cis_banner_final_en.png
Phân tích các yếu tố trong di sản Ấn Độ

18/02/2020


Phân tích các yếu tố trong di sản Ấn Độ

Đất nước Ấn Độ đã làm chủ khoa học và công nghệ hiện đại tiên tiến, thì đức tin của người dân xuất phát từ tư tưởng của nền văn minh xưa đã ăn sâu vào con người Ấn Độ.


Ấn Độ là một nền dân chủ sôi động, một nền kinh tế năng động, có tiềm năng lớn với dân số 1,3 tỷ người, trong đó hơn 65% dưới 35 tuổi. Đó là một đất nước có cơ cấu dân số trẻ nhưng còn là một nền văn minh cổ đại đã trường tồn qua những thăng trầm của thời gian. Đất nước Ấn Độ đã làm chủ khoa học và công nghệ hiện đại tiên tiến, thì đức tin của người dân xuất phát từ tư tưởng của nền văn minh xưa đã ăn sâu vào con người Ấn Độ.
 
Lối sống nhân văn
Người Ấn Độ gọi văn hóa của họ là “Manav Dharma” hay “manavasanskriti”, đó là cách sống chậm lòng nhân, đã đạt đến mức độ toàn diện nên có thể phản ảnh tất cả mọi mặt của cuộc sống. Lối sống đó chưa bao giờ ép ai phải thay đổi, nhưng tính toàn diện, đa dạng, linh hoạt và sức mạnh của các ý tưởng của nó, đã đưa nó vượt ra khỏi biên giới Ấn Độ.

Sức sống của văn hóa Ấn Độ nằm ở sự cân bằng giữa các tôn giáo, nơi đó các tín ngưỡng khác nhau chung sống hòa bình với nhau. Không có một tôn giáo, tín ngưỡng nào là tối thượng, cho dù đó là những người Nihilist, Brahman, Vedantist, hay những người theo triết lý Sankhya, hay cả những người tin theo Yoga, dạng tự ngã hay vô ngã, hay ở giữa hai dạng này, và “tất cả” những dạng khác. Mọi lời cầu nguyện thỉnh lên Quyền lực tối thượng bao trùm vũ trụ bằng bất cứ tên gọi nào là Anekantaveda, tạo ra lối suy nghĩ rằng con người buộc phải khác nhau về quan điểm và cách suy xét về cùng một đối tượng. Hệ quả của nó là sự hạn chế trong việc đưa ra phán xét, hay còn gọi là trạng thái không phán xét Syadvada, bởi vì mỗi người chỉ có thể hiểu một phần chứ không biết sự thật tuyệt đối.
 
Tích hợp với tính đa chiều và đa dạng của nó là sự sẵn sàng của văn hóa Ấn Độ để tương tác với các nền văn hóa khác và chấp nhận và cũng như bao dung các khía cạnh của nền văn hóa khác hòa vào văn hóa Ấn Độ. Người Hy Lạp và Ấn Độ đã có nhiều giao lưu, trao đổi với nhau. Ấn Độ chào đón Kitô giáo trong thế kỷ đầu tiên tôn giáo này ra đời. Trong thời trung cổ, Ấn Độ hấp thụ các yếu tố của văn hóa Hồi giáo. Và ngay sau khi tiếp xúc với người châu Âu, Ấn Độ ngay lập tức tiếp thu tốt nhất trong nền văn minh khoa học hiện đại của phương Tây.
 
Khái niệm con người
Trong tư tưởng Ấn Độ, một người được coi là thế giới vi mô của tổng thể hoặc là thế giới vĩ mô. Do đó, một cá nhân chỉ có thể hiểu mối quan hệ của mình với vũ trụ và các sinh vật khác bằng cách nghiên cứu và hiểu chính bản thân mình. Con người có nhiều đặc điểm tự nhiên giống như bản năng của động vật, hay còn gọi là pravrittis. Nhưng không giống như động vật, chúng có Buddhi, trí thông minh để phân biệt giữa đúng và không đúng trong việc dự đoán, tăng cường một số phán đoán và làm suy yếu những phán đoán khác, và biết kiềm chế sự thỏa mãn.
 
Theo tư tưởng Ấn Độ, ý thức của con người có ba khía cạnh chính: nhận thức hay còn gọi là gyana; mong muốn và cảm xúc hay ichcha; và hành động hay kriya. Cả ba phải được hoàn thiện thông qua yoga, yoga là kỷ luật của tâm trí và bản năng để cho phép một cá nhân hiểu chính bản thân, môi trường và mối quan hệ của cá nhân đó với tất cả chúng sinh xung quanh. Gyana yoga mở rộng ý thức của bản thân; bhakti yoga kiểm soát những ham muốn và cảm xúc của con người, và karma yoga dạy con người thực hiện những điều đúng đắn và ý thức được trách nhiệm của bản thân trong mỗi hành động. Đây là con đường tri âm được giải thích trong Gita. Các loại yoga khác bao gồm Hatha Yoga để kiểm soát và hoàn thiện cơ thể; Kundalini Yoga, để đánh thức các năng lực không hoạt động và tiềm năng ngoài ý thức; và Raja-Yoga để trải nghiệm Samadhi thông qua sự tập trung tâm trí.
 
Yoga không chỉ phụ thuộc vào quan sát cảm giác mà còn tinh chỉnh và hoàn thiện các quá trình hướng nội, trực giác và Samadhi hoặc trải nghiệm huyền bí. Yoga khiến con người nhận thức được rằng, cá nhân là trung tâm của một vòng tròn có chu vi không xác định cụ thể ở đâu, nghĩa là nó là vô hạn. Ngoài ra, trong bản chất sâu hơn của mình, con người giống hệt với trạng thái tinh thần sâu sắc nhất đang duy trì và tràn ngập vũ trụ. Trong bản chất tối thượng của mình, con người mang bản chất của thế giới. Do đó, người Upanishads tuyên bố mạnh mẽ Ayam Atman Brahman hoặc Bản ngã này là Hiện thực tuyệt đối; hoặc AhamBrahmasmi hoặc Tôi là Tuyệt đối, hay Tat TvamAsi, hoặc đó là nghệ thuật.
 
