cis_banner_final_en.png
Từ “Nehru không liên kết” đến “Modi đa liên kết”

13/02/2020


Từ “Nehru không liên kết” đến “Modi đa liên kết”

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài bình luận về chính sách đối ngoại của Ấn Độ “Từ Nehru không liên kết đến Modi đa liên kết”. Bài viết của tác giả Atul Bhardwaj, Khoa Chính trị quốc tế, Đại học Thành phố Luân Đôn, Anh, đã xuất bản trên Tuần san “Kinh tế Chính trị Ấn Độ”, tháng 1/2020.


Không có nhiều điểm khác biệt trong chính sách đối ngoại của Jawaharlal Nehru và Narendra Modi. Cả hai chính sách đều liên kết với Mỹ để phục vụ lợi ích của mình. “Nehru không liên kết” và “Modi đa liên kết” đều không thích phải đối chọi với sức mạnh cứng cũng như sức mạnh mềm của người Mỹ. Cả hai chính sách đều coi Mỹ là đối tác tự nhiên của Ấn Độ.
 
Càng nghe những bài phát biểu của Ngoại trưởng Ấn Độ S. Jaishankar, tôi càng tin rằng, chính sách đối ngoại của Ấn Độ tiếp tục đi theo phong cách ngoại giao của  của Nehru khi đàm phán với các cường quốc của thế giới. Jaishankar mô tả chính sách đối ngoại của Nehru (1946-1962) là kỷ nguyên của “phong trào không liên kết lạc quan”, với mục tiêu là củng cố chủ quyền, sự liêm chính và phát triển kinh tế của Ấn Độ. Song song với đó, còn có một mục tiêu nữa là đưa Ấn Độ thành lực lượng tiên phong của phong trào đoàn kết của các nước thuộc thế giới thứ ba (MEA 2019b).

Trong những bài phát biểu đậm văn phong hùng biện, phong cách của Jaishankar ngày càng giống Jawaharlal Nehru. Tại lễ bế mạc vòng Đối thoại Raisina gần đây, ông nói: “Chúng ta còn nợ người dân Ấn Độ một chính thể hùng cường, một quyền lực công bằng, một tiếng nói chuẩn mực của nhân dân phía Nam bán cầu” (Bagchi 2020), phát biểu này báo hiệu rõ ràng rằng, Ấn Độ đã không từ bỏ tâm nguyện của Nehru là trở thành lá cờ đầu của phía Nam bán cầu.
 
Khẳng định sự độc lập trong chính sách đối ngoại, Jaishankar gần như lặp lại những lời kêu gọi dân tộc của Nehru, khi ông trả lời phỏng vấn của tờ báo Tấm gương (Der Spiegel, Đức), sự khẳng định của Jaishankar gây ra một chút ngạc nhiên vì bản thân ông không phải là người quá sùng bái phong trào không liên kết hay sự tự trị chiến lược, vốn là hai điểm cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Nehru đối với các cường quốc. Tại sao Jaishankar đưa mối quan hệ Ấn Độ-Mỹ đang ngày càng trở nên thân thiết vào trong nội hàm của chủ nghĩa dân tộc? Ấn Độ đã thiết lập mối quan hệ chiến lược với Mỹ, không có lý do gì phủ nhận rằng, Ấn Độ đang phục vụ nhu cầu chiến lược của Mỹ. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã tự tin tuyên bố tại Quốc hội Mỹ năm 2016 rằng, mối quan hệ Ấn Độ-Mỹ đã vượt qua “sự do dự của lịch sử” (George 2019: 57), cho thấy rằng, không giống như Nehru, ông không bị ràng buộc bởi bất kỳ sự ép buộc lịch sử nào xuất hiện từ phía Mỹ.
 
