cis_banner_final_en.png
Từ chính sách “Xoay trục châu Á” đến Đạo luật sáng kiến tái bảo đảm châu Á của Trump: những động lực nào đằng sau chính sách châu Á của Mỹ? (Phần 3)

05/03/2020


Từ chính sách “Xoay trục châu Á” đến Đạo luật sáng kiến tái bảo đảm châu Á của Trump: những động lực nào đằng sau chính sách châu Á của Mỹ? (Phần 3)

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu “Từ chính sách “Xoay trục châu Á” đến Đạo luật sang kiến tái bảo đảm châu Á của Trump: những động lực nào đằng sau chính sách châu Á của Mỹ?”. Bài viết của Tiến sĩ Premesha Saha, nghiên cứu viên Quỹ Các nhà quan sát nghiên cứu (ORF) Ấn Độ, xuất bản tháng 2/2020. Bản dịch tiếng Việt của Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, tháng 3/2020.


Ảnh hưởng gia tăng của Mỹ ở Châu Á
Với sự gia tăng các sáng kiến của Mỹ ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Washington thường lập luận rằng, vì họ không phải là một người ngoài cuộc đối với khu vực. “Là một quốc gia Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương […] khi nói về khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, chúng tôi xác định nó trải dài từ Bờ Tây Mỹ qua Vịnh Bengal […] Từ quan điểm an ninh, Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là khu vực mà Mỹ có biên giới hàng hải dài nhất, một số đồng minh hiệp ước lâu đời, và nhiều hạm đội tàu Thái Bình Dương của chúng tôi đều có mặt trong khu vực này”
[1].
 
1. Sáng kiến ​​kinh tế và phát triển
Tại Diễn đàn doanh nghiệp Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương năm 2018, Ngoại trưởng Mỹ Pompeo, Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross, Đại diện Cơ quan Quản trị Phát triển Quốc tế Mỹ Mark Green và các quan chức cấp Nội các của Mỹ đã đưa ra các sáng kiến ​​mới để mở rộng đầu tư công và đầu tư tư nhân của Mỹ vào cơ sở hạ tầng, thị trường năng lượng và nền kinh tế kỹ thuật số trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Để đạt được điều này, ông Pompeo tuyên bố rằng, 113 triệu USD sẽ được phân bổ dưới dạng một khoản thanh toán để tài trợ cho các sáng kiến ​​đó
[2]. Ông cũng cam kết tăng cường hỗ trợ của Mỹ cho các thể chế khu vực quan trọng như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Sáng kiến ​​hạ lưu sông Mê Kông, và Hiệp hội Vành đai Ấn Độ Dương (IORA) để triển khai chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Phát biểu tại Hội nghị cấp cao CEO APEC vào tháng 11/2018 tại Papua New Guinea, Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đã thảo luận về các hợp phần kinh tế trong chiến lược này[3]. Pence cũng nhấn mạnh rằng, Chính quyền Trump sẽ thúc đẩy đầu tư khu vực tư nhân và hỗ trợ các quốc gia trong khu vực phát triển cơ sở hạ tầng bền vững[4].
 
