cis_banner_final_en.png
Từ chính sách “Xoay trục châu Á” đến Đạo luật sáng kiến tái bảo đảm châu Á của Trump: những động lực nào đằng sau chính sách châu Á của Mỹ? (Phần 4)

05/03/2020


Từ chính sách “Xoay trục châu Á” đến Đạo luật sáng kiến tái bảo đảm châu Á của Trump: những động lực nào đằng sau chính sách châu Á của Mỹ? (Phần 4)

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu “Từ chính sách “Xoay trục châu Á” đến Đạo luật sang kiến tái bảo đảm châu Á của Trump: những động lực nào đằng sau chính sách châu Á của Mỹ?”. Bài viết của Tiến sĩ Premesha Saha, nghiên cứu viên Quỹ Các nhà quan sát nghiên cứu (ORF) Ấn Độ, xuất bản tháng 2/2020. Bản dịch tiếng Việt của Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, tháng 3/2020.


Phản hồi của khu vực: Cơ hội và thách thức
Tất cả các quốc gia trong khu vực đều có tầm nhìn riêng về chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Cho đến nay, tầm nhìn của Chính quyền Trump về một khu vực “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” được các quốc gia trong khu vực phản hồi tích cực. Tầm nhìn của Nhật Bản về “chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” có thể được nhận định qua bài phát biểu của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe “Sự kết hợp của hai vùng biển”. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “duy trì và củng cố trật tự hàng hải tự do và rộng mở dựa trên các quy tắc luật pháp trong khu vực này và biến vùng biển trở thành một “cộng đồng toàn cầu” mang lại sự ổn định và thịnh vượng cho tất cả các quốc gia”
[1]. Ấn Độ đã bắt đầu tiếp cận khái niệm Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương từ năm 2012 để giới thiệu New Delhi là một cường quốc trong khu vực, với viễn cảnh khu vực này là tự do, rộng mở, hành xử dựa trên quy tắc, và bao trùm. Sách trắng Chính sách đối ngoại của Úc 2017 mô tả đất nước này quyết tâm xây dựng “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương an toàn, rộng mở và thịnh vượng”, với trọng tâm duy trì sự cân bằng quyền lực trong khu vực[2], phù hợp với chính sách của Mỹ. Tầm nhìn của Úc cũng là một trong những tầm nhìn coi Mỹ là một thành viên trong khu vực[3]. Khái niệm của Indonesia về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương dựa trên các nguyên tắc cởi mở, minh bạch, bao trùm và duy trì luật pháp quốc tế[4]. Trong bản “Tuyên bố tầm nhìn về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”, tổ chức ASEAN thảo luận về việc “cần có sự lãnh đạo tập thể trong việc định hình sự hợp tác chặt chẽ hơn trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và tiếp tục duy trì vai trò trung tâm của khối ASEAN trong phát triển kiến ​​trúc thể chế khu vực ở Đông Nam Á và các khu vực lân cận”[5]. Nhưng các cách hiểu khác nhau về một khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương đã gây lo ngại cho một số nước trong ASEAN, vì chúng có thể dẫn đến các kiến trúc ngoại giao và an ninh mới, có thể làm suy yếu vai trò của ASEAN trong các cuộc thảo luận khu vực, hoặc có thể không bao gồm tất cả các thành viên ASEAN[6].
 
Đồng thời, có sự khác biệt trong tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của một số quốc gia khi so sánh với Mỹ. Ví dụ, cách hiểu về chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Nhật Bản khác với cách hiểu của Mỹ, đặc biệt là cách xác định ranh giới địa lý của khu vực này. Tokyo có tầm nhìn rộng hơn về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, bao gồm không chỉ Ấn Độ Dương mà còn mở rộng đến bờ biển phía Đông châu Phi. Do những giới hạn theo hiến định đối với quân đội Nhật Bản, cách hiểu về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Tokyo tập trung vào cải thiện cơ sở hạ tầng, thương mại và đầu tư, và các chương trình quản trị. Đây là một sự khác biệt quan trọng so với chiến lược của Chính quyền Trump, bao gồm các yếu tố quân sự và an ninh. Theo Báo cáo dịch vụ nghiên cứu của Quốc hội Nhật Bản vừa công bố, “Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của các đồng minh và đối tác Mỹ: Các vấn đề đối với Quốc hội Nhật Bản”, nói chung, “Nhật Bản hợp tác với Mỹ để duy trì quỹ đạo tương tự như đã có trong quá khứ, nhưng nó nhấn mạnh hơn vào hợp tác với Úc và Ấn Độ, và ít coi trọng hợp tác với Hàn Quốc”
[7]. Mối quan hệ quốc phòng của Nhật Bản với các quốc gia khác ngoài Mỹ kém phát triển, nhưng Nhật Bản đang tích cực làm việc để mở rộng quan hệ đối tác an ninh ra ngoài Mỹ. Một số nhà phân tích cho rằng, những nỗ lực này phản ánh mối quan tâm về độ bền chặt của những mối quan hệ liên minh với Mỹ, và nhu cầu chung về đa dạng hóa các đối tác an ninh[8].
 
