cis_banner_final_en.png
QUAN HỆ VIỆT NAM - ẤN ĐỘ: NHÌN LẠI VÀ SUY NGẪM

26/01/2020


QUAN HỆ VIỆT NAM - ẤN ĐỘ: NHÌN LẠI VÀ SUY NGẪM

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu “Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ: Nhìn lại và Suy ngẫm”, của tác giả Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Toan, Giám đốc sáng lập, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Bài nghiên cứu đã được xuất bản trên tạp chí quốc tế “Nam Today”, số 12, tháng 11-12/2019.


Tóm tắt
Nghiên cứu này luận giải căn nguyên sâu xa từ góc độ giao lưu, tiếp biến văn hóa và vai trò của lãnh tụ trong việc đặt nền móng hình thành quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, cũng như sự kế thừa, phát triển quan hệ đó của các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước. Bài viết khẳng định những thành quả đạt được của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ gần nửa thế kỷ, phân tích những tiềm năng cần phát huy, rào cản cần tháo gỡ và triển vọng phát triển quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, đề xuất các nhà khoa học Việt Nam, Ấn Độ tiếp tục nghiên cứu, đưa ra luận cứ khoa học góp phần xây dựng chủ trương, chính sách làm phong phú quan hệ Việt Nam - Ấn Độ.

Kết quả nghiên cứu là những kết luận về những luận điểm được nêu ra, có phân tích, minh giải bằng những cứ liệu khoa học được đúc rút từ thực tiễn quan hệ Việt Nam - Ấn Độ hơn gần nửa thế kỷ qua. Nghiên cứu này không chỉ là những tổng kết thực tiễn, mà còn là những đánh giá, khuyến nghị và đề xuất luận cứ khoa học cho việc xây dựng chủ trương, chính sách của lãnh đạo hai nước, góp phần làm phong phú hơn quan hệ Việt Nam - Ấn Độ.

Từ khóa: Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ; Thành tựu; Tiềm năng; Tư vấn chính sách.
 
 
Ấn Độ là nước có nền văn hóa phát triển lâu đời. Từ thời cổ đại, Ấn Độ đã trở thành một trong bốn cái nôi văn minh của nhân loại. Đất nước Ấn Độ luôn có sức nặng địa - chính trị, địa - kinh tế, địa - chiến lược. Hiện nay, Ấn Độ đã trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới. Dự tính đến năm 2030 của thế kỷ XXI, Ấn Độ sẽ trở thành nền kinh tế đứng thứ ba thế giới sau Mỹ, Trung Quốc và tiềm lực quốc phòng đứng thứ tư thế giới sau Mỹ, Nga và Trung Quốc [Lê Văn Toan: 2016]. Với dân số đứng thứ hai thế giới và lực lượng lao động trẻ, dồi dào, tư duy phát triển năng động, Ấn Độ có khả năng trở thành hình mẫu về sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với thể chế dân chủ lớn nhất thế giới. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cho rằng, cùng với Nhật Bản, Australia và bang Hawaii (Mỹ), Ấn Độ tạo thành khối kim cương bốn đỉnh của an ninh để đảm bảo các lợi ích triển khai trải dài từ Ấn Độ Dương sang Tây Thái Bình Dương [Phương Thảo: 15.11.2017]. Tư tưởng nước lớn được giới lãnh đạo Ấn Độ nuôi dưỡng từ nhiều thập kỷ đến nay đang được kế thừa và phát triển. Hiện nay, Thủ tướng Narendra Modi nêu quyết tâm muốn Ấn Độ đóng vai trò chiến lược lớn hơn thông qua phát triển các mối quan hệ đối ngoại theo ba phương hướng chính gồm: 1) củng cố và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng Nam Á và đảm bảo vai trò lãnh đạo tại khu vực Ấn Độ Dương; 2) Phát triển quan hệ với các cường quốc; 3) Đẩy mạnh quan hệ với châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông và Đông Nam Á, thông qua chính sách Hành động phía Đông (Act East Policy), được nâng cấp từ chính sách Hướng Đông (Look East Policy) vốn được thực hiện nhất quán qua các kỳ Thủ tướng từ năm 1992 [Nguyễn Vũ Tùng, Đặng Cẩm Tú: 2016]. Điều này càng chứng tỏ vị thế và vai trò của Ấn Độ trong việc đảm bảo cân bằng an ninh chiến lược trong khu vực.

Do điều kiện tự nhiên và điều kiện địa lý - chiến lược trải dài bên bờ Biển Đông, Việt Nam sớm có xu thế giao lưu, hội nhập, tiếp biến. Nền văn minh Đại Việt được xếp là một trong 34 nền văn minh đầu tiên của nhân loại [Lê Văn Toan: 07.2015]. Nhiều học giả thống nhất rằng, bản sắc văn hóa Việt Nam được tạo ra ở vùng lúa nước sông Hồng cách đây rất nhiều ngàn năm, được tôi luyện và khẳng định trong 2000 năm đấu tranh giành độc lập. Việt Nam đủ lớn mạnh để vừa tiếp biến và hiện đại hóa thành công, vừa giữ được bản sắc dân tộc.

Hiện nay, Việt Nam đã và đang thực hiện công cuộc đổi mới, đổi mới tư duy phát triển theo hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi phát triển đều hướng vào con người, vì con người. Mỗi người đều có cơ hội đóng góp và hưởng lợi từ hệ thống với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Việt Nam sử dụng cơ chế thị trường để huy động và phân bổ nguồn lực. Nhờ đổi mới, mở cửa, hội nhập với thế giới, Việt Nam trở thành nước có tốc độ tăng trưởng nhanh ở châu Á, trở thành nước xuất khẩu gạo và một số sản phẩm nông nghiệp lớn trên thế giới. Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là nước có chính sách giảm nghèo ấn tượng. Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, đến cuối năm 2017, ước tính tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước của Việt Nam giảm còn dưới 7% (giảm 1,3% so với cuối năm 2016) [Đ.T: 12.10.2017]. Hiện nay, Việt Nam tiếp tục thiết lập một loạt quan hệ đối tác và hợp tác, tích cực tham gia vào nhiều hiệp định tự do thương mại. Việt Nam trở thành một điểm hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư quốc tế, trong đó có Ấn Độ.

Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ là mối quan hệ đặc sắc, được thể hiện rõ trên năm bình diện sau:

* Về chính trị - ngoại giao
Việt Nam và Ấn Độ có mối quan hệ chính trị - ngoại giao hết sức tốt đẹp, có độ tin cậy chính trị rất cao. Sự tin cậy chính trị đó luôn được củng cố thông qua việc hai bên thường xuyên trao đổi đoàn cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ. Những năm gần đây, các đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã đến thăm Ấn Độ; cũng tương tự như vậy, cả Tổng thống, Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Chủ tịch Nghị viện Ấn Độ đã đến thăm Việt Nam. Trong các chuyến thăm cấp cao đó, Việt Nam và Ấn Độ đều ra Tuyên bố chung. Các Tuyên bố chung gần đây đều khẳng định rằng:

- Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ được xây dựng trên nền tảng vững chắc, dựa trên các mối liên kết lâu đời, bền vững về lịch sử văn hóa, sự hiểu biết, tin cậy, cũng như sự ủng hộ lẫn nhau trong các cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

- Việt Nam đánh giá cao Ấn Độ về những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và cải thiện đời sống nhân dân; tin tưởng rằng, Ấn Độ sẽ ngày càng có vai trò và vị thế lớn hơn nữa trong khu vực và trên trường quốc tế. Việt Nam luôn khẳng định sự ủng hộ nhất quán đối với Ấn Độ trong việc triển khai chính sách “Hành động phía Đông” và đóng vai trò lớn hơn ở khu vực và trên thế giới.

- Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại; Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong chính sách “Hành động phía Đông” của Ấn Độ; tin tưởng Việt Nam sẽ sớm đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp phát triển, có vai trò và vị thế ngày càng cao ở khu vực và thế giới.

- Hai bên đã chia sẻ quan điểm chung về quan hệ song phương và các vấn đề quốc tế, trong đó có tình hình an ninh khu vực châu Á, nhất trí tăng cường hơn nữa trao đổi đoàn cấp cao và các cấp, thúc đẩy quan hệ kênh Đảng, Quốc hội hai nước, thiết lập quan hệ giữa các địa phương của hai bên, phát huy hiệu quả của các cơ chế hợp tác hiện có như Ủy ban Liên chính phủ, Tham khảo chính trị, Đối thoại chiến lược, Đối thoại chính sách quốc phòng, Hợp tác kinh tế, năng lượng, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, v.v…[Toàn văn Tuyên bố chung: 21.04.2015; 05.03.2018; Tuyên bố chung: 05.09.2016]. Những chuyến thăm cấp cao không những đặt nền tảng, tạo động lực cho việc triển khai các thỏa thuận hợp tác đã được ký kết mà còn thắt chặt thêm độ tin cậy chính trị giữa hai nước.

* Về quốc phòng - an ninh
Hợp tác quốc phòng, an ninh là trụ cột chiến lược trong quan hệ hai nước, luôn diễn ra trong bối cảnh tăng cường quan hệ chính trị. Điểm riêng biệt trong quan hệ quốc phòng, an ninh giữa Ấn Độ và Việt Nam là hai nước đã có những tiếp xúc quốc phòng trước khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Ngay từ năm 1953, Ấn Độ đã đưa ra chương trình sáu điểm về hòa bình tại Đông Dương, hỗ trợ Việt Nam ký Hiệp định Geneva vào ngày 20/7/1954. Hiệp định này không chỉ là thắng lợi lớn, mang ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam, mà còn là minh chứng khẳng định tình hữu nghị giữa hai nước [Nguyễn Hồng Quân, 2016]. Trong những năm tháng Việt Nam tiến hành các cuộc chiến tranh giành tự do, độc lập cho dân tộc và xây dựng đất nước, Ấn Độ vẫn luôn cảm thông, ủng hộ, sát cánh cùng Việt Nam.

Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, trước xu thế phát triển chung của tình hình khu vực và thế giới, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, Ấn Độ cũng bước vào thời kỳ cải cách, hai nước tiến hành mở rộng quan hệ đối ngoại, thực hiện chủ trương của lãnh đạo hai nước, Bộ Quốc phòng hai nước đã chủ động tạo dựng cơ sở pháp lý, nền tảng cho hợp tác quốc phòng song phương
[1]. Đặc biệt, Bộ Quốc phòng hai nước đã ký Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2015-2020.

Hợp tác quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ được mở rộng trên nhiều mặt, đưa hợp tác quốc phòng ngày càng đi vào chiều sâu [Ấn Độ: 28.10.2014], bao gồm trao đổi các chuyến thăm cấp cao, đối thoại chính sách quốc phòng hàng năm, giao lưu các quân chủng, các chuyến thăm của hải quân hai nước kết hợp diễn tập, đóng tàu, huấn luyện và xây dựng năng lực, hỗ trợ bảo quản trang thiết bị quân sự. Hàng năm, hai bên đều trao đổi các đoàn cấp cao như Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam. Từ năm 1980, hai nước đã cố gắng mở rộng hợp tác bằng cách trao đổi nhiều đoàn để tiến hành khảo sát, trao đổi kinh nghiệm trong việc xây dựng lực lượng, bồi dưỡng cán bộ cấp cao, đào tạo, dịch vụ hậu cần kỹ thuật, bảo trì, sửa chữa, sản xuất thiết bị, sửa chữa và nâng cấp vũ khí và trang thiết bị kỹ thuật [Nguyễn Hồng Quân: 2011]. Năm 2000, khi Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải đến thăm Ấn Độ, hai nước đã ký Hiệp ước Quốc phòng đầu tiên, mở ra trang mới trong nâng cấp quan hệ quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ. Năm 2007, Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ năm 2007 do Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Sing cùng ký, khẳng định nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác chiến lược, trong đó cam kết tăng cường hợp tác quốc phòng ngày càng đi vào chiều sâu [Sanghamitra Sarma: 2016]. Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam và Ấn Độ duy trì thường niên Đối thoại cấp thứ trưởng Bộ Quốc phòng và đang nghiên cứu khả năng nâng cấp thành đối thoại cấp Bộ trưởng Quốc phòng.