Có lẽ, Jaishankar hiểu rõ hơn Modi rằng, chừng nào phương Tây còn giữ vai trò dẫn dắt các vấn đề toàn cầu, khi đó tư tưởng của Nehru vẫn còn có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ, cho dù Đảng Bharatiya Janata (BJP) có thể vẫn cố cho rằng, họ không chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nehru. Điều này là do chính sách đối ngoại của Nehru bắt nguồn từ trật tự quốc tế tự do. Niềm tin của ông vào “thế giới đại đồng” và việc Liên hợp quốc (UN) có thể mở ra kỷ nguyên hòa bình là sản phẩm phụ của cam kết của ông đối với trật tự thế giới do Mỹ chi phối sau chiến tranh. Do đó, có một yếu tố gây ảo giác trong phong trào không liên kết của Nehru, Ram Manohar Lohia đã nhận xét, không liên kết không phải là trung lập, mà là theo cả hai phe… Một lãnh đạo này theo phe Mỹ, một lãnh đạo khác trong cùng một chính phủ theo phe Nga, và người đứng đầu chính phủ phải giữ lấy sự thăng bằng, bằng cách gọi đây là “không liên kết” (Wofford 2001: 25).

Tư thế và chính sách
Nehru có thực sự sống trong một thế giới tưởng tượng, trong thế giới đó, ông quan niệm rằng, sự bình đẳng được duy trì từ hai khối quyền lực trong một thế giới phân cực cao sau chiến tranh? Liên kết một cách lộ liễu với Mỹ không được coi là hướng đi có lợi cho quốc gia có quy mô lớn và vị trí địa chiến lược như Ấn Độ. Ấn Độ thoải mái gia nhập phe thân Mỹ như Pakistan hoặc Philippines đã làm.
 
Vào thời điểm chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ dựa trên sự tương phản của Ấn Độ với phương Tây, Nehru rất khó để liên kết với Mỹ - lãnh đạo của chủ nghĩa tư bản phương Tây, vì như vậy sẽ làm suy yếu tinh thần của chủ nghĩa dân tộc trong nước. Đối với phương Tây, điều quan trọng là, Ấn Độ đã trở thành một quốc gia hậu thuộc địa đầu tiên công khai phát triển nền dân chủ tự do theo kiểu phương Tây, và đã nổi lên như một hình mẫu cho các quốc gia châu Á mới độc lập. Chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ là sức mạnh, và bất kỳ sự liên kết nào với Liên Xô là không thể công khai bởi vì giới lãnh đạo cực đoan không cho phép Nehru biến Ấn Độ thành vệ tinh của Liên Xô.
 
Chúng ta đang có vấn đề lớn trong việc hiểu đúng về Nehru. Hầu hết những phân tích của chúng ta từ trước đến nay dựa trên những gì Nehru nói, hơn là những gì Nehru hành động. Nehru làm nhiều người nghĩ rằng, ông ta là một người theo thuyết lý tưởng hóa và là một người theo chủ thuyết xã hội, và nhiều người đã tin như vậy. Những nỗ lực của Nehru tại Bandung và Belgrade thường được nhắc lại để làm nổi bật các mục tiêu chính sách đối ngoại của ông. Tuy nhiên, những gì đã xảy ra trước Hội nghị Bandung năm 1955 và trong giai đoạn giữa Bandung và Belgrade, địa điểm tổ chức hội nghị thượng đỉnh không liên kết đầu tiên vào năm 1961, thường bị bỏ qua trong nhiều bài phân tích của chúng ta.

Vào cuối những năm 1940, niềm tin của Nehru về sự không liên kết đã bị dao động; ông không còn phản đối việc liên kết quân sự với Mỹ. Ngay lập tức, khi tiếp quản chính phủ, Nehru đã phải đối mặt với tình hình quân sự đang leo thang ở Kashmir. Những kẻ gièm pha Nehru thường đổ lỗi cho ông vì đã không đưa ra giải pháp quân sự ở Kashmir và không đưa vấn đề này ra Liên hợp quốc. Tuy nhiên, sự thật đã được M.S. Venkataramani, cố giáo sư nổi tiếng về Nghiên cứu Hoa Kỳ tại Đại học Jawaharlal Nehru, tìm thấy từ tài liệu lưu trữ của Mỹ, tiết lộ một câu chuyện rất khác. Chưa đầy sáu tháng sau khi giành độc lập, Nehru đã tiến hành mua sắm vũ khí cho Quân đội Ấn Độ. Nehru rất quan tâm đến việc xây dựng năng lực quân sự của Ấn Độ, và vì vậy ông đã phớt lờ Asaf Ali, Đại sứ Ấn Độ tại Mỹ, và chỉ đạo Đại tá BM Kaul (người sau đó trở thành Trung tướng vào đầu những năm 1960), tùy viên quốc phòng của Ấn Độ tại Washington, để bắt đầu quá trình mua vũ khí (Venkataramani 1999).
 