ARIA mang lại cho Chính quyền Trump cơ hội tham gia với các quốc gia Đông Nam Á có chung lợi ích hội tụ với Mỹ. Các nước vừa và nhỏ bị mắc kẹt giữa Trung Quốc và Mỹ. Mặc dù họ lo ngại về sự thay đổi trật tự khu vực do sự gia tăng của Trung Quốc, nhưng họ cũng không muốn mất phần lợi nhuận do sự phát triển kinh tế của Trung Quốc mang lại
[9]. Một số quốc gia Đông Nam Á nghiêng về vế trước hơn, như Singapore và Việt Nam, chia sẻ mối quan tâm chiến lược của Washington về vấn đề Trung Quốc gia tăng động thái hung hăng. Các quốc gia Đông Nam Á khác, chẳng hạn như Indonesia, có quan niệm riêng, có một số khác biệt và một số trùng lặp với chiến lược FOIP[10].
 
Hiện tại, có những nghi ngờ về trọng tâm và ý định của chiến lược. Các quốc gia Đông Nam Á tham dự đã chỉ trích quyết định của Trump về việc bỏ lỡ Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tháng 10/2019, và cử Trợ lý cho Tổng thống về các vấn đề an ninh quốc gia, Robert O'Brien, làm đặc phái viên thay ông. Hơn nữa, một số nhà lãnh đạo Đông Nam Á đã từ chối tham dự Hội nghị thượng đỉnh với Mỹ vào tháng 11/2019 như một phản ứng đáp trả sự vắng mặt của Trump trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN thường niên được tổ chức vào tháng 10/2019. Đây là năm thứ hai liên tiếp Tổng thống Trump quyết định tránh Hội nghị cấp cao ASEAN thường niên. Theo Alex Homes từ Capital Economics, “Mỹ đã có hành động biểu tượng chỉ rõ rằng, họ sẽ rút dần khỏi cuộc họp này, và Mỹ sẽ tiếp tục rút. Trung Quốc sẽ càng phát huy ảnh hưởng trong khu vực”
[11].
 
Nhiều nhà hoạch định chính sách châu Á đã đặt ra câu hỏi về cách Mỹ sẽ thực hiện kế hoạch thúc đẩy hợp tác kinh tế trong ba lĩnh vực đầy hứa hẹn là thương mại, đầu tư và cơ sở hạ tầng
[12]. Trong khi các quan chức Mỹ liên tục định nghĩa chiến lược FOIP là cách tiếp cận toàn diện, toàn hệ thống chính phủ Mỹ để bảo vệ thực hiện bộ nguyên tắc chung với các đồng minh và đối tác, thì có những lo ngại rằng, đó chỉ là một nỗ lực tập trung vào vấn đề hẹp là an ninh chống lại mối đe dọa từ Trung Quốc. Ngay cả các đối tác thân cận nhất của Washington cũng nhận ra rằng, sẽ có ít quốc gia nổi bật trong khu vực vì nó có nguy cơ gây chia rẽ, và không đáp ứng các nhu cầu kinh tế của Mỹ[13].
 