Những cam kết trong hợp tác quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ không ngừng được nâng cấp. Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 9-2014, Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee tuyên bố: “Hợp tác quốc phòng là trụ cột quan trọng trong mối quan hệ chiến lược hai nước”. Ấn Độ cung cấp cho Việt Nam gói tín dụng 100 triệu USD để thúc đẩy mua sắm các trang bị quốc phòng [Jayadeva Ranade: 2016]. Trong chuyến thăm Ấn Độ năm 2014 của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã tự tin tuyên bố: “Hợp tác quốc phòng với Việt Nam là một trong những vấn đề quan trọng nhất của chúng tôi. Ấn Độ tiếp tục cam kết giúp hiện đại hóa lực lượng quốc phòng, an ninh của Việt Nam. Chúng tôi sẽ tăng cường thêm các chương trình huấn luyện vốn đã rất lớn hiện nay, tập trận chung và hợp tác trong quốc phòng. Chúng tôi sẽ khẩn trương giải ngân gói tín dụng 100 triệu USD để Việt Nam có thể mua tàu chiến của Ấn Độ. Chúng tôi cũng đã đồng ý tăng cường hợp tác an ninh, bao gồm cả chống khủng bố” [Ghosh P K: 11.11.2014].

Năm 2016, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đến thăm Việt Nam, cùng lãnh đạo Việt Nam, mà đại diện là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, đã tuyên bố chung nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác chiến lược toàn diện. Hai bên đều rất hài lòng về những kết quả tích cực đạt được trong hợp tác quốc phòng, bao gồm nhiều lĩnh vực… Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng (ký tháng 5-2015). Thủ tướng Ấn Độ tái khẳng định quan tâm của Ấn Độ trong việc đẩy mạnh hợp tác công nghiệp quốc phòng với Việt Nam và sẽ hỗ trợ gói tín dụng (500 triệu USD) để triển khai thực hiện dự án hợp tác trong lĩnh vực này. Hai Thủ tướng vui mừng chứng kiến việc ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực an ninh mạng giữa Bộ Công an và Bộ Điện tử và Công nghệ thông tin Ấn Độ và chuyển giao thiết bị để lắp đặt và vận hành phòng thí nghiệm mang tên Indira Gandhi về phục hồi dữ liệu điện tử chống tội phạm công nghệ cao do Chính phủ Ấn Độ tài trợ. Hai bên nhất trí sớm ký bản ghi nhớ hợp tác giữa văn phòng Hội đồng An ninh quốc gia Ấn Độ và Bộ Công an Việt Nam; nhấn mạnh cơ chế đối thoại an ninh cấp thứ trưởng và tăng cường hợp tác trong các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống, an ninh mạng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh hàng hải, quản lý và ứng phó thiên tai cũng như hợp tác đào tạo và nâng cao năng lực quốc phòng, an ninh và chia sẻ kinh nghiệm tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc [Tuyên bố chung: 05.09.2016].

Có thể nói, quan hệ hợp tác quốc phòng giữa hai nước là quan hệ chân thành, trong sáng, không bị “nhóm lợi ích” thao túng, từng bước phát huy hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu và mở rộng, vừa có lợi cho sự ổn định và phát triển của hai nước, vừa có lợi cho ổn định, hòa bình ở khu vực và thế giới.

Về kinh tế - thương mại
Tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại song phương giữa hai nước là mục tiêu chiến lược, thành tố cốt lõi của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Tính đến năm 2007, Ấn Độ là quốc gia xếp thứ 12 trong hơn 200 đối tác thương mại của Việt Nam trên thế giới. Xét riêng trong châu Á, Ấn Độ là đối tác lớn thứ 9 của Việt Nam [Đôi nét về quan hệ thương mại: 01.03.2018]. Kim ngạch thương mại hai chiều tăng trung bình 16% năm và đạt hơn 5 tỷ USD vào năm 2015. Hai bên cam kết đa dạng hóa phạm vi thương mại và xác định các lĩnh vực mới để đạt mục tiêu đưa kim ngạch thương mại hai chiều lên 15 tỷ USD vào năm 2020 [Tuyên bố chung: 05.09.2016].

Việt Nam đang trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với các doanh nghiệp Ấn Độ. Tính đến tháng 9/2016, Ấn Độ có 149 dự án trị giá hơn 700 triệu USD, đứng thứ 25 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Sau khi Tập đoàn TATA của Ấn Độ triển khai dự án nhà máy nhiệt điện Long Phú II tại Sóc Trăng trị giá gần 2 tỷ USD thì số vốn đầu tư của Ấn Độ tại Việt Nam sẽ tăng lên gấp bội lần [Tuyên bố chung: 05.09.2016].

Có thể khẳng định rằng, quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại Việt Nam - Ấn Độ đang đứng trước nhiều thời cơ tiềm năng, nhưng cũng không ít rào cản cần tháo gỡ để phát triển.

