cis_banner_final_en.png
Từ chính sách “Xoay trục châu Á” đến Đạo luật sáng kiến tái bảo đảm châu Á của Trump: những động lực nào đằng sau chính sách châu Á của Mỹ? (Phần 1)

05/03/2020


Từ chính sách “Xoay trục châu Á” đến Đạo luật sáng kiến tái bảo đảm châu Á của Trump: những động lực nào đằng sau chính sách châu Á của Mỹ? (Phần 1)

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu “Từ chính sách “Xoay trục châu Á” đến Đạo luật sang kiến tái bảo đảm châu Á của Trump: những động lực nào đằng sau chính sách châu Á của Mỹ?”. Bài viết của Tiến sĩ Premesha Saha, nghiên cứu viên Quỹ Các nhà quan sát nghiên cứu (ORF) Ấn Độ, xuất bản tháng 2/2020. Bản dịch tiếng Việt của Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, tháng 3/2020.


Tóm tắt
Sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Donald Trump tới châu Á, năm 2017, khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương có ý nghĩa lớn hơn trong bài toán chính sách đối ngoại của Mỹ, như đã nêu trong Báo cáo Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương do Bộ Quốc phòng Mỹ công bố. Vào ngày 31/12/2018, Trump đã thông qua Đạo luật Sáng kiến Tái bảo đảm Châu Á (ARIA), cho phép chi 1,5 tỷ USD cho một loạt  chương trình của Mỹ ở Đông Á và Đông Nam Á, để phát triển tầm nhìn chiến lược dài hạn và toàn diện, trên nhiều khía cạnh, và theo cách nguyên tắc chính sách của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Bài viết này phân tích các động lực chính thúc đẩy chính sách của Trump về châu Á; những phản ứng và hàm ý đối với các nhân tố trong khu vực Đông Nam Á, Đông Á và Châu Đại Dương; những thách thức mà Mỹ sẽ phải đối mặt; và vị trí của Ấn Độ trong bối cảnh chính sách này.
 
Từ khóa: Mỹ, Ấn Độ, chính sách chiến lược, chính sách đối ngoại

Giới thiệu
Vào năm 2017, khi đó, Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson đã đưa ra khái niệm Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong một bài phát biểu về quan hệ Mỹ - Ấn Độ. Trong chuyến thăm châu Á cùng năm 2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nêu lại ý tưởng của Tillerson, và khái niệm này đã trở thành một phần không thể thiếu trong chính sách của Mỹ. Vào tháng 5/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis tuyên bố đổi tên “Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương” của Mỹ thành “Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”. Sau đó, 113,5 triệu USD tiền tài trợ ban đầu đã được công bố tại Diễn đàn doanh nghiệp Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tháng 7/2018 để thúc đẩy đầu tư khối doanh nghiệp tư nhân của Mỹ trong khu vực này. Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã trình bày chi tiết các đặc điểm của chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, mà Tillerson đã tuyên bố trước đó, phác thảo tầm nhìn cho khu vực “sẽ trở thành nơi mọi người đều có thể tiếp cận được, các tranh chấp được giải quyết một cách hòa bình, và là một khu vực “mở” về kinh tế đảm bảo cho thương mại công bằng, môi trường đầu tư rộng mở, thỏa thuận minh bạch giữa các quốc gia, và cải thiện kết nối”.
[1]
 
Theo quan điểm của Mỹ, về địa lý, Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trải dài từ bờ biển phía Tây của Mỹ đến bờ biển phía Tây của Ấn Độ. Báo cáo “Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” của Bộ Quốc phòng Mỹ
[2] phác thảo lợi ích của Mỹ cũng như những hành động Mỹ sẽ thực hiện trong khu vực này. Mỹ tập trung đặc biệt vào Đông Nam Á và Đông Á, vì các quan chức hàng đầu của Mỹ, như Mike Pompeo, Jim Mattis và Trump, đã nhận ra tính trung tâm của các khu vực này trong chiến lược mới Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP). Chiến lược FOIP được hình dung như một nỗ lực tập thể để đảm bảo sự tự do và rộng mở theo trật tự các quy tắc. Trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nhóm các quốc gia Đông Nam Á, cụ thể là ASEAN, là quan trọng nhất, và là trung tâm của sự đa cực châu Á, cũng là trung tâm của những nỗ lực của Trung Quốc nhằm làm suy yếu các quy tắc thúc đẩy lợi ích của Mỹ[3]. Nền tảng của khái niệm Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương chủ yếu được phát triển từ chính sách “xoay trục” hoặc “tái cân bằng” châu Á của Chính quyền Obama[4].
 