Nehru không có nhiều niềm tin vào Ali, người mà chắc chắn Nehru đã không chọn để trở thành Đại sứ đầu tiên của Ấn Độ tại Mỹ. Ali có lẽ đã được người Anh khen thưởng vì đã tham gia quân ngũ Anh trong Thế chiến II.

Nehru thích Kaul hơn Ali vì Ali bị coi là một kẻ lạc hậu, và Kaul, theo K Subrahmanyam, tạo được mối quan hệ tốt hơn với Louis Johnson và những người Mỹ có ảnh hưởng khác. Vào ngày 27/1/1948, Kaul đã gặp Đại tá J Garling, phụ trách các đại diện quân sự nước ngoài, và yêu cầu Garling sắp xếp việc giao 1.000 xe jeep và máy bay ném bom B-25 Mitchell trước tháng 5/1948 và 31 máy bay ném bom khác sau đó (Subrahmanyam 2005). Kaul thất bại trong việc gây ấn tượng với người Mỹ. Sự thờ ơ của người Mỹ đã khiến Chính phủ Ấn Độ gửi tín hiệu xoa dịu đến Chính quyền Truman và đảm bảo với họ rằng, Chính quyền Nehru sẽ tuân thủ chủ nghĩa trung lập bằng hành động chứ không chỉ bằng lời nói.
 
Liên kết với Mỹ
Vào tháng 4/1948, Girija Shankar Bajpai, Tổng thư ký Bộ Ngoại giao Ấn Độ, đã nói với Washington rằng, trong mọi trường hợp, Ấn Độ sẽ không liên minh với Liên Xô trong cuộc chiến giữa hai siêu cường. Bajpai cũng đề xuất gửi một nhóm chuyên gia quân sự của Ấn Độ đến Mỹ để tìm hiểu khả năng có được thiết bị quân sự. Vào tháng 9/1948, Nehru trấn an người Mỹ rằng, Ấn Độ sẽ không đi theo Liên Xô. Mặc dù ý định của Ấn Độ đã rõ, Mỹ từ chối dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí đối với Ấn Độ và Pakistan (áp đặt sau bùng nổ cuộc xung đột ở Kashmir). Ấn Độ củng cố mong muốn được mua sắm vũ khí bằng cách cử Bộ trưởng Quốc phòng H.M. Patel đến Mỹ. Tuy nhiên, Patel cũng trở về tay không. Mặc dù người Mỹ từ chối bán vũ khí cho Ấn Độ, Nehru chưa bao giờ cố gắng tiếp cận Joseph Stalin để đổi lấy vũ khí hoặc lúa mì. Vào tháng 3/1949, sau khi vấn đề Kashmir lắng xuống, Mỹ đã dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí và Ấn Độ đã nhận được một đội xe tăng Sherman (đời cũ từ Thế chiến thứ hai) từ Mỹ (Venkataramani 1999).
 
Nước Mỹ đã bị nguyền rủa vì đưa vũ khí sang Ấn Độ như đưa lúa mì. Và, Mỹ chỉ bán vũ khí cho Ấn Độ khi các mỏ Ấn Độ đáp ứng 25% nhu cầu mangan của Mỹ, đồng thời, Ấn Độ cung cấp cho Mỹ hai khoáng chất quan trọng beryl và monazite, cho chương trình hạt nhân của Mỹ. Liên Xô vướng vào trận địa của chính sách đối ngoại của Ấn Độ, nhất là sau khi Stalin qua đời. Đây không phải là hành động không trung thành của Nehru đối với lợi ích của phe Anh-Mỹ. Giai đoạn hậu Stalin trong chính trị quốc tế được đánh dấu bằng sự tan băng trong quan hệ Đông-Tây. Vào năm 1955, khi Nehru đến thăm Moscow, nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev đang xây dựng cầu nối với phương Tây, đi thăm thủ đô phương Tây, thảo luận về hòa bình với phương Tây. Mối thù địch giữa Liên Xô và Mỹ càng làm cho Nehru đi theo đường lối không liên kết.

