cis_banner_final_en.png
Bài toán Biển Đông và những thách thức trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ thứ 2 của Thủ tướng Ấn Độ Modi

15/11/2019


Bài toán Biển Đông và những thách thức trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ thứ 2 của Thủ tướng Ấn Độ Modi

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài phân tích, bình luận “Bài toán Biển Đông và những thách thức trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ thứ 2 của Thủ tướng Ấn Độ Modi”, của tác giả Ajay Kumar, nhà kinh tế học chuyên nghiên cứu về mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ. Bài viết này đã đăng trên tạp chí Kalinga Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, ngày 10/11/2019. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.


Bài toán Biển Đông
Biển Đông bao gồm hơn 250 hòn đảo nhỏ, đảo san hô, đảo, bãi cát, đá ngầm và bãi cát. Những thực thể địa lý này thuộc các quần đảo lớn, cụ thể là Trường Sa, Hoàng Sa, Natuna, Anambas, Bãi ngầm Macclesfield và Bãi cạn Scarborough. Khu vực này có chung biên giới với (theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc) Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore và Việt Nam.
 
Trong lịch sử, Trung Quốc, cùng với hầu hết các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cùng quan tâm đến việc bảo vệ hoặc giành lại chủ quyền đối với việc đánh bắt cá, thăm dò biển, khai thác dầu thô và khí tự nhiên dưới đáy biển ở nhiều khu vực khác nhau của Biển Đông, và kiểm soát chiến lược các tuyến vận chuyển quan trọng trên biển. Nhưng Trung Quốc đã bắt đầu tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông, khu vực này chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam.
 
Trung Quốc đã tranh giành quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (từ năm 1974), bãi ngầm Macclesfield, quần đảo Pratas và bãi cạn Scarborough (từ năm 2012) bằng vũ lực. Tại Quần đảo Trường Sa hiện nay, Việt Nam kiểm soát hai mươi chín thực thể địa lý, Trung Quốc kiểm soát tám, Philippines kiểm soát tám, Malaysia kiểm soát năm, Brunei kiểm soát hai và một do Đài Loan kiểm soát.
 
Tranh chấp và đối đầu tại Biển Đông đã trở nên trầm trọng kể từ năm 2013 khi Trung Quốc bắt đầu các hoạt động xây dựng đảo trong khu vực. Vào tháng 1/2013, Philippines đã chính thức nộp đơn lên Tòa án Trọng tài quốc tế để chống lại việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ trong phạm vi cái gọi là đường chín đoạn do Trung Quốc tự định ra, bao gồm Quần đảo Trường Sa. Việc này đã được xác định là bất hợp pháp theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Tòa án Trọng tài quốc tế được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS, và vào tháng 7/2013, Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) đã được quyết định sẽ hoạt động như cơ quan theo dõi và thực thi các nhiệm vụ hành chính trong quá trình tố tụng.
 
Vào ngày 12/7/2016, Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) đã ra phán quyết vô hiệu hóa các yêu sách của Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông và cái gọi là quyền lịch sử và đường chín đoạn. Tòa án PCA đã chỉ ra rằng Bắc Kinh không có quyền đối với một khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) trong phạm vi 200 hải lý của quần đảo Trường Sa. Phán quyết của Tòa PCA cũng cáo buộc Bắc Kinh đã phá hủy môi trường và sinh thái biển khi xây dựng các đảo nhân tạo và quân sự hóa những đảo này để phục vụ mưu đồ tuyên bố chủ quyền. Phán quyết của Tòa PCA chắc chắn là phần thắng cho thế giới hành xử theo luật lệ của Thế kỷ XXI, và phần thua thuộc về các kế hoạch hành xử theo kiểu Thế kỷ XIX của Trung Quốc. Trung Quốc đã phản đối và phớt lờ những phán quyết của Tòa.

Các kế hoạch đầy tham vọng của Trung Quốc được thể hiện qua việc Trung Quốc đã xây dựng ba sân bay mới vào năm 2016, là Sân bay Yongshu (trên đảo Đá Chữ Thập), Sân bay Zhubi (trên đảo Đá Subi) và Sân bay Meiji (trên đảo Đá Vành Khăn), đều là những vùng lãnh thổ đã có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông.
 
Hơn nữa, Trung Quốc đã đơn phương áp đặt ý chí của Trung Quốc trong quá trình tìm giải pháp xử lý những cuộc xung đột này. Những giải pháp đơn phương này không thể giúp giải quyết các thách thức an ninh trong khu vực, cũng như không đáp ứng nhu cầu chia sẻ tài nguyên hàng hải. Khả năng kinh tế và quân sự của Trung Quốc vẫn đang dẫn đầu tại châu Á. Vị trí ưu việt này giúp Trung Quốc thực hiện các động thái hung hăng trong khi Trung Quốc vẫn phát ngôn rằng, mọi quyết định phải thông qua trong đàm phán song phương với các bên cùng tuyên bố chủ quyền. Tất cả các quốc gia có lãnh thổ trên Biển Đông đều gặp bất lợi do thái độ hiếu chiến của Trung Quốc.
 