Đông Nam Á, Đông Á và Châu Đại Dương đã trở thành tâm điểm trong chính sách của Mỹ cũng được thể hiện rõ trong Đạo luật Sáng kiến Tái bảo đảm Châu Á (ARIA), do Tổng thống Mỹ Trump ký vào ngày 31/12/2018. Đạo luật này cho phép chi 1,5 tỷ USD cho một một loạt chương trình của Mỹ ở Đông Á và Đông Nam Á để “định hướng phát triển tầm nhìn chiến lược dài hạn và chính sách toàn diện, nhiều mặt và nguyên tắc của Mỹ tại khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương”
[5].
 
Chính sách “Xoay trục châu Á” dưới thời Tổng thống Obama
Dưới thời Tổng thống Mỹ Barack Obama, đã có một sự thay đổi đáng chú ý trong chiến lược của Mỹ tại Châu Á - Thái Bình Dương. Năm 2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton lưu ý rằng, Mỹ phải trở nên “thông minh và có hệ thống” trong đầu tư thời gian và nguồn lực. “Một trong những nhiệm vụ kiến thiết quốc gia quan trọng nhất của Mỹ trong thập kỷ tới sẽ gắn chặt với sự tăng cường bền vững trong đầu tư về ngoại giao, kinh tế, chiến lược và nhiều mặt khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương”. “Xoay trục” (mà sau này được đổi thành “Tái cân bằng”) châu Á liên quan đến việc làm sâu sắc hơn và tăng cường các cam kết liên minh với các đồng minh hiệp ước Mỹ, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc và Philippines, và xây dựng quan hệ đối tác mới với các quốc gia Đông Nam Á. Là một trong những quốc gia đối tác mới, Ấn Độ đảm nhận vai trò trung tâm, với tiềm năng phát triển thành một đồng minh chiến lược quan trọng của Mỹ
[6].
 
Về mặt quân sự, Mỹ cam kết duy trì 60% nguồn lực hải quân toàn cầu của Mỹ hiện diện trong khu vực này. Việc đưa quân đến vùng biển nước ngoài (ví dụ, đến Úc) đã được gia tăng, nhằm cả mục đích mang tính biểu tượng và chiến lược. Chính quyền Obama đã đầu tư nỗ lực ngoại giao quan trọng trong việc khẳng định lại cam kết an ninh với các đồng minh của Mỹ, ví dụ Nhật Bản và Philippines, cả hai nước này đều bị lôi kéo vào các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Mỹ thậm chí đã xem xét các cơ hội lập căn cứ hải quân mới trên vùng Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương
[7].
 
Tuy nhiên, Chính quyền Obama đã sớm bị kéo vào các vấn đề khác, như Nga sáp nhập Crimea và xâm chiếm miền Đông Ukraine; và sự gia tăng của các nhóm khủng bố mới ở Iraq và Syria, đe dọa châu Âu, Mỹ và thậm chí đe dọa một phần của châu Á - Thái Bình Dương. Đồng thời, Trung Quốc đang tăng cường nhiều hành động chiến lược, như gia tăng các hoạt động đàn áp ở Hồng Kông và Đài Loan, và tại vùng Biển Đông Việt Nam, Trung Quốc khởi động việc tuyên bố chủ quyền và xây dựng trên các đảo. Tất cả những việc này tạo ra sự chú ý quốc tế đáng kể, nhưng rất ít hành động cụ thể.

Đến cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Mỹ Obama, với việc Chính quyền Mỹ tập trung vào Trung Đông và Nga, các đồng minh châu Á đã cảm thấy thái độ thờ ơ của Mỹ và bắt đầu đặt câu hỏi về mức độ cam kết của Mỹ đối với khu vực này
[8].
 
Các động lực thúc đẩy chính sách châu Á của Mỹ thời Tổng thống Mỹ Trump
Rút khỏi quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Một trong những động lực chính cho việc ban hành các chính sách của Trump tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là việc ông chính thức rút khỏi một thỏa thuận thương mại đã được lên kế hoạch từ lâu với các quốc gia Vành đai Thái Bình Dương (Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương). Theo Eric Altbach, Phó Chủ tịch của Tập đoàn Albright Stonebridge tại Washington, và là cựu Phó trợ lý Đại diện Thương mại Mỹ tại Trung Quốc, “việc Mỹ rút khỏi TPP tạo ra khoảng trống chính trị và kinh tế ở châu Á, mà Trung Quốc đang mong muốn lấp đầy những khoảng trống này bằng cách thúc đẩy cung ứng cho các khu vực sản xuất của Mỹ trong khi làm tổn hại uy tín của Mỹ ở châu Á”
[9].
 