Vào tháng 7/2018, Mỹ đã ra mắt Mạng lưới Hỗ trợ và Giao dịch Cơ sở hạ tầng (ITAN)
[5],[6]. Vào tháng 10/2018, Mỹ đã thiết lập quan hệ đối tác tài chính phát triển mới với Nhật Bản, Úc, Canada và EU. Mối quan hệ này được hỗ trợ bởi các nguồn lực và nhóm quản lý mới có vai trò quan trọng để sử dụng tốt hơn các khoản đầu tư theo Đạo luật phát triển, hay Đạo luật BUILD[7]. Mỹ tìm cách hỗ trợ tài chính cho cơ sở hạ tầng từ nguồn tiền của khu vực tư nhân, hợp tác với các nước khác để cùng tài trợ và cải thiện khả năng của các nước chủ nhà để xác định và tránh (hoặc giảm thiểu) rủi ro liên quan đến vay mượn cơ sở hạ tầng nước ngoài[8]. Vào tháng 11/2018, Pence đã công bố kế hoạch phối hợp với Nhật Bản về đầu tư năng lượng khu vực, trị giá 10 tỷ USD; thiết lập quan hệ đối tác thành phố thông minh Mỹ - ASEAN; khởi động một quan hệ đối tác năm quốc gia để điện khí hóa ở Papua New Guinea; và bắt đầu Sáng kiến ​​Minh bạch Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương để củng cố xã hội dân sự và quản trị tốt, cho phép các quốc gia thu hút đầu tư chất lượng cao, chống tham nhũng và các mối đe dọa vũ lực đối với chủ quyền quốc gia[9]. Bản báo cáo “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở: Thúc đẩy tầm nhìn chung”, được công bố vào ngày 4/11/2019, tuyên bố rằng, dưới thời chính quyền Trump, Bộ Ngoại giao và Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) đã cung cấp 4,5 tỷ USD tiền hỗ trợ cho khu vực này[10]. Báo cáo tiếp tục nêu rõ rằng, Mỹ là nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất vào Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, và đã thực hiện hơn 1,9 nghìn tỷ USD thương mại hai chiều với khu vực, hỗ trợ hơn ba triệu việc làm ở Mỹ và 5,1 triệu việc làm ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Washington đã và đang thuyết phục chính quyền các nước trong khu vực cùng nhau theo đuổi viễn cảnh xây dựng cơ sở hạ tầng ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Cùng với Nhật Bản, Ấn Độ và Úc, Mỹ đã và đang kiểm tra các cách để thiết lập các chương trình tài chính để thu hẹp các khoảng cách chưa được kết nối trong khu vực. Năm 2018, Mỹ đã ký thỏa thuận ba bên về hợp tác tài chính phát triển với Nhật Bản và Úc. Quan hệ đối tác ba bên này đang hỗ trợ mối quan hệ đối tác điện khí hóa năm quốc gia tại Papua New Guinea và triển khai các dự án đầy triển vọng trong lĩnh vực năng lượng, kỹ thuật số và giao thông của một số quốc gia Đông Nam Á và Thái Bình Dương
[11].
 
Năm 2017, các cơ quan của Mỹ và Nhật Bản đã ký một biên bản ghi nhớ (MoU) để cung cấp cơ sở hạ tầng năng lượng chất lượng cao cho các nền kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mới nổi
[12]. Hai nước cũng đang hợp tác với nhau theo Hiệp định Đối tác Năng lượng Chiến lược Nhật Bản (JUSEP) và Đối tác Kinh tế Kỹ thuật số Chiến lược Nhật Bản - Mỹ (JUSDEP) để cải thiện năng lượng và cơ sở hạ tầng từ Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đến bờ biển phía Đông châu Phi. Vào tháng 10/2019, hai nước đã ký Thỏa thuận thương mại Nhật Bản - Mỹ[13] và Hiệp định thương mại kỹ thuật số Mỹ - Nhật Bản[14]. USAID và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA) cũng đang xây dựng MoU để mở rộng hợp tác phát triển trên toàn khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương[15].
 
Với các nước ASEAN, Mỹ thúc đẩy các phương pháp tiếp cận chung cho an ninh mạng và thương mại kỹ thuật số, tạo ra nhiều cơ hội, mở nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, và khuyến khích phụ nữ, những người sáng tạo đổi mới, và doanh nhân trẻ. Hơn nữa, Mỹ hỗ trợ Cộng đồng kinh tế ASEAN bằng cách giảm chi phí kinh doanh và hợp lý hóa thương mại. Một phần lớn đầu tư của Mỹ vào Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương được hướng vào ASEAN, ví dụ: 271 tỷ USD vào năm 2018
[16]. Chương trình hỗ trợ của Mỹ cho tăng trưởng kinh tế ở châu Á (US-SEGA) đã được đưa ra từ năm 2018 để giúp các đối tác của Mỹ áp dụng các chính sách thương mại và đầu tư toàn diện, tiêu chuẩn cao trong các lĩnh vực như yêu cầu pháp lý, phụ nữ trong khoa học và công nghệ, kinh tế kỹ thuật số và an ninh mạng[17]. Vào tháng 9/2019, Mỹ đã công bố một khoản tiền “Cam kết cho khu vực Thái Bình Dương” trị giá 100 triệu USD[18]. Là một phần của “Cam kết cho khu vực Thái Bình Dương”, USAID sẽ cung cấp 62 triệu USD cho các chương trình mới trong năm 2020, nhiều hơn gấp đôi so với những khoản hỗ trợ phát triển trước đó. Năm 2020, Mỹ đã cấp một khoản tài trợ ban đầu cho Cơ sở hạ tầng khu vực Thái Bình Dương ADB (PRIF) để hỗ trợ quy hoạch cơ sở hạ tầng trên Quần đảo Thái Bình Dương[19].
 