- Tiềm năng hợp tác kinh tế Việt Nam - Ấn Độ rất lớn và không ngừng được mở rộng.

Ở cấp độ vĩ mô, trước hết, quan hệ trong sáng, thủy chung giữa hai nước là niềm tin chính trị, nền tảng pháp lý quan trọng để hai nước yên tâm, chủ động khai thác mọi tiềm năng sẵn có và xóa bỏ những rào cản để phát triển quan hệ mọi mặt, nhất là về kinh tế. Hai là, Việt Nam và Ấn Độ là hai quốc gia đông dân (Việt Nam có 95 triệu người, Ấn Độ có khoảng 1,3 tỷ người), phần lớn là dân số trẻ, sức lao động dồi dào, giá nhân công lao động còn rẻ so với các nước trong khu vực và thế giới, sức tiêu thụ tăng nhanh, là cơ hội cho phát triển hợp tác kinh tế, thương mại. Ba là, Việt Nam và Ấn Độ đều là hai nền kinh tế mới nổi, có tốc độ tăng trưởng cao, đứng đầu khu vực và thế giới (Việt Nam tăng trưởng khoảng 6,6-6,7%; Ấn Độ tăng trưởng trên 7%) [Nguyễn Thị Kim Ngân: 08.10.2017]. Điều này chứng tỏ rằng, chính sách phát triển kinh tế của hai nước có nhiều tiến triển, tương đối phù hợp, tạo tiền đề cho các hoạt động đầu tư, thương mại, dịch chuyển vốn của hai nước đang phát triển. Các thị trường lao động, việc làm, dịch vụ, hàng hóa, du lịch,… của hai nước đang tăng trưởng nhanh, tạo cơ hội cho giao thương giữa hai nước phát triển. Bốn là, nhu cầu tiêu dùng của người dân hai nước rất lớn về số lượng và không quá khắt khe về chất lượng nên yêu cầu chất lượng hàng hóa nhập khẩu vào thị trường hai nước không quá khắt khe như EU, Mỹ, Nhật Bản.

Ở cấp độ vi mô, các cơ sở pháp lý cho phát triển hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Ấn Độ đã được xác lập và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện. Một là, hai bên đều tăng cường các chuyến thăm cấp bộ trưởng và thứ trưởng các bộ chuyên ngành, tiến hành ký kết nhiều văn bản pháp lý quan trọng tạo tiền đề rộng mở cho các ngành nghề triển khai các hoạt động hợp tác cụ thể trên nhiều lĩnh vực. Hai là, các bản ghi nhớ, cam kết, hợp tác, hiệp định về kinh tế, thương mại giữa hai nước đã được xác lập, đã tạo những cơ sở pháp lý để thúc đẩy quan hệ kinh tế song phương. Ba là, các diễn đàn doanh nghiệp của hai nước được thành lập và triển khai các hoạt động. Bốn là, việc Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được thiết lập tháng 12/2015 [Tuyên bố chung: 05.09.2016] mở ra nhiều cơ hội và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Ấn Độ đến kinh doanh tại khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Năm là, việc hoàn tất khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ, với Hiệp định ASEAN - Ấn Độ về thương mại, dịch vụ và đầu tư có hiệu lực từ 01/7/2015 [Tuyên bố chung: 05.09.2016] mở ra tiềm năng hợp tác giữa Ấn Độ và Việt Nam. Sáu là, vai trò trụ cột của Việt Nam trong Chính sách Hành động phía Đông (Act East Policy) của Ấn Độ và trong chiến lược của Ấn Độ tăng cường hội nhập với các nước Campuchia, Lào, Mianma và Việt Nam (CLMV) tạo lợi thế lớn cho Việt Nam trong việc tăng cường hợp tác kinh tế với Ấn Độ. Bảy là, việc điều hành chính sách tiền tệ và quản lý các tổ chức tín dụng nói chung, hoạt động của hệ thống ngân hàng nói riêng, là cơ hội cho việc trao đổi, hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực này. Tám là, thị trường tài chính nói chung, hệ thống hải quan, bảo hiểm, tài chính vi mô,… nói riêng của hai nước đang ở trình độ phát triển tương đồng. Đây cũng là cơ hội cho việc trao đổi hợp tác trong lĩnh vực này. Chín là, tiềm năng các mặt hàng Việt Nam đã và đang xuất khẩu sang Ấn Độ rất lớn như: nông lâm thủy sản; điện thoại và các linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và các linh kiện đi kèm; xơ sợi dệt; hóa chất; gỗ và các chế phẩm từ gỗ; cao su; kim loại thường khác và các sản phẩm; mây tre, cói; gốm sứ; bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc; thức ăn gia súc và nguyên liệu và nguyên phụ liệu dệt may, da giày [Tuyết Nhung: 22.12.2017],… Mười là, tiềm năng các mặt hàng xuất khẩu của Ấn Độ sang Việt Nam cũng không nhỏ, ví dụ: nguyên phụ liệu thức ăn gia súc; máy móc thiết bị; tân dược; chất dẻo nguyên liệu; sắt thép và kim loại khác; nguyên phụ liệu dược phẩm; nguyên phụ liệu dệt may và da, vải các loại; thuốc trừ sâu và nhiều mặt hàng khác [Tuyết Nhung: 22.12.2017].

