khoản tài trợ ban đầu cho các công ty khởi nghiệp được coi là sáng kiến hiệu quả. Ngoài ra, nghiên cứu và thực tiễn chỉ ra rằng, các công ty khởi nghiệp nên được các công ty lớn, đã thành lập lâu đời mua lại. Cần khuyến khích đẩy nhanh hơn nữa hiện tượng các doanh nhân thành công hỗ trợ các công ty khởi nghiệp trẻ có triển vọng. Đây là hiện tượng phổ biến trong các hệ sinh thái khởi nghiệp trưởng thành.
 
Song song với việc tăng vốn, các dịch vụ hỗ trợ liên quan đến không gian văn phòng và hỗ trợ kinh doanh cũng cần được quan tâm. Tuy nhiên, các nhân tố trong hệ sinh thái tập trung về mặt địa lý tại các thành phố đô thị lớn. Các công ty khởi nghiệp nằm ngoài đô thị lớn và không thể thay đổi địa điểm có thể khó thành công hơn. Dịch vụ hỗ trợ phải được vươn xa tới các công ty khởi nghiệp ở các thành phố cấp nhỏ hơn như 2, 3 và 4. Do những hạn chế về nguồn lực, Ấn Độ cần các giải pháp chi phí thấp và có tác động cao, và do đó, việc tập trung vào các công ty khởi nghiệp công nghệ có thể mở rộng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, không nên bỏ qua thực tế rằng, các giải pháp có giá trị cũng có thể đến từ các loại hình kinh doanh khác.
 
Các công ty khởi nghiệp dựa vào nghiên cứu thị trường và nghiên cứu khách hàng. Mặc dù doanh nhân khởi nghiệp học hỏi được kiến thức thị trường từ những người cố vấn, nhưng có lẽ họ ít có cơ hội trực tiếp nghiên cứu khách hàng để hiểu rõ hơn về nhu cầu của khách hàng. Đặc biệt, để khắc phục sự mất kết nối doanh nhân khởi nghiệp và khách hàng của công ty khởi nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt là ở vùng nông thôn Ấn Độ, công ty khởi nghiệp cần nghiên cứu thực địa nhiều hơn và tiếp xúc nhiều hơn với khách hàng tại nơi khách hàng sử dụng sản phẩm và dịch vụ của công ty khởi nghiệp. Liên quan đến những khó khăn trong việc tìm kiếm tài năng, các công ty khởi nghiệp có thể phải mở rộng mạng lưới tuyển dụng của họ và sẵn sàng đào tạo những nhân viên chưa từng có kinh nghiệm làm việc. Vì hầu hết các công ty khởi nghiệp không thể cạnh tranh với các công ty lớn về lương, họ thu hút nhân tài bằng các ưu đãi khác, chẳng hạn như cho người lao động cơ hội học tập. Ngoài ra, bồi dưỡng văn hóa làm việc tốt cũng có thể là cách tốt để thu hút và giữ chân nhân tài. Việc xóa bỏ văn hóa làm việc do nam giới thống trị cũng sẽ giúp thu hút phụ nữ có trình độ và thúc đẩy một môi trường toàn diện và sáng tạo hơn.
 
Ngoài các khía cạnh nêu trên, một yếu tố quan trọng khác là cần xây dựng văn hóa hỗ trợ tinh thần kinh doanh nói chung. Các công ty khởi nghiệp đã nhận được sự chú ý ngày càng tăng, các phương tiện truyền thông cũng như văn hóa đại chúng đã quảng bá cho những câu chuyện về những lần thoát vốn thành công, và vẽ lên mộng tưởng về “những anh hùng khởi nghiệp”. Do đó, trở thành một nhà sáng lập khởi nghiệp ngày nay được coi là “mốt thời thượng” và được xã hội trọng vọng. Tuy nhiên, nhiều người dám nghĩ dám làm vẫn không dám theo đuổi đam mê kinh doanh khởi nghiệp do ngăn cản từ gia đình và môi trường xã hội, và chịu áp lực phải tìm công việc và lối sống ổn định hơn. Thay cho lối suy nghĩ này, cần tạo ra văn hóa khuyến khích mọi người dám thực hiện ý tưởng của riêng họ, và tạo ra sản phẩm và dịch vụ chưa từng có. Sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro nên được đánh giá cao hơn, và thất bại được nhìn nhận với sự đánh giá ít tiêu cực hơn. Ngoài ra, vượt qua các rào cản định kiến là một bước cần thiết để tăng tính đa dạng, điều này sẽ giúp các ý tưởng lớn trong thời đại của chúng ta có được hệ sinh thái hỗ trợ cần có để mang lại cơ hội cho công ty khởi nghiệp
[9].
 