Cho đến nay, chính quyền Trump đã tìm cách tránh các sáng kiến đa phương ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Thay vào đó, Mỹ đã theo đuổi an ninh trong các thiết lập song phương và đa phương nhỏ (ba bên và bốn bên) và thúc đẩy các sáng kiến kinh tế của khu vực tư nhân trong bối cảnh cắt giảm ngân sách viện trợ. Vào tháng 11/2017, phát biểu tại Hội nghị cấp cao APEC tại Việt Nam, Trump đã bày tỏ sẵn sàng đàm phán các hiệp định thương mại song phương: “Chúng ta sẽ không còn tham gia vào các thỏa thuận lớn ràng buộc, từ bỏ chủ quyền và thực thi những thỏa thuận không có nhiều ý nghĩa thực tế”
[20].
 
2. Quốc phòng và an ninh
Chính quyền Trump hiện tại tuyên bố rằng, Mỹ đã bán vũ khí trị giá 9,42 tỷ USD và cung cấp hơn 500 triệu USD hỗ trợ an ninh cho các quốc gia trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong 12 tháng qua
[21], và cung cấp hơn 1,1 tỷ USD cho những dự án hợp tác an ninh của Bộ Ngoại giao Mỹ và ở Nam và Đông Nam Á. Khoản này bao gồm 356 triệu USD cho các chương trình như Sáng kiến An ninh Hàng hải Đông Nam Á (SAMSI) và Sáng kiến Vịnh Bengal[22]. Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC vào tháng 11/2018, Pence tuyên bố rằng, Mỹ và Úc sẽ cùng nhau nâng cấp một căn cứ hải quân trên đảo Manus ở Papua New Guinea. Dự án này phản ánh mối quan tâm của Washington và Canberra về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại Nam Thái Bình Dương, và suy đoán rằng, Bắc Kinh đang tìm cách thiết lập một cơ sở quân sự trong khu vực[23].
 
Với Ấn Độ, Mỹ đã ký Biên bản ghi nhớ thỏa thuận hậu cần (LEMOA) vào tháng 8/2016. Điều này mở đường cho việc sử dụng các căn cứ của nhau ở cả hai đại dương. Ngoài ra, Ấn Độ hiện đã được trao tư cách là Đối tác quốc phòng chính (MDP) trong ARIA
[24].
Trên Biển Đông, chính quyền Trump đã tăng áp lực lên Bắc Kinh để chống lại việc quân sự hóa những vùng tranh chấp. Vào tháng 5/2018, Lầu năm góc đã loại bỏ Hải quân của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) khỏi cuộc tập trận hải quân hai năm một lần trên Thái Bình Dương ngoài khơi Hawaii, để đáp lại các báo cáo rằng, Trung Quốc đã triển khai tên lửa hành trình chống tàu tới các đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Tại Đối thoại Ngoại giao và An ninh Mỹ Trung Quốc vào tháng 11/2018, Mỹ đã yêu cầu Trung Quốc loại bỏ tính năng tên lửa chống tàu ra khỏi các hệ thống tên lửa của Trung Quốc. Mỹ cũng đã tăng cường hợp tác an ninh với các nước Đông Nam Á thông qua Sáng kiến ​​An ninh Hàng hải Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, do Chính quyền Obama thành lập và tài trợ cho đến năm 2024
[25].
 
Ở Biển Đông Việt Nam, Mỹ đã tăng cường tự do hoạt động hàng hải, tiến hành hai lần tập trận trong năm 2019, thách thức việc Bắc Kinh đang gia sức tăng cường các yêu sách hàng hải trong vùng biển tranh chấp. Vào tháng 1/2019, tàu McCampbell của Mỹ di chuyển gần quần đảo Hoàng Sa và vào ngày 11/2/2019, tàu Spruance và tàu Preble đã đi gần Đảo Đá Vành Khăn ở Trường Sa, cả hai lần Bắc Kinh đều lên tiếng phản đối. Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ, Washington đã năm lần thực hiện hoạt động của tàu quân sự trong vùng biển này trong năm 2018, bốn lần trong năm 2017, bốn lần trong năm 2016, và bốn lần trong năm 2015
[26].