- Những rào cản trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Ấn Độ cần được tháo gỡ

Một là, tác động của các yếu tố quốc tế và các văn kiện khu vực tới hoạch định chính sách của Việt Nam. Hai là, tính chủ động của các doanh nghiệp Việt Nam chưa cao. Doanh nghiệp Việt Nam nói chung còn ít quan tâm, hiểu biết về thị trường thế giới và pháp luật quốc tế, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bảo hộ của nhà nước còn nặng. Đây là rào cản về nhận thức làm cho các doanh nghiệp Việt Nam chưa sẵn sàng vươn ra sông biển lớn. Tương tự như vậy, doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đến thị trường Ấn Độ chưa nhiều. Ba là, còn nhiều vấn đề đặt ra với hệ thống chính sách, pháp luật về kinh doanh - thương mại của Việt Nam. Bốn là, cơ chế, chính sách quản lý xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện vẫn chưa theo kịp tiến độ hội nhập khu vực và toàn cầu nói chung và với sự biến động của Ấn Độ nói riêng. Năm là, sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam chưa cao. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đều có những hạn chế nhất định về sức cạnh tranh, đơn giản về mẫu mã, tiêu chuẩn kỹ thuật không phải lúc nào cũng đảm bảo, chất lượng sản phẩm còn thấp, thiếu tính bền vững. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế trong việc khảo sát thị trường, khả năng đàm phán, giao dịch các hợp đồng ngoại thương cũng như nắm bắt phong tục tập quán kinh doanh còn hạn chế nên gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh. Thực tiễn khi tham gia các diễn đàn doanh nghiệp, các hội chợ doanh nghiệp ở Việt Nam và Ấn Độ, cũng như các vụ kiện chống bán phá giá diễn ra trong những năm gần đây cho thấy sự non kém của các doanh nghiệp Việt Nam trên thương trường khu vực và quốc tế. Nếu cứ giữ tình trạng này thì việc xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường khu vực và thế giới, nhất là thị trường Ấn Độ, sẽ còn gặp nhiều trở ngại. Sáu là, về địa lý, lịch sử, văn hóa, Việt Nam và Ấn Độ có khoảng cách địa lý tương đối xa, hạ tầng giao thông không thuận tiện, kể cả đường bộ, đường không và đường biển. Điều kiện cơ sở hạ tầng chưa phát triển cân xứng giữa các vùng miền, sự khác biệt về văn hóa, tập quán, ngôn ngữ làm ảnh hưởng đến sự tiếp cận thông tin thị trường là những lực cản, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động đầu tư, xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam và Ấn Độ. Bảy là, số lượng các biện pháp bảo hộ mậu dịch có xu hướng gia tăng. Việc sử dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch là thực trạng chung của các nước trên thế giới hiện nay. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch này cũng không đồng đều, trong đó, Ấn Độ sử dụng 101 biện pháp, chỉ đứng sau các nước top đầu thế giới như Argentina với 182 biện pháp. Việc sử dụng nhiều biện pháp bảo hộ mậu dịch sẽ cản trở cho việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường Ấn Độ. Tám là, phòng hộ thương mại, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ đang có xu thế gia tăng. So với các nước trên thế giới, Ấn Độ là nước sử dụng nhiều nhất các biện pháp chống bán phá giá với 656 vụ kiện bán phá giá [Hoàng Thị Bích Loan: 2017]. Việc xuất khẩu một số mặt hàng, đặc biệt là nông sản của Việt Nam sang thị trường Ấn Độ đang đối mặt với nhiều thử thách. Chín là, cơ cấu hàng xuất khẩu và nhập khẩu của hai nước hiện vẫn chưa hợp lý. Thực tế, trong quan hệ thương mại song phương những năm gần đây, Việt Nam vẫn là nước nhập siêu khá lớn từ Ấn Độ. Trong bối cảnh mới, khi hai nước đã nâng cấp thành đối tác chiến lược toàn diện và những cơ hội ưu đãi của các Hiệp định như CPTTP, FTA,… được thực thi, nếu Việt Nam không thay đổi thì tình trạng lệ thuộc và nhập siêu lớn của Việt Nam vào thị trường Ấn Độ sẽ tiếp tục tiếp diễn với tần suất và số lượng ngày càng gia tăng. Mười là, những đổi mới trong chính sách của Ấn Độ vừa thuận lợi nhưng cũng là thách thức, rào cản đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Xét quan hệ thương mại song phương Việt Nam - Ấn Độ thì đây là rào cản lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Vì do năng lực còn hạn chế, nhiều mặt hàng công nghiệp dân sự của Việt Nam chất lượng thấp, giá thành tương đối cao, tính cạnh tranh hạn chế so với các loại hàng hóa tương tự của doanh nghiệp các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, nên sẽ khó thâm nhập vào thị trường Ấn Độ. Mặt khác, khi mở cửa theo Hiệp định song phương và đa phương giữa Ấn Độ với Việt Nam và ASEAN - Ấn Độ, do cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam và Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng, nên sẽ có nhiều mặt hàng, ngành, lĩnh vực phải cạnh tranh,… nếu không chủ động, không sáng tạo, nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải thu hẹp sản xuất hoặc giải thể. Đây là thực tế của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam và cả Ấn Độ đều phải tính toán, đương đầu, vượt qua thử thách để tồn tại và phát triển.

Để phát huy tiềm năng, tháo bỏ được những rào cản, rất cần sự đồng lòng, quyết tâm lớn của hai nước. Ở cấp độ vĩ mô, hai nước đã có quan hệ bền chặt, chung thủy lâu dài, đã có niềm tin chính trị cao. Điều còn lại là ở cấp thực thi chiến lược, cần phải huy động được trí tuệ, sự năng động, sáng tạo của cả cộng đồng hai nước, trong đó quan trọng là các học giả, giới trí thức, giới lãnh đạo, quản lý cấp bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.