Trung Quốc đã đơn phương tuyên bố rằng đường chín đoạn, một khu vực rộng lớn, hình chữ U, là lãnh thổ của Trung Quốc trên Biển Đông. Khu vực này bao gồm các dải lớn của thềm lục địa Việt Nam, nơi Việt Nam đang hợp tác với Nga và Ấn Độ trong khai thác dầu khí. Ấn Độ đã yêu cầu gia hạn hợp đồng liên quan đến quyền thăm dò tại Khối 128, nằm trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Hợp đồng thăm dò cũ đã hết hạn vào tháng 6/2019. Việc Ấn Độ muốn gia hạn hợp đồng để đảm bảo các lợi ích về năng lượng của Việt Nam và Ấn Độ, và cũng là một tín hiệu cho Trung Quốc thấy rằng Ấn Độ sẽ không chịu khuất phục các chiến thuật bắt nạt của Trung Quốc, và Ấn Độ là một bên liên quan hợp pháp tại Biển Đông thông qua một quốc gia đối tác. Tuy nhiên, Trung Quốc gần đây đã đe dọa các sáng kiến ​​thăm dò chung của Nga, Ấn Độ và Việt Nam gần Bãi Tư Chính. Ấn Độ và Nga gần đây đã mở Tuyến hàng hải giữa Chennai và Vladivostok. Tuyến hàng hải mới đi qua Biển Đông. Do đó, Ấn Độ và Nga cộng tác ngày càng chặt chẽ với Việt Nam để góp phần nâng cao hiệu quả và an toàn của tuyến đường trên biển này.
 
Biển Đông: một trong những thách thức hàng hải Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương
Biển Đông nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Trên thực tế, Biển Đông là một vùng biển nhỏ ở Thái Bình Dương. Đối với Ấn Độ, Biển Đông là một phần trên lộ trình hàng hải Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Khu vực này trải rộng trên ba eo biển nổi bật với các vùng biển có tầm quan trọng lớn về địa kinh tế, địa chiến lược và địa chính trị. Đầu tiên là eo biển Đài Loan, ngăn cách đảo Đài Loan với Trung Quốc đại lục. Tuyến đường này rất quan trọng đối với dòng vận tải thương mại Ấn-Nga qua eo biển này. Thứ hai là eo biển Karimata ngăn cách quần đảo Sumatra và Borneo (Kalimanta) của Indonesia. Các tuyến này nằm trong phạm vi chịu tác động của chính sách mở rộng mối giao thương với các quốc gia láng giềng, vận tải hàng hóa trên biển giữa Ấn Độ và ASEAN. Thứ ba là Eo biển Malacca, kênh vận chuyển chính giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, và được cho là tuyến vận chuyển đường biển quan trọng nhất trên thế giới. Khu vực quanh eo biển Malacca cũng là một trong những tuyến đường vận chuyển đông đúc, nhộn nhịp nhất thế giới.
 
Hơn một nửa đội tàu buôn hàng năm của thế giới sử dụng tuyến đường này, và một phần ba trong số tất cả các chuyến tàu biển trên toàn thế giới đi qua các vùng biển này. Ước tính trị giá hơn 4,5 nghìn tỷ USD thương mại toàn cầu được vận chuyển qua Biển Đông hàng năm, chiếm một phần ba thương mại hàng hải toàn cầu. Hơn một nửa số dầu được vận chuyển bằng đường biển đi qua khu vực này. Lưu lượng này lớn gấp ba lần so với lượng dầu đi qua Kênh đào Suez và gấp mười lăm lần so với lượng dầu đi qua Kênh đào Panama. Biển Đông có trữ lượng cá biến rất lớn, rất quan trọng đối với an ninh lương thực của hàng triệu người ở Đông Nam Á. Dự trữ dầu khí khổng lồ được cho là nằm dưới đáy Biển Đông. Do đó, tuyến hàng hải quốc tế cực kỳ quan trọng và những vùng biển đảo trong khu vực Biển Đông không thể chỉ nằm dưới quyền kiểm soát chặt chẽ về mặt chủ quyền của một quốc gia, đặc biệt là một quốc gia có tư duy bành trướng.
 