Theo một số nhà phân tích, cuộc cạnh tranh của Trung Quốc Mỹ tại Châu Á, đặc biệt là ở Biển Đông, sẽ ngày càng gia tăng khi Mỹ thông qua đạo luật ARIA nhấn mạnh cam kết của Washington đối với khu vực. ARIA báo hiệu rằng, Mỹ mong muốn giữ lại các đồng minh và huy động họ chống lại Trung Quốc. “Mặc dù gần đây những căng thẳng đã giảm bớt, nhưng phạm vi ảnh hưởng rộng lớn của đạo luật này có hàm ý là chúng ta có thể sẽ thấy những tác động dần dần ảnh hưởng đến sự cạnh tranh Trung Quốc - Mỹ ở Đông Nam Á”
[14]. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long cảnh báo rằng, các quốc gia Đông Nam Á có thể buộc phải lựa chọn giữa hai quốc gia Trung Quốc hay Mỹ[15]. Đối với các cường quốc bậc trung như các thành viên của ASEAN, tránh đối đầu trực diện với cả hai có thể là cách hành động tốt nhất. Tuy nhiên, điều này sẽ khó duy trì nếu Washington quyết định theo đuổi trò chơi được ăn cả, ngã về không[16].
 
Những quốc gia trong khu vực cũng lo ngại về tính bền vững của chiến lược  Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Trump, và liệu Chính quyền Trump có giữ lời hứa hay không. Sự hoài nghi này xuất phát từ thực tế là chính quyền Trump có nhiều xáo trộn thấy rõ trong lĩnh vực hoạch định chính sách và các hành động như rút khỏi các hiệp định thương mại đa phương (ví dụ TPP)
[17]. Washington có kế hoạch tham gia vào lĩnh vực kết nối cơ sở hạ tầng trong khu vực, kế hoạch này đã nhận nhiều phản hồi tương đối tích cực. Một số bên liên quan trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đã hoan nghênh chương trình nghị sự của Mỹ trong việc đưa ra những lựa chọn liên quan tới cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, quỹ được phân bổ chỉ là 1,5 tỷ USD mỗi năm trong năm năm tới, so với số tiền khổng lồ mà Trung Quốc đang triển khai cho dự án Vành đai Con đường ở châu Á, và Trung Quốc còn nhiều dự án hơn thế nữa[18]. Một yếu tố chính của sáng kiến do Mỹ lãnh đạo là đảm bảo kinh phí cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng trọng yếu ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, cho đến nay, rất khó để đảm bảo đủ nguồn tài trợ từ khối tư nhân[19].
 
Mỹ không có khả năng tài trợ cho nhu cầu chi tiêu cơ sở hạ tầng của chính nước Mỹ, chứ chưa nói đến chi cho các quốc gia châu Á. Thực tế này càng được nhấn mạnh thêm khi Trump công bố kế hoạch chi tiêu cơ sở hạ tầng trị giá 1 nghìn tỷ USD, trong đó chính phủ của ông chỉ có thể đáp ứng một phần nhỏ
[20]. Ông đã thảo luận về một ngân hàng cơ sở hạ tầng liên kết công-tư mới để khắc phục điều này, nhưng vẫn chưa thấy kết quả. Thông báo về Diễn đàn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tại Phòng Thương mại Mỹ tại Washington, ông Pompeo nói rằng, các nước đang phát triển trong khu vực phải thu hút gần 26 nghìn tỷ USD vốn để tài trợ cho nhu cầu cơ sở hạ tầng của họ. Ngoài việc cam kết đóng góp ban đầu với khoản tiền trên danh nghĩa là 113 triệu USD, ông không đề cập đến việc số tiền đó có thể đến từ đâu[21].

Các bên liên quan trong khu vực rất hoài nghi về khả năng Mỹ có thể thực hiện chính sách kết nối của mình. Tính đến năm 2016, các tập đoàn Mỹ có 1,7 nghìn tỷ USD tiền tiết kiệm, 1,2 nghìn tỷ USD đang ở nước ngoài, nhưng khu vực tư nhân đang lo ngại do xếp hạng tín dụng đầu tư kém trong khu vực và khả năng khan hiếm các dự án được ngân hàng cho vay vốn. Một nghiên cứu cho thấy 55-65% của các dự án kết nối ở châu Á không có khả năng thanh toán nếu không có sự hỗ trợ từ chính phủ hoặc tổ chức tài chính đa cấp
[22]. Tài chính cho cơ sở hạ tầng của các công ty Mỹ ở châu Á đã giảm kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998 do các nguồn lực của Mỹ được chuyển hướng để đáp ứng nhu cầu kết nối ngày càng tăng trong nước Mỹ[23]. Ngoài ra, mô hình kinh doanh của Mỹ khiến cán bộ ở khu vực công không thể tập hợp những người ở khu vực tư nhân một cách hiệu quả để đầu tư như ý muốn. Nhiều chủ thể khu vực cũng nghi ngờ khả năng của Mỹ trong việc điều chỉnh các chương trình liên kết để phù hợp với nhu cầu của một khu vực rất đa dạng, vì các nền kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương rất khác nhau, và đang ở những giai đoạn phát triển không giống nhau[24].
 
