cis_banner_final_en.png
Trung Quốc - Ấn Độ chia sẻ dữ liệu cảnh báo lũ sớm ở Brahmaputra: một số đánh giá phê phán

10/12/2019


Trung Quốc - Ấn Độ chia sẻ dữ liệu cảnh báo lũ sớm ở Brahmaputra: một số đánh giá phê phán

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu “Trung Quốc - Ấn Độ chia sẻ dữ liệu cảnh báo lũ sớm ở Brahmaputra: một số đánh giá phê phán”. Bài viết này của ba tác giả: TS Nilanjan Ghosh, Giám đốc Quỹ Các nhà quan sát Ấn Độ (ORF) tại Kolkata, TS Jayanta Bandyopadhyay, và trợ lý nghiên cứu Sayanangshu Modak. Nghiên cứu này do Quỹ ORF xuất bản tháng 12/2019. Đường dẫn đến tài liệu: https://www.orfonline.org/wp-content/uploads/2019/12/ORF_IssueBrief_328_India-China-Brahmaputra.pdf


Tóm tắt
Bài viết này đưa ra những nhận định về sự chia sẻ dữ liệu giữa Trung Quốc và Ấn Độ như được nêu trong Bản ghi nhớ chia sẻ thông tin thủy văn của hệ thống sông Brahmaputra, nhằm tạo điều kiện cho việc cảnh báo lũ lụt trong mùa mưa ở Ấn Độ. Sử dụng dữ liệu khí tượng thủy văn, bài viết này xác định những hạn chế của dự án chia sẻ dữ liệu, trong đó hạn chế rõ nhất là lựa chọn sai vị trí các trạm đo ở thượng nguồn sông Brahmaputra (còn gọi là sông Yarlung Tsangpo ở cao nguyên Tây Tạng), do những trạm này đóng góp rất ít vào tổng khối lượng dòng chảy của sông Brahmaputra ở Ấn Độ trong mùa mưa. Từ những phân tích này, bài viết đánh giá lại vấn đề liệu có phải những can thiệp ở thượng nguồn trong lưu vực phía Bắc của dãy núi Himalaya có thể có tác động tiêu cực đến các quốc gia hạ nguồn là Ấn Độ và Bangladesh. Bài viết đề xuất xây dựng một hệ thống cảnh báo tiên tiến toàn diện hơn, sử dụng dữ liệu từ các trạm đo ở các khu vực có lượng mưa lớn hơn ở phía Nam của dãy núi Himalaya đến biên giới Trung Quốc-Ấn Độ, và vùng hạ lưu Mêdog.

Giới thiệu
Những sự kiện gần đây đã làm nảy sinh nhận thức về sự can thiệp của Trung Quốc vào Brahmaputra, một trong những hệ thống sông lớn của Ấn Độ, chảy qua Ấn Độ, Bangladesh và Trung Quốc. Những sự kiện này bao gồm: việc đưa vào vận hành dự án thủy điện Zangmu trên sông Yarlung Tsangpo (một nhánh của sông Brahmaputra ở Tây Tạng) ở hạ lưu Yangcun, Tây Tạng năm 2014; kế hoạch của Trung Quốc nhằm xây dựng một đường hầm dài 1.000 km để chuyển hướng dòng chảy của dòng sông
[1]; và việc Trung Quốc xả chất làm đen nước sông Siang ở Arunachal Pradesh, Ấn Độ, vào năm 2017[2]. Trung Quốc đang dần bị coi là một bá chủ thủy điện thượng nguồn với nhiều kế hoạch can thiệp lớn đối với sông Yarlung, là một nhánh rất quan trọng của sông Brahmaputra. (Hệ thống sông Brahmaputra gồm tổng hợp các dòng chảy của ba nhánh sông Luhit, Dibang và Siang - hay còn gọi là Yarlung ở hạ lưu thị trấn Sadiya thuộc tỉnh Assam, Ấn Độ.)[3][4] Những can thiệp này của Trung Quốc dự kiến sẽ có tác động tiêu cực đến vùng hạ lưu ở Ấn Độ và Bangladesh[5].

Nhiều nhà phân tích đã cảnh báo sẽ xảy ra một cuộc chiến tranh về nước giữa Ấn Độ và Trung Quốc
[6][7]. Có hai lý do dẫn đến nhận định như vậy. Thứ nhất, việc Trung Quốc nắn dòng cho sông Yarlung Tsangpo chảy theo hướng từ Nam lên Bắc sẽ có thể làm cho nước không chảy vào hệ thống sông Brahmaputra nữa. Thứ hai, Trung Quốc đã tỏ thái độ không ký bất kỳ thỏa thuận ràng buộc nào với các quốc gia hạ nguồn trên các con sông xuyên quốc gia. Các nhà phân tích nhấn mạnh rằng chủ quyền tuyệt đối[8][9] về nguồn nước đã áp đảo các thỏa thuận chính trị về các con sông chảy qua nhiều quốc gia[10].

