cis_banner_final_en.png
Vận động xã hội: yếu tố cần thiết trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

13/12/2019


Vận động xã hội: yếu tố cần thiết trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ trân trọng giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Terri Chapman, một trong những đối tác nghiên cứu của Quỹ các nhà quan sát Ấn Độ (ORF). Terri Chapman đang cộng tác với ORF trong dự án nghiên cứu sự thay đổi của thị trường lao động Ấn Độ trong thời đại mới. Bài viết được ORF công bố ngày 10/12/2019.


Vận động xã hội là mức độ mà cơ hội trong cuộc sống của một cá nhân được quyết định bởi xuất phát điểm trong cuộc sống của họ. Một xã hội có tính tự thân vận động cao thì trong đó các yếu tố nền tảng gia đình của mỗi cá nhân, chẳng hạn như thu nhập của cha mẹ, nghề nghiệp, hoặc tầng lớp, giai cấp ít có tác động đến kết quả họ sẽ đạt được trong cuộc sống sau này. Ngược lại, một xã hội cứng, ít vận động, thì trong đó vị trí, tầng lớp, nghề nghiệp và thu nhập của cá nhân được quyết định mạnh mẽ bởi cha mẹ của họ[1]. Mức độ vận động xã hội là dấu hiệu chỉ báo sự bình đẳng về cơ hội[2].

Cho dù chúng ta tin rằng sự lựa chọn của mỗi cá nhân quyết định kết quả mà cá nhân đạt được trong hầu hết các xã hội ngày nay, nền tảng, gốc gác con người vẫn quyết định trình độ giáo dục họ sẽ đạt được, loại công việc họ sẽ làm và thu nhập của họ. Nói cách khác, cuộc đời là sân khấu không bằng phẳng, và xuất phát điểm của bạn trong cuộc sống sẽ có tác động đến cái đích mà bạn đạt được nhiều hơn những nỗ lực, năng lực, hay sự lựa chọn của bạn
[3]. Những sách lược mà chúng ta áp dụng để đối phó với sự bất bình đẳng có nguồn gốc từ sự lười biếng có thể rất khác so với những sách lược mà chúng ta lập ra để giải quyết các vấn đề có nguồn gốc từ sự may mắn, ví dụ may mắn trong xuất thân, hoàn cảnh gia đình. Lý thuyết của Rawls về tấm màn của sự thờ ơ khái niệm hữu ích để giải thích những điều trên[4]. Bạn sẽ thiết kế một xã hội như thế nào nếu bạn không biết cái đích bạn muốn đi tới là gì?

Ý nghĩa của luận điểm này được áp dụng trong nhiều lĩnh vực. Mức độ vận động xã hội thấp là dấu hiệu xấu cho hiệu quả kinh tế. Hãy tưởng tượng những người trẻ tuổi tài năng có ít cơ hội nhận ra khả năng của họ, đồng thời, các vị trí cấp cao được nắm giữ bởi những cá nhân không có khả năng tối đa hóa cơ hội. Hơn nữa, vận động xã hội là quan trọng về mặt tạo ra cảm nhận về sự công bằng, nó ảnh hưởng đến sự hài lòng cuộc sống, phúc lợi và sự gắn kết xã hội
[5].

Sự biến đổi trong công nghệ và kinh tế là đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang đặt ra câu hỏi về bản chất của việc làm, giáo dục và bảo vệ xã hội trên toàn cầu. Chúng ta đang bắt đầu giải quyết tác động của những biến đổi này và hoạch định chính sách cho tương lai, một lăng kính quan trọng để cân nhắc chính là yếu tố sự vận động xã hội và sự bình đẳng của cơ hội.

Ví dụ, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã chứng kiến sự gia tăng của việc làm ngắn hạn, dựa trên nền tảng kỹ thuật số trong nền kinh tế tạm thời (nền kinh tế gig, với những công việc tạm thời, ngắn hạn). Những công việc này có mức lương trung bình thấp hơn và mang lại ít cơ hội phát triển nghề nghiệp hơn so với công việc truyền thống. Về lâu dài, nền kinh tế tạm thời mang lại ít sự thịnh vượng hơn, sẽ dẫn đến sự phân tầng lớn hơn và vận động xã hội thấp hơn. Do đó, cần tránh để việc làm trong nền kinh tế tạm thời là cơ hội tạo thu nhập duy nhất cho những người ở mức thấp hơn trong phân phối thu nhập, bởi vì công việc trong nền kinh tế tạm thời không có xu hướng đi lên.