Trong lĩnh vực đầu tư, các quốc gia châu Á đã hoan nghênh các nguyên tắc do Chính quyền Trump đặt ra, đặc biệt là đầu tư vào khu vực tư nhân, khuyến khích các dự án đầu tư có thể thúc đẩy tinh thần kinh doanh và đổi mới bằng cách sắp xếp thống nhất các mục tiêu kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn một số e ngại, vì ít người biết về các quy tắc và quy định sẽ thúc đẩy hoặc duy trì các nguyên tắc đã nêu. Các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đã nghi ngờ liệu Washington có sẵn sàng hợp tác với các đối tác châu Á để cùng phát triển các quy tắc nhằm củng cố kiến trúc quản trị đầu tư tốt. Họ sợ rằng Mỹ có thể đơn phương tạo ra các quy tắc và áp đặt chúng lên các bên liên quan khác trong khu vực
[25].
 
Một tính năng trọng tâm của ARIA là Quad. Trong khi bốn quốc gia có quan niệm khác nhau về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, họ thống nhất bởi một cam kết về dân chủ. Nhật Bản đã đặc biệt tích cực trong việc thúc đẩy bản chất dân chủ của Quad. Thủ tướng Abe gọi Quad là “viên kim cương an ninh dân chủ của Châu Á”, và một cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Taro Aso đã giới thiệu khái niệm về “ngoại giao định hướng giá trị”. Chính sách ngoại giao của Nhật Bản nhấn mạnh “các giá trị phổ quát như dân chủ, tự do, nhân quyền, pháp quyền, bao trùm và kinh tế thị trường”
[26]. Khía cạnh dân chủ của Quad là quan trọng nhưng bị cường điệu hóa. Một số quốc gia châu Á không liên quan, ví dụ: Nam Triều Tiên. Hiện tại, tôn chỉ hoạt động của Quad dường bị chi phối bởi mối quan tâm chung về sự trỗi dậy của Trung Quốc, đe dọa trật tự châu Á. Mặc dù vậy, sự gắn kết của nhóm rất yếu; các nhà lãnh đạo Ấn Độ đặc biệt cảnh giác với việc khiêu khích Trung Quốc một cách công khai[27]. Tương tự như vậy, trong khi các nước ASEAN có thể coi việc Trung Quốc trỗi dậy và cuộc chiến thương mại với Trung Quốc của Mỹ đang diễn ra như một mối đe dọa, thì họ đã không đề cập đến mối quan tâm này ngay lập tức trong bản Tuyên bố tầm nhìn về của ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mới ban hành.
 
Vai trò của Ấn Độ
Việc Mỹ áp dụng thuật ngữ “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” hiển nhiên đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Ấn Độ trong nền kinh tế khu vực. Hơn nữa, thuật ngữ lại do một thành viên cấp cao của Nhà Trắng đưa ra. Đó không phải là một động thái đáng ngạc nhiên, do mối quan hệ kinh tế của Mỹ và Ấn Độ tăng vọt trong những năm gần đây. Theo ấn phẩm “Ấn Độ quan trọng đối với Mỹ” của Trung tâm Đông - Tây, thương mại song phương Ấn Độ - Mỹ đã tăng từ 37 tỷ USD năm 2007 lên 109 tỷ USD năm 2015. Hàng từ Ấn Độ nhập khẩu vào Mỹ tăng gấp bốn lần, từ khoảng 11 tỷ USD năm 2000 lên gần như Mỹ 45 tỷ USD trong năm 2015. Ngoài ra, đầu tư của Mỹ vào Ấn Độ đã tăng trong một thập kỷ qua, đạt xấp xỉ 28 tỷ USD trong năm 2015, trong khi vốn đầu tư vào Ấn Độ ở Mỹ là 9,2 tỷ USD năm 2015. Ấn Độ không chỉ là quốc gia có 1,3 tỷ người mà quan trọng hơn là, 600 triệu người trong số đó dưới 25 tuổi. Đặc điểm nhân khẩu học này là một thị trường tiềm năng khổng lồ và lực lượng lao động trẻ (vốn nhân lực), khiến Ấn Độ trở thành một trong những nước đóng vai trò kinh tế quan trọng trong nền kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương
[28].