Nhiều học giả khác đã đưa ra lập luận khác, họ quan sát thấy rằng, mức độ mưa ở phía bắc của dãy núi Himalaya ở khu vực Trung Quốc (cao nguyên Tây Tạng) là không đáng kể, dẫn đến dòng chảy tương đối thấp ở vùng thượng lưu của hệ thống sông Brahmaputra
[11]. Do đó, việc chuyển hướng dòng chảy tại khu vực đó có ít tác động đến dòng chảy của sông Yarlung, một nhánh của Brahmaputra, do đó không thể biến Brahmaputra thành một dòng sông khô. Do đó, ý tưởng chuyển hướng để dòng chảy bắt đầu từ sông Yarlung Tsangpo trở nên vô ích. Hơn nữa, Chính phủ Trung Quốc đang ngày càng nhận thức được sự thật là việc nắn dòng chảy không phải là giải pháp cho tình trạng khan hiếm nước[12]. Chính sách đối ngoại mới của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhằm mang lại hình ảnh về sự thân thiện, an ninh và thịnh vượng chung cho các quốc gia láng giềng của Trung Quốc trở nên hết sức quan trọng cho việc Trung Quốc giữ gìn hòa bình và tiếp tục tăng trưởng kinh tế. Trong hoàn cảnh như vậy, Kế hoạch phân chia triệt để các nguồn nước lớn vùng phía Tây Trung Quốc (Grand Western Water Diversion Plan - GWWDP)[13][14] thậm chí còn khó có thể thành hiện thực vì nó mâu thuẫn trực tiếp với vai trò mà Trung Quốc đã tuyên bố trong khu vực[15].

Là điều kiện tiên quyết để tham gia với các quốc gia khác, Trung Quốc nhấn mạnh rằng, các vấn đề còn tồn tại phải được giải quyết, và các quốc gia cần hợp tác trong xử lý những vấn đề chung đối với các dòng sông chảy qua Trung Quốc và nhiều quốc gia khác. Trung Quốc nhấn mạnh các vấn đề này cần được giải quyết thông qua các cam kết song phương, và coi đây là điều kiện tiên quyết để hợp tác với các quốc gia khác. Trước đây, đã có tiền lệ về một số cam kết song phương giữa Trung Quốc với các nước láng giềng như Kazakhstan và Nga
[16]. Mặc dù Trung Quốc chưa có chính sách cụ thể về những dòng sông xuyên biên giới, nhưng họ coi vấn đề liên quan đến các dòng sông như là một hợp phần của mối quan hệ với các quốc gia chung dòng sông. Phát triển hợp tác song phương là phương thức hữu ích để tăng cường mối quan hệ với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy Trung Quốc tuân thủ các chuẩn mực hành vi theo thông lệ quốc tế[17].

Về phía Ấn Độ, đã có Bản ghi nhớ (MoU), được ký lần đầu tiên vào năm 2002, về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy trên sông Yarlung Tsangpo (phụ lưu của hệ thống sông Brahmaputra chảy từ Trung Quốc sang Ấn Độ). MoU nhằm mục đích cảnh báo sớm về lũ lụt ở sông Brahmaputra trong mùa mưa. Việc cảnh báo sớm ở khu vực này là vô cùng quan trọng vì lũ lụt trên sông Brahmaputra gây ra nhiều thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản ở Assam, Ấn Độ
[18]. MoU đã được hiện thực hóa từ năm 2008 đến 2012; sau đó vào năm 2013, một MoU tiếp theo đã được ký kết để mở rộng việc trao đổi dữ liệu dòng chảy của sông Yarlung Tsangpo trong mùa lũ[19]. MoU lại được gia hạn vào tháng 6/2018 với một điều khoản mới được thêm vào để chia sẻ cả những dữ liệu nếu mực nước dâng cao gần với mức cảnh báo trong mùa không lũ lụt. Về phần mình, Ấn Độ được yêu cầu chia sẻ thông tin liên quan đến việc sử dụng dữ liệu trong dự báo và giảm thiểu lũ lụt. Việc trao đổi và chia sẻ dữ liệu đi kèm với việc thiết lập thể chế chuyên trách, là Cơ chế cấp chuyên gia Ấn Độ-Trung Quốc (ELM) về những dòng sông xuyên biên giới.

Mặc dù đã ký MoU, năm 2017, Trung Quốc đã từ chối chia sẻ dữ liệu với Ấn Độ. Trung Quốc thông báo rằng, các trang thiết bị và dụng cụ cài đặt tại các trạm quan trắc đã bị hỏng. Một số nhà phân tích phía Ấn Độ nhận định rằng, phần lớn những thiệt hại do lũ gây ra ở tỉnh Assam năm 2017 là có thể tránh được nếu Trung Quốc cho Ấn Độ biết các dữ liệu cảnh báo sớm
[20].