Hơn nữa, tăng cường tập trung vào đào tạo kỹ năng nghề nghiệp là một phản ứng phổ biến đối với việc áp dụng công nghệ và để đối phó với sự không chắc chắn trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Hướng tiếp cận này bắt nguồn từ lập luận rằng các công ty đang thay đổi nhu cầu kỹ năng nghề nghiệp khi áp dụng công nghệ với tốc độ nhanh. Do đó, để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi kỹ năng nghề nghiệp, phần lớn lực lượng lao động cần phải trải qua đào tạo các kỹ năng làm việc mới. Các chiến lược sẽ được áp dụng là dành cơ hội giáo dục đại học và trên đại học cho những người khá giả, và đào tạo kỹ năng nghề cho những người có điều kiện kinh tế kém hơn. Trong thực tế, điều này hạn chế sự vận động xã hội, và làm tăng thêm sự chênh lệch qua cách loại bỏ những cá nhân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được đi xa hơn trong con đường học vấn, ngăn họ có thu nhập tốt hơn, cũng như cơ hội vận động lên cao hơn trong xã hội.

Thứ ba, các chế độ bảo trợ xã hội của thế kỷ trước chỉ xoay quanh mối quan hệ giữa người chủ và người lao động, sẽ không còn phù hợp với mối quan hệ lao động mới đang hình thành trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Đảm bảo mức độ bảo vệ tối thiểu cho tất cả mọi người là cần thiết để giảm thiểu rủi ro kinh tế và xã hội. Tính toán những thay đổi và những quy luật sẽ có khả năng xảy ra trong nghề nghiệp là công việc rất quan trọng để thiết kế các biện pháp bảo vệ công bằng và phù hợp, đáp ứng nhu cầu của người lao động. Những người đang tham gia vào những công việc không theo chuẩn, chỉ là tạm thời và không được coi là người lao động, không được coi trọng trong hệ thống phúc lợi và bảo vệ người lao động, ví dụ như chế độ nghỉ thai sản, con ốm, nghỉ ốm, thương tật trong quá trình lao động, và bảo hiểm thất nghiệp. Nếu không thiết kế lại các chương trình bảo trợ xã hội, khoảng cách khác biệt giữa phạm vi bảo hiểm cho người lao động ngày càng gia tăng, tạo ra ngày càng nhiều bất lợi cho những người có điều kiện kém hơn.

Chúng ta phải đảm bảo rằng, sự không chắc chắn do những biến đổi nhanh chóng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 không dẫn đến sự bất bình đẳng xã hội lớn hơn. Đảm bảo sự bình đẳng về cơ hội và vận động xã hội nên là nguyên tắc cốt lõi khi chúng ta thiết kế những chính sách cho tương lai.

 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Nguồn: https://www.orfonline.org/expert-speak/social-mobility-a-social-imperative-in-the-4th-industrial-revolution-58649/

[1] Solon, G., 1999. “Intergenerational mobility in the labor market.” In: Ashenfelter, O., Card, D. (Eds.), Handbook of Labor Economics. Vol. 3. Elsevier Science B.V., New York, p. 1761–1800.;
Black, S. E., Devereux, P. J., 2011. Recent developments in intergenerational mobility. In: Ashenfelter, O., Card, D. (Eds.), Handbook of Labor Economics, Volume 4B. Elsevier, Amsterdam, Ch. 16, p. 1487–1541.;
Björklund, A., Jäntti, M., 2009. Intergenerational income mobility and the role of family background. In: Salverda, W., Nolan, B., Smeeding, T. M. (Eds.), Oxford Handbook of Economic Inequality. Oxford University Press, Oxford, Ch. 20, pp. 491–521.;
Piketty, T., 2000. Theories of persistent inequality and intergenerational mobility. In: Atkinson, A. B., Bourguignon, F. (Eds.), Handbook of Income Distribution, Volume 1. Elsevier, Amsterdam, Ch. 8, pp. 429–476.
[2] Bénabou, Roland, and Efe A. Ok. 2001. “Social Mobility and the Demand for Redistribution: The Poum Hypothesis.” Quarterly Journal of Economics 116(2): 447–87.
[3] Corak, M., 2013. Income inequality, equality of opportunity, and intergenerational mobility. Journal of Economic Perspectives 27 (3), 79–102.; OECD. 2011a. Divided We Stand: Why Inequality Keeps Rising. Organization for Economic Coopera- tion and Development.
Black, S. and Devereux, P. (2011) “Recent Developments in Intergenerational Mobility”, in D. Card and O. Ashenfelter (eds.) Handbook of Labor Economics, Volume 4B, Elsevier
North Holland.
Bukodi, E. and Goldthorpe, J. (2018) Social Mobility and Education in Britain: Research, Politics and Policy, Cambridge University Press
[4] Rawls, John, 1921-2002. A Theory of Justice. Cambridge, Mass. :Belknap Press of Harvard University Press, 1971.

Bình luận của bạn