Mỹ nhận thức vai trò quan trọng của mối quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ trong việc thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, và chỉ định Ấn Độ là “đối tác quốc phòng lớn”, ở một cấp độ “tương xứng với các đồng minh và đối tác gần nhất của Mỹ”. Ấn Độ có thể nhân cơ hội này để thúc đẩy lợi ích của mình ở Đông Nam Á; mở rộng sự hiện diện ở Đông Á; tăng cường hợp tác chính trị, kinh tế và quân sự với Mỹ và các đồng minh; và tăng ảnh hưởng toàn diện của Ấn Độ trong các vấn đề quốc tế
[29].
 
ARIA coi Quad có “vai trò quan trọng để giải quyết các thách thức an ninh cấp bách ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”. Tuy nhiên, trong khi Ấn Độ đã chấp nhận khái niệm Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, thì họ thận trọng với Quad và vai trò của Quad, cũng như sự thay đổi của Quad trong tương lai. Mặt khác, Mỹ coi bộ tứ Quad là không thể thiếu trong chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Đây có thể là một thách thức đối với mong muốn của Ấn Độ, kiềm chế không tham gia vào việc công khai ngăn chặn Trung Quốc. Trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore vào tháng 6/2018, Thủ tướng Ấn Độ Modi đã xác định Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là bao trùm toàn bộ không gian đại dương, bắt đầu từ Tây Thái Bình Dương, băng qua Ấn Độ Dương và đến bờ biển phía Đông châu Phi. Tuy nhiên, một tuyên bố chung của Modi và Tổng thống Indonesia Joko Widodo thừa nhận tính trung tâm của ASEAN trong việc duy trì hòa bình và an ninh ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Do đó, về mặt thuật ngữ, Ấn Độ đã ngầm chấp nhận một định nghĩa bao quát hơn về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Hơn nữa, việc dung hòa các quan điểm khác nhau về việc lấy Quad làm trung tâm hay lấy ASEAN làm trung tâm ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương sẽ là một thách thức ngoại giao
[30].
 
Mỹ phải công nhận rằng, Ấn Độ Dương là tiền tuyến tiếp theo của địa chính trị thế giới. Trung Quốc hung hăng xâm nhập vào Ấn Độ Dương thông qua các căn cứ quân sự, cho thuê cảng và kinh tế ăn cướp là một thách thức chiến lược sắp xảy ra, làm cho Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương bớt tự do hơn, ít cởi mở hơn, kém an toàn hơn và kém thịnh vượng hơn đối với Mỹ và Ấn Độ. Giữa dòng chảy quyền lực toàn cầu, hồi sinh cạnh tranh chiến lược, cùng chung mối lo về cạnh tranh khu vực tràn lan và về tương lai của trật tự tự do, hai nước Mỹ và Ấn Độ có vị thế tốt để định hướng tương lai theo cách duy trì lợi ích của cả hai. NSS mô tả Ấn Độ là trung tâm của chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ, và là thành phần thiết yếu của kiến ​​trúc an ninh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nhấn mạnh sự cần thiết phải có Ấn Độ để đáp trả những thách thức cốt lõi của sự hung hăng về kinh tế và quân sự của Trung Quốc
[31]. Cuộc đối thoại Mỹ - Ấn Độ 2 + 2, được tổ chức vào tháng 12/2019, mang đến cơ hội lịch sử để đặt nền móng cho việc nâng cấp các mối quan hệ an ninh và quốc phòng song phương nhằm củng cố lẫn nhau và duy trì sự cân bằng quyền lực ổn định ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương[32].
 
Ấn Độ coi Trung Quốc là đối thủ mạnh hơn về kinh tế và quân sự, và lo ngại về sự hiện diện và ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương. Do đó, Thủ tướng Ấn Độ Modi đã đưa ra một tầm nhìn về một Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do, rộng mở và toàn diện, và Ấn Độ đã tham gia cùng với Nga, Nhật Bản, Úc và các nước Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương khác như để tạo ra sự cân bằng trong tiềm năng ảnh hưởng đối trọng với Trung Quốc, trong khi vẫn cảnh giác trong việc gia nhập bất kỳ tổ chức nào có kiến trúc an ninh có thể đối kháng với Bắc Kinh
[33].
 