Vào tháng 7/2019, Trung Quốc đã chia sẻ dữ liệu vệ tinh với Ấn Độ tại nhiều vùng bị ảnh hưởng của lũ lụt, trong đó có tỉnh Assam, do đó hỗ trợ những nỗ lực cứu trợ lũ lụt tại tỉnh này. Việc chia sẻ dữ liệu lần này được thực hiện theo yêu cầu của Cơ quan Nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ (ISRO) vào ngày 17/7/2019 tới 32 quốc gia đã ký Hiến chương về Nghiên cứu không gian và đối phó với thảm họa lớn
[21]. Việc chia sẻ dữ liệu vệ tinh từ Cơ quan Vũ trụ Quốc gia Trung Quốc, cũng như các cơ quan viễn thám đồng ý chia sẻ dữ liệu từ Pháp và Nga, đã giúp Ấn Độ trong nỗ lực cứu trợ tại các quận Dhubri, Marigaon, Barpeta, Dhemaji và Lakhimpur ở tỉnh Assam[22].
 
Tổng quan hệ thống sông Yarlung-Tsangpo/Brahmaputra
Chảy dọc theo phía Bắc của dãy Himalaya là hệ thống dòng chảy phức tạp của sông Yarlung Tsangpo/Brahmaputra chảy qua một phần của miền Nam Tây Tạng, vùng Đông Bắc Ấn Độ, Bhutan và một phần lớn của Bangladesh. Trong tổng chiều dài 2880 km, có 1625 km chảy qua Tây Tạng với tên gọi là sông Yarlung Tsangpo, trong đó 918 km ở Ấn Độ với tên gọi là sông Siang/Dihang và Brahmaputra, và 336 km ở Bangladesh với tên gọi là sông Jamuna cho đến đoạn nó nhập vào sông Padma gần Goalando. Sông Brahmaputra được xác định là dòng chảy xuôi hợp nhất của ba nhánh sông là Luhit, Dibang và Siang/Dihang, gần Sadiya ở tỉnh Assam
[23].

Sự phân bố theo chiều dài địa lý này mang lại ấn tượng rằng, sông Yarlung-Tsangpo đóng góp đáng kể vào tổng dòng chảy của sông Brahmaputra, do đó gây ra mối lo ngại ở các quốc gia ven sông ở phía hạ lưu. Ví dụ, ở Ấn Độ, đã có sự lo lắng rõ rệt sau khi dự án thủy điện lớn nhất của Trung Quốc ở vùng Tây Tạng Zangmu hoạt động một phần vào năm 2014, cho dù phía Trung Quốc trấn an rằng, “để có thể chuyển điện ra ngoài khu vực Tây Tạng”, việc khai thác tài nguyên thủy điện trong khu vực sẽ chỉ tập trung chủ yếu trên sông Jinsha (Kim Sa), sông Lancang (Mêkông) và sông Nu (Nộ Giang), nằm gần khu vực biên giới giữa Tây Tạng và các tỉnh khác của Trung Quốc
[24].
 
Hình 1: Bản đồ lưu vực sông Yarlung Tsangpo/Brahmaputra mô tả các con sông chảy xuyên quốc gia và các trạm chính quan trắc xả
nước trên hệ thống sông này.
 
Nguồn: Bản đồ do các tác giả biên soạn dựa trên dữ liệu về ranh giới hành chính của GADM
[25] và dữ liệu về ranh giới lưu vực có của CEO Water Mandate[26]
 
Tìm hiểu về khí tượng thủy văn của khu vực liên quan
Hệ thống sông Brahmaputra lấy nước từ nguồn nước mưa, tuyết và băng tan. Chỉ số tan chảy bình thường (NMI)
[27] của Brahmaputra nằm trong phạm vi thấp 0,15-0,2, cho thấy rằng, tuyết và băng tan, nguồn chảy chính trong khu vực Tây Tạng, đóng góp rất ít vào tổng lượng dòng chảy[28].

Lượng mưa không cố định trên tiểu lưu vực Brahmaputra là do sự thay đổi của khí hậu, độ cao, nhiệt độ, áp suất, vĩ độ, địa hình, và tác động của nhiều luồng gió chính tương tác với nhau. Phần lưu vực nằm trên địa phận Tây Tạng, tức là đoạn kéo dài của sông Yarlung, nằm ở phía Bắc của dãy Himalaya, nhận được lượng mưa ít hơn nhiều so với khu vực phía Nam. Điều này chủ yếu là do địa hình của dãy núi Himalaya và ảnh hưởng của nó đối với sự chuyển động của các dòng không khí ẩm. Lượng mưa trên cao nguyên phía đông Tây Tạng (TP), gây ra bởi những cơn gió đầy hơi ẩm bắt nguồn từ vịnh Bengal, được kết nối với phần cao nguyên này thông qua một hành lang ẩm. Hành lang này kéo dài dọc theo sông Brahmaputra và sông Siang cho đến tỉnh Arunachal Pradesh, và sau đó, qua Yarlung vào Tây Tạng
[29]. Cao nguyên Tây Tạng và vùng cao hơn của lưu vực này có độ cao trên 3000 mét so với mặt nước biển, luôn có tuyết rơi trong những tháng mùa đông, từ tháng 12 đến tháng 2 hằng năm. Phần Đông Nam của Tây Tạng nhận được những cơn mưa rào trong những tháng 7 và tháng 8 hằng năm[30].