Tuy nhiên, theo Collin Koh, một nghiên cứu viên của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam tại Đại học Công nghệ Nanyang ở Singapore, thì “việc thực hiện các hoạt động tự do trên biển là không đủ để thay đổi các hành vi của Bắc Kinh ở Biển Đông”. Mỹ phải sử dụng một bộ công cụ tổng thể nhiều hơn theo cách phối hợp nhịp nhàng hơn
[27].
 
Mặc dù Mỹ đã hỗ trợ các cuộc đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử (CoC) cho Biển Đông, nhưng Mỹ khẳng định rằng, thỏa thuận cuối cùng phải được tất cả các bên liên quan đồng thuận, và quyền hàng hải của các bên được tôn trọng như được ghi trong Công ước Luật biển của Liên hợp quốc (UNCLOS). Điều này là để đáp lại một điều khoản do phía Trung Quốc soạn thảo trong văn bản đàm phán duy nhất giữa ASEAN và Trung Quốc về CoC, theo đó, Bắc Kinh tìm cách phủ quyết các cuộc tập trận quân sự giữa các quốc gia ASEAN và các nước khác trên Biển Đông, nhằm phá hoại các mối quan hệ quân sự của Mỹ trong khu vực này
[28].
 
Tháng 5/2019 chứng kiến ​​chuyến đi chung đầu tiên của đội tàu hải quân Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Philippines qua Biển Đông
[29]. Cuộc tập trận hàng hải ASEAN (AUMX) của ASEAN bắt đầu tại căn cứ hải quân Sattahip ở Thái Lan vào ngày 2/9/2019 và kết thúc tại Singapore vào ngày 6/9/2019. Do đó, các tàu chiến chủ yếu từ các nước trong khu vực, và cả tàu của Mỹ, đã phải đi qua vùng biển do Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, có lẽ không có sự chấp thuận trước của Trung Quốc. Theo báo cáo, các cuộc tập trận chỉ giới hạn trong việc lên tàu, tìm kiếm và thu giữ, tìm kiếm cứu nạn, ghi nhận vùng miền, thử khả năng tương tác trong theo dõi tài sản hàng hải, và tập chiến thuật. Campuchia, Lào, Malaysia và Indonesia chỉ tham gia với tư cách quan sát viên. Đáng chú ý là sự tham gia tích cực của Myanmar, quốc gia trước đây có tổng tư lệnh quân sự bị Mỹ trừng phạt vì những vụ giết hại người Hồi giáo Rohingya. Philippines cũng tham gia, mặc dù Tổng thống Rodrigo Duterte đã qua lại nhiều với Trung Quốc. AUMX là cơ hội duy nhất để Mỹ tham gia cùng với ASEAN[30].
 
3. Tham gia ngoại giao
Vào đầu năm 2018, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ cho các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường quan hệ đối tác của Mỹ tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Chính sách ngoại giao của Mỹ từ lâu đã vận hành một mạng lưới các liên minh song phương trên khắp Thái Bình Dương, quan trọng nhất là với Nhật Bản và Úc. Các liên minh như vậy được hình thành từ những mối quan tâm trong Chiến tranh Lạnh với Liên Xô, và sau đó đã được củng cố hơn nữa do sự trỗi dậy của Trung Quốc. Các liên minh truyền thống của Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương đã được bổ sung bởi các quan hệ đối tác an ninh về phía Đông gần đây với Việt Nam, Singapore, Indonesia và Ấn Độ
[31].
 
Hợp tác quân sự song phương mạnh mẽ giữa Mỹ và Nhật Bản đã được tăng cường hơn nữa trong quần đảo Ryukyu và xung quanh đảo Guam ở Tây Thái Bình Dương. Trump đã sử dụng khái niệm “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” từ mùa thu 2017, do Nhật Bản khởi xướng khái niệm này vào năm 2016
[32]. Liên minh Nhật Bản - Mỹ là một loại hình hợp tác quốc tế đảm bảo cho quốc phòng không chỉ của Nhật Bản mà cả Hàn Quốc, cũng như hòa bình và ổn định của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Các chuyên gia chính sách đối ngoại và an ninh tại Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc và Đông Nam Á chia sẻ rộng rãi quan điểm này. Với mức độ nâng cao của năng lực tên lửa và hạt nhân của Triều Tiên, việc Mỹ tăng cường liên minh với Nhật Bản và hợp tác an ninh với Nhật Bản là rất quan trọng[33].
 