Nghiên cứu này đã thu thập rất nhiều quan điểm về tình trạng hiện tại của hệ sinh thái khởi nghiệp ở Ấn Độ. Nghiên cứu này tìm hiểu những cơ hội và thách thức đối với các công ty khởi nghiệp Ấn Độ, và chỉ ra những công việc cần thực hiện để tăng cường các trụ cột hỗ trợ cho các công ty khởi nghiệp.

Lời cảm ơn: Tác giả cảm ơn tất cả các đối tác tham gia trả lời phỏng vấn đã dành thời gian cho nghiên cứu này. Tác giả rất biết ơn về những ý kiến có giá trị cao từ Arun Mohan Sukumar, Gautam Chikermane, Niranjan Sahoo, cũng như của hai học giả bình duyệt ẩn danh.
 
PHỤ LỤC
Phương pháp luận
Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Nghiên cứu này tìm cách đưa ra một cái nhìn tổng quan toàn diện về tình hình hiện tại của hệ sinh thái khởi nghiệp Ấn Độ. Nghiên cứu này trả lời các câu hỏi sau đây:
Các động lực tăng trưởng chủ yếu và động cơ của các nhà sáng lập công ty khởi nghiệp Ấn Độ là gì? (Phần 3)
Những thách thức chủ yếu đối với các công ty khởi nghiệp Ấn Độ là gì? (Phần 4)
Hệ sinh thái khởi nghiệp đã phát triển như thế nào? Tìm kiếm những dịch vụ hỗ trợ ở đâu và những loại hình hỗ trợ nào hiện có trên thị trường để phục vụ các công ty khởi nghiệp? (Phần 5)
 
Để tìm bằng chứng cho việc trả lời những câu hỏi này, tác giả đã thiết kế nghiên cứu định tính và phỏng vấn các chuyên gia. Để đủ điều kiện là một chuyên gia, người được phỏng vấn phải có kinh nghiệm chuyên môn đáng kể trong hệ sinh thái khởi nghiệp Ấn Độ. Các cuộc phỏng vấn thu thập dữ liệu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2019. Tác giả đã đi đến Bangalore, Mumbai và Vùng thủ đô, nơi hầu hết các cuộc phỏng vấn diễn ra trong khuôn viên của các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Các cuộc gặp gỡ trực tiếp cho phép tác giả có cái nhìn tổng quát về không gian làm việc của các công ty khởi nghiệp cũng như không khí làm việc tại những công ty này. Nhìn chung, 39 người trả lời phỏng vấn đã chia sẻ thẳng thắn quan điểm của họ.
 
Các cuộc phỏng vấn được cấu trúc bán phần, tức là dựa trên một danh sách các câu hỏi để hướng dẫn mà người trả lời chia sẻ ý kiến của họ. Do đó, các cuộc phỏng vấn là các cuộc đối thoại có hướng dẫn, cho phép người được phỏng vấn có cơ hội trả lời cởi mở và cũng đưa ra các khía cạnh mới mà các nhà nghiên cứu chưa hình dung ra trước khi phỏng vấn. Sau mỗi cuộc phỏng vấn, các câu hỏi hướng dẫn đã được xem xét lại và điều chỉnh nếu cần thiết. Việc thu thập dữ liệu kết thúc, khi đã đủ dữ liệu để làm rõ những điểm theo lý thuyết
[10], và không có thông tin hay vấn đề gì mới phát sinh. Sau các cuộc phỏng vấn, các bản ghi nhớ được tổng hợp để phân tích sâu, tìm ra bức tranh tổng thể về những phát triển trong hệ sinh thái khởi nghiệp Ấn Độ.
 