Một báo cáo do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế công bố cho thấy, với quyết định của ông Trump rút khỏi TPP, ông tập trung vào việc giảm thâm hụt thương mại song phương, và chỉ quan tâm tới việc tạo ra các thỏa thuận thương mại song phương mới có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế và quan hệ chính trị Mỹ và Đông Nam Á, trong đó Đông Nam Á không còn coi Mỹ là đối tác thương mại có thể dễ dàng dự đoán
[10]. Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung cũng góp phần vào gia tăng mức độ khó dự đoán. Trong khi đó, hội nhập kinh tế khu vực châu Á và kiến ​​trúc thương mại khu vực đang tiến lên phía trước mà không có sự hiện diện của Mỹ trên bàn đàm phán, dẫn đến lợi ích của Mỹ bị lãng quên[11].

Quan hệ thương mại Mỹ - Đông Nam Á rất quan trọng đối với cả hai bên. Đối với Chính quyền Trump, tương lai kinh tế của Mỹ nằm ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á là một trong những thị trường lớn nhất và phát triển nhanh nhất trên thế giới, mang đến những cơ hội to lớn cho các công ty Mỹ trong nhiều thập kỷ tới. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm của khu vực dự kiến ​​khoảng 5%, khu vực này dự kiến ​​sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới, vượt qua Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản vào năm 2050
[12]. Các nước ASEAN đã là thị trường xuất khẩu lớn thứ tư của Mỹ sau Canada, Mexico và Trung Quốc. Đến năm 2050, tầng lớp trung lưu của khu vực Đông Nam Á sẽ có 350 triệu người, với thu nhập ổn định khoảng 300 tỷ USD.
 
Tăng trưởng xuất khẩu của Mỹ sang Đông Nam Á đã ổn định kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 (ngoại trừ năm 2009 giảm) và đạt 86,2 tỷ USD vào năm 2018, chiếm 5,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Mỹ. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nhập khẩu của Mỹ từ Đông Nam Á cũng tăng trưởng đều đặn và đạt hơn 185,8 tỷ USD vào năm 2018, tăng 9,4% so với năm 2017 và 68,7% trong thập kỷ qua. Nhìn chung, ASEAN chiếm 7,3% tổng lượng hàng nhập khẩu của Mỹ
[13]. Năm 2017, thương mại hai chiều giữa Mỹ và châu Á đứng ở mức 1.544 tỷ USD. Tính đến tháng 7/2018, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ nằm trong số 10 đối tác thương mại hàng đầu của Mỹ, lần lượt chiếm 15,4%, 5,1%, 3% và 2,1% thương mại quốc tế của Mỹ. Hơn nữa, đầu tư của Mỹ vào châu Á đã tăng với tốc độ 10% hàng năm, từ 227 tỷ USD năm 2001 lên 605 tỷ USD năm 2011[14].
 
Về phần mình, các chính phủ châu Á đã tăng cường hội nhập kinh tế thông qua một số đề án, bao gồm Kế hoạch cộng đồng kinh tế ASEAN 2025 (AEC 2025), Hiệp định toàn diện và tiến bộ về quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định kinh tế và toàn diện khu vực (RCEP). AEC 2025 là một dự án hội nhập giữa 10 nền kinh tế Đông Nam Á, nhằm đạt được “một nền kinh tế mang tính hội nhập và gắn kết cao; một ASEAN cạnh tranh, đổi mới và năng động; tăng cường kết nối và hợp tác ngành; một ASEAN kiên cường, toàn diện, hướng đến con người và lấy con người làm trung tâm; và một ASEAN toàn cầu”. CPTPP là một hiệp định thương mại tự do (FTA) liên quan đến 11 quốc gia châu Á - Thái Bình Dương, nhằm tự do hóa thương mại và đầu tư trong các lĩnh vực quan trọng như rào cản kỹ thuật đối với các biện pháp thương mại, vệ sinh và kiểm dịch thực vật, và các doanh nghiệp khối nhà nước. Cuộc đàm phán kết thúc vào tháng 1/2018. Nếu CPTPP được thi hành, khối này sẽ bao phủ thị trường 495 triệu người và có tổng GDP là 13,5 nghìn tỷ USD. RCEP là một FTA đang được đàm phán giữa 10 quốc gia Đông Nam Á và sáu đối tác đối thoại của ASEAN, nhằm mục đích sáp nhập các FTA hiện có của ASEAN cộng một vào một bản hợp đồng duy nhất. Nếu được ký kết, thỏa thuận thương mại khổng lồ này sẽ chiếm 46% dân số toàn cầu và 24% GDP thế giới. Hội nhập kinh tế ngày càng tăng sẽ khiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trở nên quan trọng hơn đối với các doanh nghiệp Mỹ trong những năm tới.
[15]
 