Tuy nhiên, cánh cửa cơ hội này đã đóng lại vào năm 1957, khi Ấn Độ bị khủng hoảng ngoại hối và buộc phải đến Ngân hàng Thế giới để nhận gói cứu trợ để cứu Kế hoạch 5 năm lần thứ hai. Lý do khác khiến Ấn Độ đến gần hơn với Mỹ là bất ổn chính trị gia tăng ở Tây Tạng. Mỹ đã triển khai các hoạt động bí mật bên trong lãnh thổ Trung Quốc, sử dụng thành phố Kalimpong (bang Tây Bengal) làm bệ phóng.
 
Năm 1959, Ấn Độ quyết định cho Dalai Lama và những người Tây Tạng ủng hộ ông tị nạn tại Ấn Độ. Điều này xoa dịu nước Mỹ, nhưng gây nguy hiểm cho mối quan hệ với Trung Quốc. Thần may mắn lại ủng hộ Nehru. Sự liên kết công khai của ông với Mỹ chống lại Trung Quốc không bị Liên Xô phản đối, vì Khrushchev đang bận rộn đến thăm Washington vào năm 1959. Những diễn biến của tình hình Chiến tranh Lạnh lúc đó đã hỗ trợ chính sách đối ngoại của Nehru rằng Ấn Độ đi theo lá cờ không liên kết. Mỹ công nhận sự đóng góp của Ấn Độ bằng cách phê duyệt khoản tài trợ cho Ấn Độ từ vốn của Quỹ cho vay phát triển (DLF).

Vào cuối tháng 12/1960, Ấn Độ đã nhận được 30 triệu USD cho cho Công ty Hóa chất và Phân bón Hindustan để trang trải chi phí ngoại hối khi xây dựng nhà máy phân bón tại Trombay. Tiếp theo đó là khoản vay 50 triệu USD với lãi suất 5,75% để cho phép mua thiết bị từ Mỹ để đáp ứng các mục tiêu phát triển được vạch ra trong Kế hoạch 5 năm lần thứ ba. Điều này đánh dấu thời kỳ hoàng kim trong quan hệ Ấn Độ - Mỹ. Năm 1959, Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower đã đến thăm Ấn Độ và được chào đón nồng nhiệt. Ông đã phát biểu tại một cuộc gặp với người dân tại Ramlila Maidan và cũng nói chuyện với các nghị sĩ. Chuyến thăm đã thúc đẩy tầng lớp chính trị thân Mỹ ở Ấn Độ hoạt động mạnh mẽ hơn để hạn chế khả năng của Nehru đến gần hơn với Trung Quốc và đẩy Nehru vào một cuộc chiến.

Sự thay đổi trong chính sách của Nehru bị Trung Quốc sử dụng như một cái cớ để tuyên chiến với Ấn Độ. Đây là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy chính sách đối ngoại của Nehru thực sự mạo hiểm, là chính sách cốt lõi, tràn đầy năng lượng và có lẽ là thân Mỹ, cũng như chính sách đối ngoại hiện tại của Ấn Độ dưới thời Modi. Chúng ta hy vọng rằng chính sách đối ngoại mạo hiểm không dẫn đến một cuộc chiến phù phiếm nào khác, như cuộc chiến trước đây khiến khu vực bị chia cắt và biên giới đóng cửa trong nửa thập kỷ.