Ngoài các cuộc phỏng vấn, một bản đánh giá tổng quan tài liệu đã được thực hiện. Mục đích là để xác định các tài liệu, cũng như dữ liệu liên quan đến chủ đề nghiên cứu này. Tổng quan tài liệu cung cấp thông tin cơ bản, sâu sắc về các khía cạnh và vấn đề nảy sinh trong quá trình phỏng vấn. Những tài liệu này vô cùng hữu ích để củng cố ý nghĩa và tính đúng đắn của những phát hiện mới của nghiên cứu.
 
Mô tả mẫu
Để tăng cường tính đúng đắn của những phát hiện mới, tác giả đã tổng hợp rất nhiều ý kiến. Tác giả đã lựa chọn một nhóm các chuyên gia đa dạng để tiến hành phỏng vấn. Phần lớn những người tham gia trả lời phỏng vấn là nhà sáng lập công ty khởi nghiệp hoặc quản lý cấp cao của các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Bản thân các tổ chức hỗ trợ cũng rất đa dạng và mẫu bao gồm các công ty vườn ươm tạo và dịch vụ hỗ trợ tăng tốc độc lập, một số tổ chức và nền tảng riêng để hỗ trợ các doanh nhân nữ. Trong số này còn có một giáo sư trường kinh doanh, dạy về đổi mới sáng tạo, cũng như đại diện từ các hiệp hội ngành nghề, quỹ đầu tư mạo hiểm, mạng lưới nhà đầu tư thiên thần, cũng như một sáng kiến của Chính phủ các tỉnh ở Ấn Độ để thúc đẩy các công ty khởi nghiệp.
 
Xét về giới tính, 14 trong số 39 người được hỏi (35,9%) là phụ nữ. Ngoài ra, một người sáng lập công ty khởi nghiệp hoạt động tại Ấn Độ không phải người có quốc tịch Ấn Độ, cũng tham gia với tư cách là người trả lời trong nghiên cứu này. Gần một nửa số cuộc phỏng vấn, 13 trong số 27, được tiến hành ở Bangalore, 9 ở Mumbai và 5 ở Vùng thủ đô quốc gia (NCR). Bảng 3 cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện về các loại tổ chức và chuyên gia được phỏng vấn cho nghiên cứu này.
 
Các công ty khởi nghiệp và những người sáng lập tham gia vào nghiên cứu này hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, như có thể thấy trong bảng 3. Trọng tâm ban đầu của nghiên cứu này là tìm hiểu các công ty khởi nghiệp định hướng công nghệ, nhưng tác giả đã có cơ hội phỏng vấn một vài dự án phi công nghệ trong quá trình nghiên cứu, qua đó cung cấp những hiểu biết có giá trị.
 