* Về hợp tác năng lượng
Ấn Độ là một nước có nhiều tiềm năng cả về năng lượng truyền thống và phi truyền thống. Điểm nổi bật nhất của Ấn Độ là tiềm năng và kinh nghiệm sản xuất các nguồn năng lượng tái tạo và điện hạt nhân. Ấn Độ là quốc gia duy nhất trên thế giới thành lập Bộ Năng lượng tái tạo và năng lượng mới (MNRE) [Nguyễn Cảnh Huệ, Võ Minh Tập: 2017] trong cơ quan Chính phủ. Điều này cho thấy, Chính phủ Ấn Độ đang quyết tâm đẩy mạnh hướng phát triển năng lượng tái tạo để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của đất nước. Hiện nay, Ấn Độ đang nổi lên như một thị trường ngày càng tăng về năng lượng sinh học, năng lượng gió, mặt trời và thủy điện.

Hợp tác năng lượng Việt Nam - Ấn Độ được xem là một trong 5 trụ cột chính trong quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện. Hợp tác song phương giữa hai nước trong lĩnh vực này đã được tiến hành từ những năm 80 thế kỷ XX, khi các công ty Ấn Độ tiến hành thăm dò và khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên Biển Đông. Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, lĩnh vực hợp tác này giữa Việt Nam và Ấn Độ tiếp tục phát triển. Từ năm 2006, Việt Nam đã cấp giấy phép, quyền thăm dò khai thác hai lô 127 và 128 ở vùng Biển Đông của Việt Nam cho Tập đoàn Dầu khi quốc gia Ấn Độ (ONGC). Tháng 11-2011, Việt Nam và Ấn Độ đã ký kết sáu thỏa thuận, bao gồm một Hiệp ước để thúc đẩy khai thác dầu vùng Biển Đông. Trong chuyến thăm Việt Nam từ 24 đến 26-8-2014 của Ngoại trưởng Ấn Độ S. Swaraj, Việt Nam đã gia hạn hợp đồng thăm dò hai lô dầu thêm 1 năm cho ONGC. Trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee, tháng 9-2014, hai nước cũng đã ký kết 7 thỏa thuận quan trọng, trong đó có thỏa thuận về hợp tác dầu khí song phương tại Biển Đông. Công ty dầu khí quốc gia hải ngoại của Ấn Độ (OVL) thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Ấn Độ (ONGC) đã ký với Petro Việt Nam một ý định thư nhằm tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai bên trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí [Toàn văn Tuyên bố chung: 21.04.2015]. Theo đó, phía Ấn Độ sẽ hợp tác với Việt Nam trong việc thăm dò, khai thác hai lô mang ký hiệu 102/10 và 106/10 ở Biển Đông, đồng thời Ấn Độ tiếp tục thăm dò và khai thác lô dầu khí thứ ba ở Biển Đông, lô 128 được phía Việt Nam gia hạn. Ngoài ra, Ấn Độ “bơm” thêm 145,9 triệu USD vào lĩnh vực khai thác khí đốt ở Biển Đông.

Ngoài hợp tác trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí, Việt Nam và Ấn Độ cũng đánh giá cao tầm quan trọng của năng lượng tái tạo và bày tỏ tin tưởng cả Việt Nam và Ấn Độ đều được hưởng lợi trong việc tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo để sản xuất điện năng. Phía Việt Nam hoan nghênh Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đề xuất kế hoạch sản xuất 175 GW điện từ năng lượng tái tạo vào năm 2022, trong đó có 100 GW điện mặt trời và 60GWW điện gió. Trên tinh thần đó, cả Việt Nam và Ấn Độ đề nghị hai bên thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực này.

Về văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và ngoại giao nhân dân
Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt Nam - Ấn Độ đã diễn ra hơn 2.000 năm nay và đã gặt hái được nhiều thành quả, trong đó, điểm nổi bật là xây dựng được lòng tin giữa hai nền văn hóa, làm cho nội hàm văn hóa ngày càng phong phú, sống động. Từ thời cận đại đến nay, mối quan hệ giữa hai nước luôn được duy trì và phát triển thông qua những nhân vật lịch sử. Năm 1921, Hồ Chí Minh đã viết bài báo đầu tiên về Ấn Độ có tên là “Phong trào cách mạng ở Ấn Độ” [Hồ Chí Minh: 2011, 55-56]. Trong khoảng thời gian từ 1924-1929, Hồ Chí Minh đã công bố thêm nhiều bài báo về phong trào công nhân, nông dân Ấn Độ,… [Hồ Chí Minh: 2011, 350-352, 356-358, 359-362, 363-366]. Năm 1928, khi tham gia Hội nghị phát động phong trào chống chiến tranh đế quốc tại Brussel, Bỉ, Nguyễn Ái Quốc đã gặp nhà yêu nước Motilal Nehru, cha của Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru.

Những bài viết về Ấn Độ và các cuộc gặp gỡ giữa những nhà yêu nước của hai quốc gia đã đặt nền tảng quan trọng cho quan hệ Việt Nam - Ấn Độ. Từ năm 1954 trở đi, các chuyến thăm của lãnh tụ hai nước được tăng cường: 17/10/1954, Thủ tướng Jawaharlal Nehru đến thăm Hà Nội, Việt Nam, 08-4-1955, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Ấn Độ. Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm Ấn Độ. Năm 1969, khi Bác Hồ tạ thế, Chính quyền Tây Bengal và Hội đồng thành phố Kolkata quyết định đổi tên phố Harington (nơi đặt cơ quan lãnh sự Anh, Mỹ) thành tên phố Hồ Chí Minh. Sau năm 1975, quan hệ hai nước có nhiều tiến triển. Hai nước quyết định thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ. Năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Ấn Độ. Trong chuyến thăm này, hai nước đã ký nhiều hiệp định hợp tác về văn hóa, khoa học kỹ thuật. Sau chuyến thăm này, các hoạt động văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo được tăng cường, nhiều liên hoan phim Việt Nam được tổ chức tại Ấn Độ. Từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam và Ấn Độ được xem là mũi nhọn, là trụ cột nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển trên cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Hai nước thường xuyên phối hợp tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, nghệ thuật như Liên hoan Hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ hai năm một lần, khai trương Trung tâm Văn hóa Ấn Độ tại Hà Nội, Những ngày văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam, Những ngày văn hóa Việt Nam tại Ấn Độ,… đã thể hiện rõ nét tương đồng văn hóa, góp phần nâng cao nhận thức, sự hiểu biết về nhau, tạo nền móng vững chắc cho sự hợp tác lâu bền giữa nhân dân hai nước trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, thương mại, quốc phòng, an ninh. Việt Nam và Ấn Độ đã ký kết nhiều chương trình giao lưu văn hóa, đặc biệt là dự án 3 triệu USD, Ấn Độ hỗ trợ cho việc bảo tồn di tích Thánh địa Mỹ Sơn [Do Thu Ha].