Tuy nhiên, tổng lượng mưa hàng năm tính trên toàn vùng Himalaya trung bình khoảng 300 mm. Khi dòng chảy di chuyển đến phía Nam của dãy Himalaya, lượng nước trung bình hằng năm (bao gồm chủ yếu là lượng mưa) đạt khoảng 4.500 mm
[31]. Vùng chân núi thường nhận được lượng nước nhiều bất thường có khả năng gây ra lũ lụt lớn[32].

Trong thung lũng Brahmaputra ở Assam, lượng mưa trung bình hằng năm cao hơn ở các khu vực phía Đông Bắc, và giảm dần về phía Tây. Trong những tháng nước lên, Brahmaputra lấy nước từ những cơn mưa trong mùa mưa. Tuy nhiên, trong thời gian nước rút, lượng nước của tuyết và băng tan chảy nhiều hơn vào sông Yarlung, và sau đó chảy vào Brahmaputra. Bảng 1 chỉ ra lượng mưa trên các trạm quan trắc khác nhau trong lưu vực. Nó cho thấy Shigatse và Lhasa ở phía Bắc của dãy núi Himalaya nhận được lượng mưa ít hơn so với các khu vực ở phía Nam của dãy núi Himalaya ở Ấn Độ (Tuting và Guwahati), và ở Bangladesh (Bahadurabad).

Bảng 1: Lượng mưa trung bình hàng tháng trên năm trạm trong tiểu lưu vực Brahmaputra
Trạm Shigatse[33] Lhasa[34] Tuting[35] Guwahati[36] Bahadurabad[37]
Tháng Lượng mưa
(mm)
Lượng mưa (mm) Lượng mưa
(mm)
Lượng mưa
(mm)
Lượng mưa
(mm)
Một 1 3 29 10 10
Hai 1 13 44 4 13
Ba 4 8 78 25 33
Bốn 13 5 84 145 88
Năm 19 25 71 236 283
Sáu 24.5 53 66 312 439
Bảy 41 122 98 312 428
Tám 34 89 112 261 370
Chín 21 66 73 167 306
Mười 8 13 49 71 164
Mười một 1 3 32 14 15
Mười hai 2 0 31 4 2
Tổng 169.5 400 767 1561 2151

Hình 2: Bản đồ Isohyet cho thấy sự phân bố lượng mưa trong lưu vực Yarlung Tsangpo/Brahmaputra t
ại khúc uốn cong dòng sông các khu vực lân cận.

Nguồn: Tác giả biên soạn dựa trên việc tổng hợp dữ liệu TRMM của Bookhagen (1998 đến 2009)

Sự khác biệt về lượng mưa đã dẫn đến sự khác biệt lớn trong chế độ dòng chảy trên toàn lưu vực. Như vậy, một phần lớn của tổng lưu lượng dòng chảy hằng năm của Brahmaputra được tạo ra ở khu vực phía Nam của dãy Himalaya ở Ấn Độ bởi các nhánh từ Bur Di Breath ở phía Đông đến Teesta ở phía Tây. Tổng lưu lượng dòng chảy hằng năm của sông Yarlung từ Trung Quốc ước tính là khoảng 31 BCM (tỷ m3) trong khi lưu lượng hằng năm của Brahmaputra tại Bahadurabad, trạm quan trắc gần cuối tiểu lưu vực ở Bangladesh, là khoảng 606 BCM
[38]. Những số liệu này cho thấy rằng, lưu lượng dòng chảy trong một con sông không tỷ lệ thuận với chiều dài của nó trong một quốc gia. Hơn nữa, trong khi lưu lượng đỉnh tại Tsela Dzong và Nuxia ở Tây Tạng lần lượt là khoảng 5.000 và 6.000 mét khối/giây[39][40], lưu lượng đỉnh tại Pandu (Guwahati) là khoảng 60.000 mét khối/giây[41]. (Xem hình 3). Theo tài liệu thủy văn trong tập Sông và Hồ Xizang (Tây Tạng) (tài liệu tiếng Trung Quốc) và nghiên cứu của Cai và những tác giả khác (2017), dòng chảy mùa cạn ở Nuxia được xác định là 500 mét khối/giây, trong khi dòng chảy mùa cạn tại Bahadurabad ở Bangladesh là trên 5.000 mét khối/giây[42] (Xem hình 4A và hình 4B). Điều này là do lượng mưa dữ dội trong mùa mưa ở phía Nam của dãy núi Himalaya. Trong khi Nuxia nhận được khoảng 405 mm lượng mưa trong mùa mưa[43], khi sông Yarlung chảy đến phía Nam, lượng mưa hằng năm ở trạm quan trắc Pasighat ở vùng đồng bằng lên tới 4.500 mm.
 