Hợp phần chiến lược
Chính quyền Trump nhấn mạnh vào Đông Nam Á vì nơi đây là tiểu vùng rất quan trọng trong Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, quan trọng với Mỹ, các đồng minh và các đối tác. Tiểu vùng Đông Nam Á cũng là nơi sinh sống của hai trong số năm đồng minh có ký hiệp ước của Mỹ, là Thái Lan và Philippines, cũng như một số đối tác chiến lược quan trọng khác như Indonesia, Singapore và Việt Nam.
[16]
 
Về mặt địa lý, Đông Nam Á nằm ngay tại trung tâm Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, hai đại dương ở hai đầu của tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi đang cố nhấn mạnh tầm quan trọng của tính hợp nhất của hai đại dương trong một môi trường chiến lược duy nhất. Tiểu vùng này rất quan trọng trong lĩnh vực hàng hải, vì đây là nơi có các tuyến giao thông đường biển quan trọng nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, bao gồm không chỉ Biển Đông Việt Nam (nơi một phần ba vận tải biển toàn cầu đi qua) mà còn các tuyến đường thủy chiến lược khác, như Eo biển Malacca (một trong những tuyến đường thủy nhộn nhịp nhất thế giới) và Biển Sulu (nơi diễn ra cả những tội ác xuyên quốc gia tràn lan và sự nổi lên của hợp tác liên khu vực)
[17].
 
Về mặt địa chính trị, Đông Nam Á được cho là một chiến trường quan trọng ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi mà tính “tự do” và “rộng mở” của chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP) sẽ được thử nghiệm. Đông Nam Á là một tập hợp của các quốc gia tương đối trẻ, rất đa dạng, một số trong đó là kém phát triển về kinh tế và chính trị, và có mối liên kết đồng minh tương đối lỏng lẻo và đa dạng. Điều này cho thấy các quan điểm về các vấn đề quan trọng đối với sự phát triển trong tương lai của chiến lược FOIP, có thể là vai trò của Trung Quốc trong khu vực, hoặc sự tiến bộ của dân chủ và nhân quyền
[18].

ARIA mang đến cho Washington cơ hội hợp tác với nhiều đồng minh và đối tác châu Á, những bên cũng đang gia tăng sự tham gia của họ trong khu vực này trong vài năm qua, để thể hiện quan điểm của riêng họ về khu vực, như “Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Nhật Bản, “Sách trắng Chính sách đối ngoại” của Úc, “Chính sách Hành động phía Đông” của Ấn Độ. Washington đang nỗ lực thuyết phục các đối tác trong khu vực tăng cường trách nhiệm của họ trong việc thúc đẩy sự ổn định khu vực. Trong đó, Ấn Độ được coi là một nhân tố ổn định trên các mặt trận an ninh và kinh tế.
[19]
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

[1] Jamie Fly, “Trump’s Asia Policy and the concept of the Indo-Pacific”, SWP Working Paper, 2018.
[2] Công bố ngày 1/6/2019, nhân phát biểu của Bí thư thường trực Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan tại đối thoại Shangri-La.
[3] Prashanth Parameswaran, “ASEAN’S Role in a US Indo-Pacific Strategy”, 2018.
[4] Ankit Panda, “The 2019 US Indo-Pacific Strategy Report: Who’s It For?” The Diplomat, 2019, truy cập 3/7/2019.
[5] Ankit Panda, “Trump Signs Asia Reassurance Initiative Act Into Law”, The Diplomat, 2019, truy cập 1/1/2019.
[6] Jamie Fly, op. cit.
[7] Sđd
[8] Sđd
[10] Brian Harding và Kim Mai Tran, “US- Southeast Asia Trade Relations in an Age of Disruption”, 27/6/2019.
[11] Sđd
[12] Sđd
[13] Sđd
[14] Kaewkamol Karen Pitakdumrongkit, “The Impact of the Trump Administration’s Indo-Pacific Strategy on Regional Economic Governance”, East West Centre Policy Studies, no. 79 (2019).
[15] Sđd
[16] Prashanth Parameswaran, op. cit.
[17] Sđd
[18] Sđd

Bình luận của bạn