Chính phủ Ấn Độ đặt bối cảnh và tầm nhìn mới của mối quan hệ song phương vào khuôn khổ chính sách Hành động phía Đông của Ấn Độ, có vai trò trọng yếu về mặt lịch sử, địa lý và không gian kinh tế, chiến lược mà hai nước cùng quan tâm.

Nhìn vào thực trạng hợp tác hiện nay giữa hai nước, phải thừa nhận rằng, kết quả hợp tác song phương trong một số lĩnh vực trụ cột vẫn còn hạn chế so với tiềm năng và kỳ vọng của mỗi nước, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, cách tiếp cận mới. Ngoài những yếu tố khách quan như tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu vẫn còn để lại dư chấn; bối cảnh mới trong khu vực và thế giới có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc, phức tạp, khó lường, yếu tố chủ quan như thiếu hụt thông tin, nhất là thông tin chuyên sâu về khoa học công nghệ, thông tin về thị trường, sự cách trở về địa lý, những nét khác biệt về văn hóa - tâm lý, thói quen, v.v... đều là những rào cản cho hợp tác phát triển.

Hơn 45 năm qua, Việt Nam - Ấn Độ đã xây dựng được quan hệ hợp tác tốt đẹp với độ tin cậy chính trị cao, nhưng để hiện thực hóa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện rất cần tinh thần trách nhiệm, thái độ nhiệt thành, sự thấu hiểu nhau thông qua các diễn đàn, đặc biệt là diễn đàn khoa học, và trên hết là tư duy nhạy bén, năng động. Vì mọi giới hạn cho sự phát triển đều từ chính con người, từ cách tổ chức, những nguyên tắc vận hành các định chế, cho đến xây dựng cơ chế triển khai từng công việc. Bởi vậy, việc tổ chức hội thảo khoa học, giao lưu, tọa đàm, nghiên cứu thực tế lôi cuốn được sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học hai nước, bàn luận, trao đổi, đề xuất, kiến nghị nhiều vấn đề xung quanh chủ đề lớn về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ là việc làm rất có ý nghĩa.

Với mong muốn quan hệ Việt Nam - Ấn Độ gặt hái được nhiều kết quả, rất cần giới chính khách, học giả Việt Nam và Ấn Độ đi sâu nghiên cứu, luận giải rõ hơn những nội dung chủ yếu sau:

1. Phân tích, đánh giá thực trạng, khẳng định những thành tựu đạt được trong quan hệ ngoại giao Việt Nam - Ấn Độ trên các lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, kinh tế - thương mại, quốc phòng – an ninh, năng lượng, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và ngoại giao nhân dân.

2. Phân tích, đánh giá những hạn chế, những rào cản do những nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động đến quan hệ Việt Nam - Ấn Độ; dự báo những triển vọng quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ trong thời gian tới.

3. Sự phát triển quan hệ Việt Nam - Ấn Độ có vai trò, tác động như thế nào đến sự phát triển của hai nước, đến hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới.

4. Đề xuất những giải pháp, kiến nghị, cung cấp những luận cứ khoa học góp phần đổi mới chủ trương, chính sách, đổi mới các hình thức hợp tác góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ.

5. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - với thị thế là cơ quan đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chủ chốt cho Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị của đất nước; là cơ quan nghiên cứu hàng đầu về khoa học chính trị và khoa học xã hội và nhân văn, nên làm gì và làm như thế nào để góp phần phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ lên tầm cao mới?

Tất cả chúng ta đều biết rằng, chính sách muốn hợp lý, tối ưu đều phải dựa trên độ tin cậy của các luận cứ khoa học. Tôi nghĩ rằng, việc nghiên cứu sâu, đề xuất luận cứ khoa học cho các nhà lãnh đạo hai nước hình thành chủ trương, chính sách đối ngoại song phương giữa hai nước sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ vì sự phát triển, phồn vinh của mỗi nước và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới./.
 
PGS TS Lê Văn Toan
Giám đốc sáng lập, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
 