Hình 3: Thủy văn tương đối của tiểu lưu vực Brahmaputra[44]
 

Hình 4: Thủy văn tương đối

(A) Nuxia (Tibet)[45]
 


(B) Pandu (Guwahati) và Bahadurabad
[46]



Bảng 2: Lưu lượng đo tại các điểm xả trên các sông Yarlung Tsangpo, Siang, Brahmaputra, và Jamuna
Quãng sông Điểm quan trắc Lượng xả trung bình hằng năm (Tỷ mét khối) Nguồn số liệu
Yarlung Tsangpo Nuxia 31.2[47] a. Jiang et. al. (2015)
Yarlung Tsangpo Point leaving China 135.9[48] / 78.10[49] Huang et al. (2007), xem trong tài liệu Cuo et al. (2014)[50]/MOWR (2012)[51]
Siang Pasighat 185.1[52] Sharma (2003)
Brahmaputra Bechamara, Majuli 278.4[53] Brahmaputra Board (1995)
Brahmaputra Pandu 526.1[54] WAPCOS (1993)
Jamuna Bahadurabad 605.49[55] Brahmaputra Board (1995)

Chia sẻ dữ liệu về sông Yarlung Tsangpo/Brahmaputra để cảnh báo sớm lũ lụt
Theo cơ chế trao đổi trực tiếp của MOU, Trung Quốc có nhiệm vụ cung cấp cho Ấn Độ thông tin thủy văn (bao gồm mực nước, lưu lượng và lượng mưa) của ba trạm quan trắc trên sông Yarlung: Nugesha, Yangcun và Nuxia ở Tây Tạng (Xem hình 1). Thông tin này sẽ được cung cấp hai lần một ngày vào lúc 08:00 giờ và 20:00 giờ (Giờ Bắc Kinh) trong mùa nước lên từ 15/5 đến 15/10 hằng năm.

Tuy nhiên, do dữ liệu về khí tượng thủy văn của hệ thống sông Brahmaputra biến đổi như đã phân tích ở trên, chế độ chia sẻ dữ liệu hiện tại chỉ có thể giúp cảnh báo lũ sớm cho Brahmaputra. Hình 1 và 2 cho thấy, ba trạm thủy văn được chỉ định để trao đổi dữ liệu, là Nugesha, Yangcun và Nuxia, nằm trong khu vực bên sườn núi không hứng mưa, với lượng mưa trung bình hàng năm chỉ khoảng 0-500 mm. Nuxia nằm ở hạ lưu của hai trạm còn lại, với lưu lượng tối đa trong mùa cao điểm là 4.500 mét khối/giây (Xem hình 4), như đã phân tích từ trước, với lưu lượng trung bình khoảng 1.000 mét khối/giây. Một nhánh sông quan trọng là Parlung Tsangpo, gia nhập vào sông Yarlung ở vùng hạ lưu Nuxia. Nhánh này làm tăng đáng kể lưu lượng dòng chảy từ Nuxia. Mặt khác, lượng mưa cũng tăng đáng kể ở hạ lưu vùng hợp lưu của các con sông. Do đó, tạo hiệu ứng gộp làm tăng lưu lượng nước của dòng chảy.

Điều này được chứng thực bằng dữ liệu xả nước (Xem Bảng 2) cho thấy rằng việc xả nước của Yarlung tăng hơn hai lần khi dòng sông chảy qua Nuxia, bắt đầu “uốn cong dòng sông” và chảy vào Ấn Độ. Ấn Độ quan tâm nhất đến khu vực giữa Nuxia, là trạm thủy văn cuối cùng mà Ấn Độ nhận dữ liệu về lũ lụt và Tuting, là trạm thủy văn đầu tiên trong lãnh thổ Ấn Độ, nơi con sông chảy đã vào Ấn Độ khoảng 320 km. Tuy nhiên, không có dữ liệu nào được quan trắc trên đoạn đường có lượng mưa lớn này.


Hình 5: Phân bố tuyết lở, lở đất và các mảnh vụn chảy trong lưu vực hạ lưu Yarlung Tsangpo[56]
 

Hình 6: Bản đồ hiển thị địa điểm của các diễn biến khí hậu cực đoan tại đoạn uốn cong dòng sông.

Nguồn: Tác giả biên soạn dựa trên việc tổng hợp dữ liệu TRMM của Bookhagen (2010)

Khoảng cách con sông Yarlung chảy từ Nuxia đến Bome County (nơi nó hòa vào sông Parlung) là khoảng 130 km. Như đã thấy trong Hình 2 và Hình 5, các khu vực bao gồm các lưu vực của sông Yigong Tsangpo, Parlung Tsangpo và Lower Yarlung (dẫn đến đoạn uốn cong dòng sông), thể hiện lượng mưa lớn trong mùa mưa, có khả năng sạt lở đất và tuyết, có thể dẫn tới lũ lụt. Có nhiều dữ liệu rời rạc cho thấy, hằng năm có trên 10 diễn biến thủy văn nguy hiểm ở hạ lưu. Hình 6 cho thấy toàn bộ khu vực này có ít nhất ba sự kiện thủy văn cực đoan trong năm
[57][58]. Điều này đặt ra câu hỏi về hiệu quả của việc lựa chọn vị trí các trạm trao đổi dữ liệu cảnh báo lũ sớm. Khu vực hạ lưu của Arunachal Pradesh và Assam dễ bị lũ lụt nhất. Do vị trí nằm dưới chân dãy núi Himalaya và do sự suy giảm đột ngột của độ dốc dòng sông, vùng Đông Siang đặc biệt trở thành một khu vực dễ bị lũ lụt. Điều này cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quận xung quanh là Dhemaji và Dibrugarh ở Assam, với thời gian di chuyển của sóng lũ từ Pasighat đến Dibrugarh chỉ là 12 giờ[59].
 