Bảng 3: Tổng quan về các đối tác trả lời phỏng vấn và các tổ chức đại diện
Phỏng vấn số Tổ chức Người trả lời
Loại Địa điểm Khu vực/Doanh nghiệp Vị trí Giới tính
1 Doanh nghiệp tư nhân: vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc khởi nghiệp, với mô hình kinh doanh kết hợp NCR Đa lĩnh vực Cộng sự Nam
Quản lý hoạt động Nữ
2 Công ty khởi nghiệp NCR Thanh toán qua điện thoại Quản lý sản xuất Nữ
3 Doanh nghiệp trẻ NCR Sức khỏe, dinh dưỡng Sáng lập viên Nam
4 Doanh nghiệp trẻ NCR Dịch vụ tư vấn Cộng sự Nam
5 Mạng lưới nhà đầu tư thiên thần Mumbai Đa lĩnh vực Quản lý quan hệ nhà đầu tư Nam
6 Doanh nghiệp vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc Mumbai Viễn thông, truyền thông và giải trí, công nghệ tài chính, bán lẻ, v.v... CEO Nam
7 Cơ sở học thuật vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc Mumbai Đa lĩnh vực Tư vấn tiếp thị Nam
Quản lý cấp cao Nam
8 Mạng lưới nhà đầu tư thiên thần Mumbai Đa lĩnh vực Thư ký phó tổng giám đốc Nam
9 Công ty khởi nghiệp Mumbai Giáo dục Quản lý sản xuất Nữ
10 Công ty khởi nghiệp Mumbai Quản lý bệnh viện điện tử Sáng lập viên Nữ
11 Academic incubator Mumbai Công nghệ sạch, công nghệ tài chính, IoT, ICT, Công nghệ y tế, v.v... Quản lý tiếp cận thị trường Nữ
Quản lý hệ sinh thái kinh doanh Nữ
12 Industry association Mumbai Đa lĩnh vực Quản lý cấp vùng Nam
13 Doanh nghiệp trẻ Mumbai Vệ sinh phụ nữ Sáng lập viên Nữ
14 Nền tảng cho doanh nghiệp nữ Bangalore Đa lĩnh vực CEO Nữ
15 Đa tổ chức Bangalore IT Cộng sự và tư vấn cho các quỹ và
Công ty khởi nghiệp
Nam
16 Sáng kiến của Chính quyền tỉnh Bangalore IT, Công nghệ sinh học Trưởng chương trình Nam
17 Các công ty vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc khởi nghiệp Bangalore Đa lĩnh vực Chủ tịch Nam
18 công ty vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc khởi nghiệp Bangalore Máy tính đám mây, IoT, dữ liệu lớn, AI, v.v... Lãnh đạo Nam
Quản lý cấp cao Nữ
19 Trường đào tạo kinh doanh Bangalore Sáng tạo Giáo sư Nam
20 Công ty khởi nghiệp Bangalore Nền tảng công nghệ tài chính Tư vấn luật Nam
Sáng lập viên Nam
21 Công ty khởi nghiệp Bangalore Phần cứng dành cho khách hàng Sáng lập viên Nam
22 Công ty khởi nghiệp Bangalore Ứng dụng tạo mạng lưới Sáng lập viên Nữ
23 Công ty vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc khởi nghiệp do hội nghề nghiệp cấp vốn và ươm tạo Bangalore Các ứng dụng điện thoại Phó Chủ tịch Nữ
Phó Chủ tịch Nữ
Di động Sáng lập viên Nam
Ứng dụng thực phẩm Sáng lập viên Nam
Nguồn đám đông Sáng lập viên Nam
Ứng dụng điện thoại Sáng lập viên Nam
24 Công ty khởi nghiệp Bangalore Giáo dục Phó Chủ tịch Nữ
Sáng lập viên Nam
25 Công ty khởi nghiệp Bangalore Trò chơi trên điện thoại di động Sáng lập viên Nam
26 Công ty khởi nghiệp Bangalore Nền tảng công nghệ quản trị nhân sự Sáng lập viên Nữ
27 Các công ty vườn ươm và hỗ trợ tăng tốc khởi nghiệp do tư nhân đầu tư với mô hình kinh doanh lai NCR Đa lĩnh vực Đối tác Nam
Nhà phân tích Nam
 

[1] Nicholas Friederici, “Hope and Hype in Africa’s Digital Economy: The Rise of Innovation Hubs,” in Digital Economies at Global Margins, edited by Mark Graham (Cambridge, MA: MIT Press, 2019), 193 – 221.
[2] Rosa Grimaldi and Alessandro Grandi, “Business Incubators and New Venture Creation: An Assessment of Incubating Models,” Technovation 25 (2015): 111-121.
[3] Sabrina Korreck, “Speedboating Into the Future - How Organizations Use Open Foresight and Business Incubation as Strategic Means to Explore Trends and Promote Innovation” (Dissertation, University of Hamburg, 2018).
[4] Richard Florida and Ian Hathaway, “Rise of the Global Startup City: The New Map of Entrepreneurship and Venture Capital,” 2018.
[5] Inc42, “Indian Tech Startup Funding Report”, 2018.
[6] Inc42, “Indian Tech Startup Funding Report”, 2018.
[7] Ajit Balakrishnan, “Giving Wings to Startups,” Business Standard, 3/5/2019. https://www.business-standard.com/article/opinion/giving-wings-to-startups-119050300025_1.html.
[8] Sabrina Korreck, “Women Entrepreneurs in India: What is Holding Them Back?,” Observer Research Foundation Issue Brief, Forthcoming.
[9] Chamath Palihapitiya, “Bros Funding Bros: What’s Wrong with Venture Capital,” The Information, 6/10/2015, https://www.theinformation.com/articles/bros-funding-bros-whats-wrong-with-venture-capital.
[10] Barney Glaser and Anselm Strauss, The Discovery of Grounded Theory (London: Weidenfield & Nicolson, 1967), 1–19.

Đọc phần 1 của nghiên cứu này
Đọc phần 2 của nghiên cứu này

 

Bình luận của bạn