Sự liên kết
Tất cả các sản phẩm của sự sáng tạo được bắt nguồn từ cùng một Đấng tạo hóa Brahman, nhất thiết phải được kết nối với nhau mặc dù rõ ràng chúng tách biệt nhau. Đó là lý do tại sao Isha Upanishad tuyên bố rằng, bất cứ ai nhìn thấy tất cả chúng sinh trong cùng một Bản ngã và nhìn thấy cùng một bản ngã trong tất cả chúng sinh đều không ghét ai. Khi một người biết rằng, tất cả chúng sinh cuối cùng là Bản ngã và nhận ra sự thống nhất này trong trải nghiệm, thì người đó sẽ không còn có ảo tưởng hay đau buồn trong cuộc đời.

Tuy nhiên, một nhận thức như vậy chỉ có thể đạt được thông qua nhận thức từ nhiều những trải nghiệm khác nhau mà mỗi cá nhân trải qua trong quá trình cấu trúc của bản thể của cá nhân đó. Mỗi cá nhân có ba shariga, hay ba cơ thể. Đó là cơ thể vật lý, hay còn gọi là annamayasharira mà qua đó con người hoạt động thể chất. Tiếp đó là cơ thể tinh tế, hay sukshmasharira, được cấu thành từ những năng lượng sống, năng lực cảm giác và vận động, hay gyananendriyaskarmendriyas và các yếu tố tinh tế của tâm trí, trí thông minh và bản ngã. Thông qua đó, một cá nhân hoạt động cả trong trạng thái thức và trong trạng thái mơ. Cuối cùng là cơ thể nhân quả, hay karanasharir, là trạng thái ngủ sâu khi tất cả nhận thức kết thúc nhưng tiềm thức vẫn còn hoạt động. Tất cả chúng ta đi qua tất cả ba trạng thái này trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, mang lại sự đa dạng cho những trải nghiệm của chúng ta.
 
Nghiệp và luân hồi
Những kinh nghiệm sau đây có thể được sử dụng để giải thích ý tưởng về nghiệp và luân hồi. Giống như chúng ta thức dậy từ giấc ngủ sâu, sau khi chết, chúng ta vẫn quay trở lại thế giới. Đây là luật của nghiệp. Niềm tin là tất cả những suy nghĩ và hành động tự nguyện của chúng ta đều được khen thưởng hoặc trừng phạt theo luật công bằng gọi là Rtathat hoạt động theo trật tự vũ trụ. Vũ trụ không phải là một khối các nguyên tố và sự kiện hỗn độn, mà là một tổng thể được sắp xếp theo các quy luật hài hòa không linh hoạt, trong đó tất cả từ các thiên hà rộng lớn đến từng hạt nhân của một nguyên tử nguyên tử đều phụ thuộc vào những quy luật này. Công lý vũ trụ là một phần của trật tự vũ trụ, tạo ra sự cân bằng chặt chẽ giữa hành động và phản ứng. Anh linh của con người không bao giờ chết. Anh linh sẽ trở lại với cuộc sống để phát triển việc học hoặc nó có thể tiếp tục cho đến khi tìm được bài học. Vũ trụ này sẽ hỗn loạn và bất công sẽ cai trị trong vũ trụ nếu một con người chấm dứt tồn tại mà không phải trải qua những hệ quả của việc làm của mình, cả việc tốt lẫn xấu. Đó chính là bản chất của luật của nghiệp và tái sinh.
 
Bốn mục tiêu của cuộc sống
Có bốn purushastras hay mục tiêu để hướng dẫn cá nhân trong suốt cuộc đời. Đó là, dharma là bổn phận, artha là sự giàu có, kama là dục vọng bao gồm cả ham muốn tình dục, và moksha là giải thoát tối thượng khỏi mọi ham muốn. Có nhiều cách giải thích về các thuật ngữ này nhưng về bản chất, bất kỳ suy nghĩ hoặc hành động nào hỗ trợ, nuôi dưỡng, điều khiển và nâng đỡ đều là hành vi đúng đắn. Do đó, bổn phận của con người là đạt được sự giàu có và thực hiện những ham muốn nhưng theo cách mang tính đạo pháp đúng đắn, đó là duy trì và đóng góp cho lợi ích của tất cả mọi người. Và moksha không phải là một sự đoạn tuyệt vô vọng mọi ham muốn mà là một trạng thái cân bằng hoàn hảo, thờ ơ với cả nỗi đau và niềm vui; thích và không thích; không có bất kỳ định kiến hay thành kiến nào trong cùng một con người Brahman.
 
Kết luận
Điểm mấu chốt cuối cùng cho tất cả sự mơ hồ và mâu thuẫn phụ thuộc vào Buddhi, hay trí tuệ của một người, để xác định sự chân thật hay giả dối trong khi phán xét. Lời cầu nguyện vĩ đại nhất trong kinh Vệ đà, thần chú Gayatri, truyền cảm hứng cho đạo pháp đúng đắn để có sự hài hòa và cân bằng giữa khát vọng của cá nhân và xã hội.
 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Tác giả: Tiến sĩ Kavita A. Sharma, Chủ tịch Đại học Nam Á, New Delhi.
 
Nguồn: Bộ Ngoại
giao Ấn Độ
 
Bấm vào đây để đọc bản tiếng Anh của bài viết này/Click here to read the English version of this article

Bình luận của bạn