Kết luận
Nghiên cứu này lật lại vấn đề về cảnh báo lũ sớm trên sông Brahmaputra, bằng cách thảo luận nghiêm túc dựa trên những bằng chứng khoa học. Bất kỳ hoạt động nào do con người hoặc thiên nhiên tạo ra ở phía Bắc của đỉnh núi Himalaya có rất ít tác động đáng kể đến chế độ dòng chảy (nước và trầm tích) ở vùng hạ lưu, nhưng điều lại có tác động mạnh đối với quãng sông từ đỉnh núi Himalaya chảy xuống
[60][61]. Phát hiện này có liên quan đến cả hai quốc gia, đến sự e ngại trước những can thiệp được cho là của Trung Quốc ở phía Bắc của đỉnh núi, và MoU giữa Ấn Độ và Trung Quốc về chia sẻ dữ liệu cảnh báo lũ lụt.

Có đủ thông tin để khẳng định rằng, hai nước đã phối hợp tốt trong quá khứ để tạo ra các thỏa thuận ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra bất kỳ sự cố ngập nước do sạt lở đất ở vùng hạ lưu sông Nuxia và thượng nguồn sông Tuting. Phía Trung Quốc đã cung cấp dữ liệu cảnh báo như vậy trong ít nhất hai lần trong năm 2018, vào ngày 16/10/2018 và 28/10/2018. Trong lần thứ nhất, một địa điểm quan trắc tạm thời đã được mở, các dữ liệu quan trắc từng giờ được phía Trung Quốc lưu lại và chuyển tiếp cho phía Ấn Độ. Dựa vào các dữ liệu đó, Ủy Ban quản lý Nước Trung ương Ấn Độ đã lập ra những mô hình toán học và mô hình kịch bản vỡ đập để dự báo tác động có thể xảy ra nếu có lũ lụt, và thực hiện các biện pháp phòng ngừa ngay lập tức ở các bang Arunachal Pradesh và Assam
[62].

Do đó, rất cần lập ra các trạm quan trắc thủy văn giữa Nuxia và Tuting, đặc biệt là tại đoạn uốn cong Yarlung/Brahmaputra. Cần xây dựng ngay cơ sở hạ tầng cho quan trắc thủy văn ở những nơi còn thiếu trong khu vực này. Mêdog, nằm cách thượng nguồn sông Tuting khoảng 50 km; và tại ngã ba sông Chimodro Chu, Gompo Ne, nằm cách thượng nguồn sông Tuting khoảng 150 km; và tại ngã ba Parlung, có thể là địa điểm của các trạm này (Xem hình 2). Các trạm này sẽ cho số liệu quan sát thực tế hơn và sẽ là đại diện cho các khu vực có lượng mưa cao ở phần hạ lưu dưới đoạn uốn cong của sông Yarlung Tsangpo.

Giải quyết vấn đề này bằng đối thoại song phương sẽ xóa tan không khí hoài nghi và cải thiện các cam kết trong tương lai liên quan đến sông Yarlung/Brahmaputra. Cơ chế thể chế của Cơ chế cấp chuyên gia (ELM) cho các dòng sông xuyên biên giới có thể được tận dụng để nêu vấn đề và phối hợp giải quyết vấn đề này.