Hơn 55% hàng hóa thương mại của Ấn Độ đi qua Biển Đông, vì vậy hòa bình và ổn định trong khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với Ấn Độ. Ấn Độ thực hiện các hoạt động khác nhau, bao gồm cả hợp tác trong lĩnh vực dầu khí, với các quốc gia trong vùng Biển Đông. Ấn Độ góp phần rất lớn trong dòng chảy thương mại liên tục trên Biển Đông, và cũng như trong việc duy trì sự di chuyển tự do của Hải quân của Ấn Độ trong những vùng biển này. Đối với Ấn Độ, Biển Đông rất quan trọng cho giao thương giữa Ấn Độ với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, và có ý nghĩa lớn trong khái niệm Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do, rộng mở và bao trùm. Như vậy, có một sự lo ngại rằng việc các lực lượng hàng hải Trung Quốc kiểm soát Biển Đông sẽ có tác động lan tỏa trên eo biển Malacca, một điểm chiến lược để xâm nhập vào sân sau của Ấn Độ ở Ấn Độ Dương.
 
Hầu hết những nhà bình luận về chủ đề này cho rằng, việc Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông đều xâm phạm lợi ích chính đáng của hầu hết các nước ASEAN. Các kỹ thuật chiếm đất của Trung Quốc bao gồm nhiều cách như đánh lén, xây đảo nhân tạo và sau đó là quân sự hóa v.v... đã đạt đến một tỷ lệ cao nguy hiểm, biến Biển Đông thành một điểm nóng có thể vượt khỏi tầm kiểm soát trong nay mai. Điều này sẽ tác động đến sự ổn định, an ninh, hòa bình và tự do hàng hải trên khắp các tuyến thương mại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
 
Chính sách Hành động phía Đông và con đường phía trước
Trong nhiệm kỳ thứ nhất của Thủ tướng Ấn Độ Modi, Ấn Độ đã thay đổi các mục tiêu chiến lược từ Chính sách Hướng Đông (LEP) sang Chính sách Hành động phía Đông (AEP). Quan hệ chiến lược của Ấn Độ với các nước trong khu vực, đặc biệt là với Malaysia, Indonesia, Singapore, Việt Nam và Philippines, đã trở nên mạnh mẽ hơn dưới thời thực hiện AEP của Thủ tướng Narendra Modi. Ấn Độ tăng cường các hoạt động với các quốc gia trong vùng Biển Đông, thông qua các cuộc tập trận và trao đổi tàu hải quân, quan hệ đối tác chiến lược, thăm dò dầu khí và thông qua các cuộc thảo luận ngoại giao tại các diễn đàn đa phương.
 
Theo AEP, Ấn Độ đã tăng cường tập trung vào chiến lược hàng hải ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Điều này đã được thể hiện rõ ràng nhất trong việc hợp tác chặt chẽ với các nước ASEAN. AEP của Ấn Độ cũng đã cho phép nước này suy nghĩ rộng hơn về thương mại hàng hải, kinh tế biển xanh, các yêu cầu mới với lực lượng hải quân, và năng lực nói chung, v.v... Ấn Độ có đường bờ biển dài với đội tàu hải quân nước sâu, chiếm 90% khối lượng, tương đương với 77% giá trị thương mại quốc tế. Tuyến hàng hải này là then chốt trong thương mại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Đối với Ấn Độ, ASEAN không chỉ là cửa ngõ ra vào Ấn Độ Dương mà là một trong những nhóm năng động nhất về kinh tế và chính trị.
 
Nhiệm kỳ thứ 2 của Thủ tướng Ấn Độ Modi trùng hợp với nhiều biến cố địa chính trị trên toàn cầu, và đặc biệt là ở châu Á - Thái Bình Dương. Những diễn biến mới này là do tác động hai chiều của chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương với quan niệm về sự “tự do và rộng mở” trong khu vực, chủ yếu do Mỹ và Ấn Độ khởi xướng, do tác động toàn cầu của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc, do sự gia tăng hành vi quân sự hóa của Trung Quốc, và việc Trung Quốc tăng cường hoạt động khảo sát trên biển đôi khi kéo dài đến tận Ấn Độ Dương. Gần đây, đã có báo cáo rằng Trung Quốc đã triển khai các tàu giám sát rất tinh vi ở vùng biển Andaman, rõ ràng là có ý định kiểm dò la hoạt động của hải quân Ấn Độ và tìm hiểu mức độ phát triển của bộ chỉ huy ba dịch vụ ở quần đảo Andaman và Nicobar (trong vùng vịnh Bengal). Việt Nam, một đối tác quan trọng trong chính sách Hành động phía Đông của Ấn Độ, đang phải đối mặt với hoạt động thăm dò của hải quân Trung Quốc. Đã đến lúc các quốc gia nên nghĩ cách áp dụng chiến lược tập thể và không theo đuổi cách trung lập và đơn phương, đặc biệt là trong các vấn đề Biển Đông. Các quốc gia ASEAN, dưới sự điều hành của Việt Nam trong vai trò chủ tịch khối ASEAN 2020, là một tập thể cho tất cả các quốc gia duyên hải vùng Biển Đông cần hợp tác với nhau.

 

Bình luận của bạn