Các liên kết an ninh của Mỹ với Úc cũng đã được tăng cường. Kể từ năm 2011, các cuộc họp thường niên của AUSMIN (Tham vấn Ngoại trưởng Mỹ Úc) đã thảo luận về Ấn Độ Dương cũng như Thái Bình Dương và bày tỏ quan ngại về các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Một định hướng Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đã trở nên rõ ràng vào năm 2017, khi AUSMIN cam kết sẽ tăng cường hợp tác song phương liên quan đến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (Mỹ-Úc 2017). Hội nghị thượng đỉnh năm 2018 giữa Donald Trump và Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull đã đưa ra vấn đề hợp tác hai nước này vào trong khuôn khổ của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương
[34]. Canberra cũng đã tập trung theo dõi các hoạt động tham gia, đầu tư và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc trên toàn cầu, đặc biệt là ở Quần đảo Thái Bình Dương, một khu vực mà Úc coi là chiến lược quan trọng đối với lợi ích của chính mình. Úc, New Zealand và Mỹ đã tổ chức Đối thoại Hợp tác An ninh Thái Bình Dương khai mạc vào tháng 6/2018, “để thảo luận về một loạt vấn đề an ninh và xác định các khu vực để tăng cường hợp tác với các quốc gia trên đảo Thái Bình Dương về những thách thức chung của khu vực”[35].  
 
Trọng tâm chính của sự thay đổi đáng kể của Mỹ từ Thái Bình Dương sang các thỏa thuận an ninh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là ở Ấn Độ. Tuyên bố chung được đưa ra giữa Trump và Modi vào tháng 6/2017 đã xác định hai nước là “những quốc gia kiên định theo con đường dân chủ ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”, sẵn sàng hợp tác với nhau trên tư cách là “những nước chủ nhà có trách nhiệm của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”. Đối thoại an ninh hàng hải được tổ chức vào tháng 4/2018 đã thảo luận về những diễn biến mới trong lĩnh vực hàng hải của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, trước sự thống trị ngày càng tăng của Trung Quốc trong lĩnh vực hàng hải tại vùng Tây Thái Bình Dương đối với Mỹ và vùng Ấn Độ Dương đối với Ấn Độ
[36].
 
Sự sắp xếp ba bên chiến lược giữa Mỹ, Úc và Nhật Bản đặc biệt được thiết lập tốt. Vào tháng 8/2018, ba nước đã ký một thỏa thuận “nhấn mạnh cam kết hợp tác của ba nước để duy trì và thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do, rộng mở và thịnh vượng”, và ghi nhận “những mối lo ngại nghiêm trọng” của ba nước đối với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Ba nước thông báo rằng, Tập đoàn Đầu tư nước ngoài Mỹ đang làm việc với Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc, và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản về “nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng quan trọng ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”
[37].
 
Cuộc họp ba bên của Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản vào tháng 4/2018, “đã đồng ý tiếp tục tham gia và tăng cường hợp tác để hỗ trợ một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do, rộng mở, hòa bình và hòa nhập”
[38]. Từ năm 2015, Nhật Bản đã trở thành đối tác thường xuyên tham gia cuộc tập trận thường niên Malabar giữa Mỹ và Ấn Độ, luân phiên trên biển Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Năm 2018 chứng kiến thành quả hợp tác địa kinh tế quan trọng của bộ ba này, với việc các quốc gia đồng ý “tiếp tục hợp tác để thúc đẩy kết nối gia tăng trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”, một giải pháp thay thế cho sáng kiến ​​con đường tơ lụa trên biển (MSR) của Trung Quốc. Vào tháng 2/2018, Washington đã tổ chức một cuộc họp nhóm làm việc về cơ sở hạ tầng ba bên thành công. Tại đây, Tập đoàn đầu tư tư nhân của Mỹ ở nước ngoài hứa sẽ cung cấp các khoản tài trợ, cho vay và bảo hiểm để giúp các công ty địa phương giải quyết các dự án cơ sở hạ tầng kết nối  Nam Á và Đông Nam Á. Khu vực tư nhân Ấn Độ, Mỹ và Nhật Bản đã đồng ý chia sẻ thông tin về các dự án hiện tại của họ trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương với các đối tác ba bên, các khoản vay và liên doanh cũng được trình bày để xem xét.[39]
 