[3] Jayanta Bandyopadhyay, Nilanjan Ghosh, Chandan Mahanta. 2016. IRBM for Brahmaputra Sub-basin: Water Governance, Environmental Security, and Human Well-Being. New Delhi. Observer Research Foundation.
The Nilanjan Ghosh, “[4]Brahamaputra: floated myths and flouted realities”. The Third Pole, December 19, 2017.
[5] Brahma Chellaney, Water: Asia’s New Battleground (Georgetown University Press, 2011).
[6] Mark Christopher, “Water Wars: The Brahmaputra River and Sino-Indian Relations”, CIWAG Case Studies, 7 (2013).
[7] Brahma Chellaney, Water: Asia’s New Battleground (Georgetown University Press, 2011).
[8] “Học thuyết Harmon” về chủ quyền lãnh thổ tuyệt đối thường được các quốc gia ở thượng nguồn áp dụng. Học thuyết chủ quyền tuyệt đối được xây dựng dựa trên nguyên tắc rằng, một quốc gia có chủ quyền lãnh thổ tuyệt đối đối với khúc sông nằm trong biên giới của quốc gia, cho dù con sông này chảy qua nhiều quốc gia khác. Điều đó có nghĩa là một quốc gia có thể tự do khai thác các vùng nước nằm trong lãnh thổ của mình theo ý muốn (Mc Caffrey, 1996).
[9] Stephen C. McCaffrey, “The Harmon Doctrine one hundred years later: Buried, not praised”, Natural Resources Journal 36 (1996): 965–1007.
[10] Hongzhou Zhang, "Sino‐Indian water disputes: the coming water wars"? WIREs Water 3 (2016): 155-166. 10.1002/wat2.1123
[11] Jayanta Bandyopadhyay, Nilanjan Ghosh, Chandan Mahanta. 2016. IRBM for Brahmaputra Sub-basin: Water Governance, Environmental Security, and Human Well-Being. New Delhi. Observer Research Foundation.
[12] Hongzhou Zhang, "Sino‐Indian water disputes: the coming water wars"? WIREs Water 3 (2016): 155-166. 10.1002/wat2.1123
[13] Kế hoạch GWWDP dự định điều chỉnh dòng chảy từ các khu vực thượng nguồn của sáu con sông ở phía Tây Nam Trung Quốc, bao gồm thượng nguồn sông Mê Kông, sông Brahmaputra và Salween, đến các khu vực khô hạn ở phía bắc Trung Quốc thông qua hệ thống hồ chứa, đường hầm và sông tự nhiên (Guo, 1993).
[14] Kai Guo, “Brief review of Shuotian Canal project,” Optim Capital Constr 13 (1993) :1–5
[15] Hongzhou Zhang, "Sino‐Indian water disputes: the coming water wars"? WIREs Water 3 (2016): 155-166. 10.1002/wat2.1123
[16] Selina Ho,"River politics: China's policies in the Mekong and the Brahmaputra in comparative perspective", Journal of Contemporary China 23, no. 85 (2014): 1-20.
[17] Selina Ho,"River politics: China's policies in the Mekong and the Brahmaputra in comparative perspective", Journal of Contemporary China 23, no. 85 (2014): 1-20.
[18] Hongzhou Zhang, "Sino‐Indian water disputes: the coming water wars"? WIREs Water 3 (2016): 155-166. 10.1002/wat2.1123
[19] Amit Ranjan, "India-China MoU on Transboundary Rivers," Indian Council if World Affairs, (November 2013)
The Nilanjan Ghosh, “[20]Brahamaputra: floated myths and flouted realities”. The Third Pole, December 19, 2017.
[21]International Charter Space and Major Disasters”. UN-SPIDER, truy cập 30/11/2019.
[23] Datta, B. and V.P. Singh, “Hydrology,” in The Brahmaputra Basin Water Resources, ed. V.P. Singh, N. Sharma, C. Shekhar and P Ojha (Boston: Kluwer Academic Publishers, 2004) 139-95
[24] Hu Weijia, “India needn’t be overly sensitive to Tibet’s plan to develop hydropower resources,” Global Times, November 22, 2017
[25] Global Administrative Areas. 2012. GADM database of Global Administrative Areas, phiên bản 2.0. (trên mạng).
[27] Chỉ số tan chảy bình thường (NMI) được định nghĩa là lưu lượng dòng chảy của tuyết và băng tan vùng thượng nguồn chia cho lưu lượng dòng chảy tự nhiên ở hạ nguồn.
[28] Walter. W. Immerzeel, Ludovicus P. H. van Beek, and Marc F. P. Bierkens, “Climate change will affect the Asian water towers.” Science 328, 5984 (2010): 1382-1385. 10.1126/science.1183188
[29] Wenhao Dong, Yanluan Lin, Jonathon S. Wright, Yi Ming, Yuanyu Xie, Bin Wang, Yong Luo, Wenyu Huang, Jianbin Huang, Lei Wang, Lide Tian, Yiran Peng, and Fanghua Xu, “Summer rainfall over the southwestern Tibetan Plateau controlled by deep convection over the Indian subcontinent,” Nature communications 7, 10925 (2016). 10.1038/ncomms10925
[30] Nilanjan Ghosh, “The Brahamaputra: floated myths and flouted realities”. The Third Pole, December 19, 2017.
[31] Nilanjan Ghosh, “The Brahamaputra: floated myths and flouted realities”. The Third Pole, December 19, 2017.
[32] Nilanjan Ghosh, “The Brahamaputra: floated myths and flouted realities”. The Third Pole, December 19, 2017.
[33] World Weather Online. Date for the period between 2009 and 2018. Truy cập 22/5/2018.
[34] World Weather Online. Date for the period between 2009 and 2018. Truy cập 22/5/2018.
[35] World Weather Online. Date for the period between 2009 and 2018. Truy cập 22/5/2018.