Kết luận
Có quá nhiều điểm tương đồng giữa chính sách đối ngoại của Nehru và Modi. Cả hai chính sách đều bị chi phối bởi trật tự quốc tế tự do, được xây dựng và lãnh đạo bởi Mỹ. Nếu Nehru quảng bá Quỹ Ford như một biểu tượng của sức mạnh mềm của Mỹ ở Ấn Độ, thì Modi cũng thúc đẩy các tổ chức từ thiện của các doanh nghiệp Mỹ. Nếu Modi phản đối sự hiện diện của Quỹ Ford ở Ấn Độ, thì ông vẫn rất thoải mái khi nhận được Giải thưởng Người gìn giữ toàn cầu do Quỹ Bill và Melinda Gates trao tặng. Quỹ này phục vụ nhiều mục tiêu chính sách đối ngoại của Ấn Độ, cũng như Quỹ Ford. Trong khi Quỹ Ford là biểu tượng của cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai và là bước tiến của thế kỷ Mỹ, thì Quỹ Bill và Melinda Gates được thúc đẩy bởi một trong những nhân vật hàng đầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, và tham gia sâu vào việc thúc đẩy quyền bá chủ công nghệ Mỹ.

Vào những năm 1950, Mỹ muốn Ấn Độ trở thành đối trọng với Trung Quốc, và năm 2020, Mỹ đã thấy Ấn Độ bắt đầu giữ vai trò này. Vào cuối những năm 1950, giới tinh hoa Ấn Độ đứng đằng sau Mỹ, buộc Chính phủ Ấn Độ phải gây áp lực tối đa đối với Trung Quốc, cho dù họ biết rõ hậu quả sẽ như thế nào.
 
Khi những tay lái buôn mới chi phối điều hành nước Mỹ bằng cách thúc đẩy nền dân chủ tự do, Ấn Độ có Nehru, một chiến binh cho tự do và cũng là một nhân tố mới. Giờ đây, khi những người theo chủ nghĩa dân túy cánh hữu đang giữ vị trí thống trị vũ đài chính trị Mỹ, Ấn Độ có một nhà lãnh đạo cánh hữu độc đoán. Do đó, bất kể những thay đổi chính trị ở Mỹ có ra sao, Ấn Độ có khả năng vẫn là đồng minh của Mỹ.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn hy vọng rằng, giới tinh hoa chính trị và ngoại giao của Ấn Độ sẽ nhận thức rõ hơn về chiến lược lớn của Mỹ, đó là xúi giục và sử dụng các cuộc chiến tranh hạn chế ở ngoài nước Mỹ để tiếp tục thiết lập quyền bá chủ.
 
Tài liệu
tham khảo
Bagchi, Indrani (2020): “India Holds the Mirror to Its Critics,” Times of India, 16/1/2020.
Bhardwaj, Atul (2019): “India–America Relations (1942–62),” Rooted in Liberal International Order, Routledge: London.
George, Varghese K (2019): Open Embrace: India–US Ties in the Age of Modi and Trump, Penguin: Viking.
MEA (2019a): “EAM’s Interview to Der Spiegel,” 19 November,
https://mea.gov.in/interviews.htm?dtl/32052/EAMs_interview_to_Der_Spiegel,
truy cập ngày 10/1/2020.
— (2019b): “External Affairs Minister’s Speech at the 4th Ramnath Goenka Lecture,” 14/11/2019,
https://mea.gov.in/Speeches-Statements.htm?dtl/32038/External+Affairs+Ministers+speech+at+the+4th+Ramnath+Goenka+Lecture+2019,
truy cập ngày 10/1/2020.
Subrahmanyam, K (2005): “Arms and Politic,” Strategic Analysis, Vol 21, No 1.
Wofford, Harris (2001): Lohia and America Meet—1951 and 1964, New Delhi: BR Publishing.
Venkataramani, M S (1999): “An Elusive Military Relationship, Part II,” Frontline, 23/4/1999.
 

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ


Nguồn: https://www.epw.in/journal/2020/4/strategic-affairs/modis-multi-alignment-and-nehrus-non-alignment.html


Bấm vào đây để đọc bản tiếng Anh của bài viết này/Click here to read the English version of this article





 

Bình luận của bạn