Ý định chiến lược của Mỹ đằng sau các liên minh này là đổi mới nhóm Quad giữa Mỹ, Úc, Ấn Độ và Nhật Bản, lần đầu tiên được đề xuất vào năm 2007. Sau khi bị gác lại vì những chỉ trích của Trung Quốc, và do dự của Úc và Ấn Độ, Quad đã hồi sinh vào tháng 11/2017 sau khi tham vấn về khái niệm khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương
[40].
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

[1] David Scott, “The Indo-Pacific in US Strategy: Responding to Power Shifts,” Rising Powers Quarterly 3, no. 2 (2018).
[3] Kaewkamol Karen Pitakdumrongkit, 2019.
[4] Sđd
[5] ITAN xúc tiến đầu tư vào khu vực tư nhân bằng cách tối ưu hóa các công cụ hỗ trợ và tài chính phát triển của Mỹ, bao gồm các dịch vụ chuẩn bị dự án và vận động thương mại. ITAN tăng cường quy trình đánh giá dự án, cũng như môi trường pháp lý và mua sắm của các quốc gia đối tác.
[6] Sđd
[7] Vào ngày 5/10/2018, Trump đã thông qua Đạo luật BUILD, thành lập một Tập đoàn Tài chính Phát triển Quốc tế mới của Mỹ. Đạo luật này củng cố, hiện đại hóa và cải cách khả năng tài chính phát triển của chính phủ Mỹ. Sự hỗ trợ từ chính phủ Mỹ có thể thu hút một lượng vốn tư nhân đáng kể vào các thị trường mới nổi. Mô hình huy động đầu tư tư nhân này rất quan trọng vì nhu cầu của các nước đang phát triển là quá lớn và các nguồn lực chính thức của chính phủ khó đáp ứng đủ. Đạo luật BUILD ưu tiên các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp, tại những nước này, dịch vụ của Tập đoàn Tài chính Phát triển sẽ có tác động lớn nhất. Khả năng tài chính phát triển của Mỹ đã tăng hơn gấp đôi, từ 29 tỷ USD lên 60 tỷ USD. Các cơ quan mới và phương thức linh hoạt của Đạo luật BUILD sẽ giúp Mỹ triển khai nhanh hơn các giải pháp thay thế đầu tư minh bạch, hợp lý về tài chính.
[8] Ian Storey và Malcolm Cook, op. cit.
[9] The Department of Defence, op. cit.
[11] Sđd
[12] Kaewkamol Karen Pitakdumrongkit, op. cit.
[13] Theo Hiệp định thương mại Mỹ - Nhật Bản, Nhật Bản sẽ loại bỏ hoặc giảm thuế đối với khoảng 7,2 tỷ USD hàng xuất khẩu nông sản của Mỹ.
[14] Bộ Ngoại Giao Mỹ, op. cit.
[15] Sđd
[16] Bộ Ngoại giao Mỹ, op. cit.
[17] Bộ Ngoại giao Mỹ, op. cit.
[19] Bộ Ngoại giao Mỹ, op. cit.
[20] Jamie Fly, op. cit.
[21] Ian Storey and Malcolm Cook, op. cit.
[22] Bộ Ngoại giao Mỹ, op. cit.
[23] Ian Storey và Malcolm Cook, op. cit.
[24] David Scott, op. cit. Xem thêm, Bộ Quốc Phòng Mỹ, op. cit.
[25] Sđd
[27] Sđd
[28] Ian Storey và Malcolm Cook, op. cit.
[29] Bộ Ngoại giao Mỹ, op. cit.
[31] David Scott, op. cit.
[32] Sđd.; và Bộ Quốc phòng Mỹ, op. cit.
 
[33] Institute for International Policy Studies, “The Trump Administration and Japan: Challenges and Visions for Japan's Foreign and Security Policy in the New Era”, Japan-US Alliance Study Group Report, 2017.
[34] David Scott, op. cit.; The Department of Defence, op. cit.
[36] David Scott, op. cit.; Bộ Quốc phòng Mỹ, op. cit.
[37] Sđd
[38] Sđd
[39] Sđd

Bình luận của bạn