[36] World Weather Online. Date for the period between 2009 and 2018. Truy cập 22/5/2018.
[37] World Weather Online. Date for the period between 2009 and 2018. Truy cập 22/5/2018.
[38] Chong Jiang, Linbo Zhang, Daiqing Li, and Fen Li, “Water discharge and sediment load changes in China: change patterns, causes, and implications," Water 7, no. 10 (2015): 5849-5875
[39] Datta, B. and V.P. Singh, “Hydrology,” in The Brahmaputra Basin Water Resources, ed. V.P. Singh, N. Sharma, C. Shekhar and P Ojha (Boston: Kluwer Academic Publishers, 2004) 139-95
[40] Mingyong Cai,Shengtian Yang ,Changsen Zhao, Qiuwen Zhou, and Lipeng Hou,“Insight into runoff characteristics using hydrological modeling in the data-scarce southern Tibetan Plateau: Past, present, and future”. PLOS ONE 12, 5 (2017).
[41] Datta, B. and V.P. Singh, “Hydrology,” in The Brahmaputra Basin Water Resources, ed. V.P. Singh, N. Sharma, C. Shekhar and P Ojha (Boston: Kluwer Academic Publishers, 2004) 139-95
[42] Mingyong Cai,Shengtian Yang ,Changsen Zhao, Qiuwen Zhou, and Lipeng Hou,“Insight into runoff characteristics using hydrological modeling in the data-scarce southern Tibetan Plateau: Past, present, and future”. PLOS ONE 12, 5 (2017).
[43] Leilei Zhang, Fengge Su, Daqing Yang, Zhenchun Hao, and Kai Tong. "Discharge regime and simulation for the upstream of major rivers over Tibetan Plateau”. Journal of Geophysical Research: Atmospheres, 118,15 (2013): 8500-8518.
[44] Datta, B. and V.P. Singh, “Hydrology,” in The Brahmaputra Basin Water Resources, ed. V.P. Singh, N. Sharma, C. Shekhar and P Ojha (Boston: Kluwer Academic Publishers, 2004) 139-95
[46] Datta, B. and V.P. Singh, “Hydrology,” in The Brahmaputra Basin Water Resources, ed. V.P. Singh, N. Sharma, C. Shekhar and P Ojha (Boston: Kluwer Academic Publishers, 2004) 139-95
[47] Chong jiang, Linbo Zhang, Daiqing Li, and Fen Li, "Water discharge and sediment load changes in China: change patterns, causes, and implications.," Water 7, no. 10 (2015): 5849-5875
[48] Junxiong Huang, Xu Zongxue, and Gong Tongliang, “Characteristics and driving factors of the runoff variations in the Yarlung Zangbo River,” Journal of China Hydrology. 27,5 (2007): 31–35 (tài liệu tiếng Trung)
[50] Lan Cuo, Yongxin Zhangb, Fuxin Zhua and Liqiao Lianga, “Characteristics and changes of streamflow on the Tibetan Plateau: A review,” Journal of Hydrology: Regional Studies. 2 (2014): 49-68
[51] Con số 135.9 tỷ mét khối là dữ liệu thu được từ mô hình thủy văn và số liệu đã qua thẩm định. 78.10 tỷ mét khối là một số liệu do Chính phủ Ấn Độ cung cấp nhưng không chỉ rõ khoảng thời gian mà dữ liệu được thu thập. Cả hai số liệu này củng cố lập luận trọng tâm của bài viết rằng một lượng lớn nước được xả ra sông trong khu vực hạ lưu của sông Nuxia.
[52] J. N. Sharma, “Rivers, Water resources of the Brahmaputra: Viabilities and apprehensions.” Proceedings of the National Seminar on Linking the Major Rivers of India: Possibilities and Apprehensions (2003)
[53] Brahmaputra Board, “Part-1: Main stem.” In Additional Volume for Master Plan of Brahmaputra basin. India: Brahmaputra Board (1995)
[54] WAPCOS [Water and Power Consultancy Services (India)], Morphological Studies of the River Brahmaputra. New Delhi: North Eastern Council. Govt. of India (1993).
[55] Brahmaputra Board, “Part-1: Main stem.” In Additional Volume for Master Plan of Brahmaputra basin. India: Brahmaputra Board (1995)
[56] Zhaoyin Wang, Zhiwei Li, Mengzhen Xu, and Guoan Yu, River Morphodynamics and Stream Ecology of the Qinghai-Tibet Plateau (Florida: CRC Press, 2016)
[57] Theo Bookhagen (2010), một sự kiện cực đoan được định nghĩa là cường độ mưa trong ngày vượt trên lượng mưa trung bình của 90% những lần mưa khác, với mật độ trung bình của những lần mưa được đo trong khoảng 3 giờ mưa liên tục, đo trong suốt 11 năm (1998 – 2009).
[58] Bodo Bookhagen, "Appearance of extreme monsoonal rainfall events and their impact on erosion in the Himalaya," Geomatics, Natural Hazards and Risk, 1,1(2010): 37-50
[59] Datta, B. and V.P. Singh, “Hydrology,” in The Brahmaputra Basin Water Resources, ed. V.P. Singh, N. Sharma, C. Shekhar and P Ojha (Boston: Kluwer Academic Publishers, 2004) 139-95
[60] Jayanta Bandyopadhyay, Nilanjan Ghosh, Chandan Mahanta. 2016. IRBM for Brahmaputra Sub-basin: Water Governance, Environmental Security, and Human Well-Being. New Delhi. Observer Research Foundation.
[61]China cannot rob us of Brahmaputra”. The Hindu Business Line, November, 2017.
[62] Central Water Commission,“Jalansh – The Monthly Newsletter of Central Water Commission,” Issue 4, 2018.

 

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

 

Bình luận của bạn