Tài liệu tham khảo
Sách:
  1. Huệ, Nguyễn Cảnh và Tập, Võ Minh, 2017, “Hợp tác năng lượng Ấn Độ - ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI: Tiềm năng, kết quả đạt được và triển vọng”, đăng trong PGS, TS Lê Văn Toan (chủ biên), Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, năng lượng, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
  2. Jayadeva Ranade, 2016, “Ấn Độ - Việt Nam: Quan hệ chiến lược và quốc phòng”, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam - Ấn Độ: Bối cảnh mới, tầm nhìn mới”, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
  3. Loan, Hoàng Thị Bích, 2017, “Những rào cản và triển vọng trong quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ”, đăng trong sách Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, năng lượng, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
  4. Minh, Hồ Chí, 2011, Toàn tập, t.1 (1912-1924), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
  5. Quân, Nguyễn Hồng, 2011, “Đánh giá hợp tác quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ”, in trong Vijay Sakhuja (ed.), Quan hệ đối tác chiến lược Ấn Độ - Việt Nam: Khai thác các triển vọng để mở rộng hợp tác, New Delhi, Pentagon Press.
  6. Quân, Nguyễn Hồng, 2016, “Quan hệ quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam: điểm nhấn trong Chính sách Hành động phía Đông”, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam - Ấn Độ: Bối cảnh mới, tầm nhìn mới”, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
  7. Sanghamitra Sarma, 2016, “Mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trong thế kỷ châu Á - Thái Bình Dương: Quan hệ đối tác hướng tới tương lai, chia sẻ chiến lược”, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam - Ấn Độ: Bối cảnh mới, tầm nhìn mới”, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
  8. Toan, Lê Văn Toan, 2016, “Việt Nam - Ấn Độ: Bối cảnh mới, tầm nhìn mới”, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam - Ấn Độ: Bối cảnh mới, tầm nhìn mới”, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
  9. Tùng, Nguyễn Vũ và Tú, Đặng Cẩm, 2016, “Chính sách Hành động phía Đông của Ấn Độ: Nhân tố tác động và triển vọng 5 năm tới”, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam - Ấn Độ: Bối cảnh mới, tầm nhìn mới”, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
Ấn phẩm định kỳ:
  1. Đ.T, 2017, “Năm 2017, tỉ lệ hộ nghèo ước giảm còn 7%”, https://laodong.vn/kinh-te/nam-2017-ti-le-ho-ngheo-uoc-giam-con-duoi-7-569718.ldo; đăng ngày 12-10.
  2. Ghosh, P K, 2014, “Quan hệ chiến lược quốc phòng của Ấn Độ với Việt Nam”, The Diplomat, http://thediplomat.com; đăng ngày 11-11.
  3. Ha, Do Thu, “Cultural and Educational exchange between India and Vietnam in the context of a rising India”, ASEAN - India Network of think-tanks (AINTT), Deepening ASEAN - India Strategic Partnership.
  4. Ngân, Nguyễn Thị Kim, 2017, “Việt Nam - Ấn Độ: Tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện”, Báo Quốc tế, http://baoquocte.vn/viet-nam-an-do-tang-cuong-quan-he-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-58309.html; đăng ngày 08-10.
  5. Nhung, Tuyết, 2017, “Nhiều tập đoàn Ấn Độ tìm cơ hội đầu tư vào Việt Nam”, VCCI, http://enternews.vn/nhieu-tap-doan-an-do-tim-co-hoi-dau-tu-vao-viet-nam-122284.html; đăng ngày 22-12.
  6. Thảo, Phương, 2017, “Tứ giác kim cương: Thức giấc sau thập kỷ say ngủ”, https://news.zing.vn/tu-giac-kim-cuong-thuc-giac-sau-thap-ky-say-ngu-post795956.html; đăng ngày 15-11.
  7. Toan, Lê Văn, 2015, “Những đặc trưng của văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, Cơ quan nghiên cứu và ngôn luận khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ISSN 0868-2771, số 7.’
  8. “Ấn Độ giúp Việt Nam hiện đại hóa quốc phòng”, 2014,  http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/an-do-giup-vn-hien-dai-hoa-quoc-phong-204343.html; đăng ngày 28-10.
  9. “Đôi nét về quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam - Ấn Độ trong năm 2017”, 2018, https://customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan; đăng ngày 01-03.
  10. “Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee trong chuyến thăm và khai trương Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (ngày 15.9.2014)”, Website Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cis.org.vn,http://cis.org.vn/article/3/toan-van-bai-phat-bieu-cua-tong-thong-an-do-pranab-mukherjee-trong-chuyen-tham-va-khai-truong-trung-tam-nghien-cuu-an-do-tai-hoc-vien-chinh-tri-quoc-gia-ho-chi-minh-ngay-1592014.html; đăng ngày 15-04-2015.
  11. “Toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ nhân chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đến Ấn Độ” (27, 28 tháng 10-2014), Website Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, http://cis.org.vn/article/73/toan-van-tuyen-bo-chung-viet-nam-an-do-nhan-chuyen-tham-cua-thu-tuong-chinh-phu-nguyen-tan-dung-den-an-do.html; đăng ngày 21-04-2015.
  12. “Toàn văn Tuyên bố chung giữa Việt Nam và Ấn Độ(ngày 4-3-2018), Website Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, http://cis.org.vn/article/2639/toan-van-tuyen-bo-chung-giua-viet-nam-va-an-do-phan-1.html; đăng ngày 05-03-2018.
  13. “Tuyên bố chung giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Ấn Độ” (ngày 2-3 tháng 9/2016), Website Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cis.org.vn, http://cis.org.vn/article/1362/toan-van-tuyen-bo-chung-viet-nam-an-do-phan-1.html; đăng ngày 05-09-2016.

[1] Cho đến nay, Bộ Quốc phòng hai nước Việt Nam và Ấn Độ đã ký với nhau các bản ghi nhớ về hợp tác trao đổi quốc phòng (11/2009), Thỏa thuận về bảo vệ tương hỗ đối với trao đổi thông tin mật (11-2013), Biên bản ghi nhớ về đào tạo sĩ quan hải quân và không quân Việt Nam (11-2013), Bản ghi nhớ về thành lập quan hệ phối hợp nhằm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và phát triển hợp tác chung (5-2015) giữa cảnh sát biển Việt Nam và lực lượng bảo vệ bờ biển Ấn Độ.
 

Bấm vào đây để đọc bản tiếng Anh của bài viết này/Click here to read the English version of this article
            
            Bấm vào đây để đọc bài viết liên quan/Click here to read the related article
         
QUAN HỆ VIỆT NAM - ẤN ĐỘ: TỪ TRUYỀN THỐNG VỮNG BỀN ĐẾN HIỆN ĐẠI RỘNG MỞ

Bình luận của bạn