Tuy có nhiều đánh giá tích cực được trình bày trong Báo cáo Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Ấn Độ và Mỹ vẫn có những quan niệm địa lý khác nhau về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Mỹ quan niệm khu vực này  từ bờ biển phía Tây Thái Bình Dương đến bờ biển phía Tây Ấn Độ ở Ấn Độ Dương. Ấn Độ lại quan niệm rằng, chữ “Indo” (Ấn Độ) trong chiến lược này là biểu thị toàn bộ Ấn Độ Dương, trải dài từ bờ biển phía Đông châu Phi cho đến các quốc đảo Thái Bình Dương. Phía Tây Ấn Độ Dương (bao gồm cả Vịnh Ba Tư) có thể nói là tiểu vùng quan trọng nhất về mặt chiến lược của khái niệm Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Ấn Độ, nhưng vùng này không có trong khái niệm của Mỹ
[34]. Bên cạnh quan niệm khác nhau về mặt địa lý, Ấn Độ cũng có cách tiếp cận với Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương khác cách của Mỹ. “Ấn Độ nhấn mạnh giá trị “bao trùm” của chiến lược này. Tất cả các quốc gia cùng theo đuổi sự tiến bộ và thịnh vượng, bao gồm tất cả các quốc gia trong khu vực địa lý này và những quốc gia khác có liên quan. Ấn Độ không xem khu vực này là một chiến lược hay một câu lạc bộ hạn chế số thành viên; và Ấn Độ không coi khu vực địa lý này là nơi chống lại bất kỳ quốc gia nào; cũng không phải là một nhóm tìm cách thống trị quốc gia nào”[35].
 
Sự khác biệt này trong bản đồ chiến lược báo hiệu nhận thức và chiến lược khác nhau giữa hai nước Ấn Độ và Mỹ. Mỹ luôn ủng hộ Ấn Độ đóng vai trò quân sự lớn hơn trên Thái Bình Dương, trong khi Ấn Độ coi Ấn Độ Dương là ưu tiên rõ ràng hơn so với Thái Bình Dương. Nếu Ấn Độ là đối tác trung tâm của Mỹ ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, chiến lược khu vực phải tính đến các mục tiêu của cả hai bên
[36]. Trong số tất cả các tiểu vùng châu Á, Đông Nam Á thường được mô tả là khu vực có khả năng nhất cho sự hợp tác có ý nghĩa giữa Ấn Độ và Mỹ. Nhưng vẫn có thể hội tụ các mục tiêu của Mỹ và Ấn Độ trong khu vực, kết hợp chính sách Hành động Phía Đông của Ấn Độ với chính sách tái cân Đông Nam Á của Mỹ. “Ấn Độ và Mỹ nên tập trung vào việc hỗ trợ tạo ra một hệ thống nhận diện hàng hải trên toàn khu vực, cũng như làm việc song song để phát triển nâng cao năng lực cho hải quân đối tác và các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải… Các dự án kết nối và cơ sở hạ tầng nên trở thành trọng tâm của các nỗ lực chung giữa Ấn Độ và Mỹ trong khu vực”[37].  
 
Kết luận
Mặc dù chúng ta còn chưa rõ về nhiều chi tiết cụ thể trong chiến lược của Trump về châu Á, nhưng có một vài điều rất rõ ràng. Một tương lai không chắc chắn đang chờ đợi khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi trước đây đã quen với sự lãnh đạo theo nguyên tắc của Mỹ và có thể dự đoán được. Nhưng giờ đây, cả đồng minh và đối thủ không còn có thể dựa vào Washington. Dường như, trong bối cảnh chiến lược của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, có khả năng là đồng minh và đối tác của Mỹ đang phát triển mối quan hệ chiến lược chặt chẽ hơn trong khu vực như một biện pháp để chống lại sự trỗi dậy của Trung Quốc, và có thể là Mỹ sẽ không còn sẵn sàng như trước, hoặc ít có khả năng tham gia chiến lược
[38]. Chính sách tái cân bằng của chính quyền Obama, mặc dù có nhiều sai sót, nhưng đã chứng minh với khu vực rằng, sự trỗi dậy của Trung Quốc không đồng nghĩa với sự suy giảm của Mỹ. Mặt khác, chiến thắng của Trump, và chính sách “Nước Mỹ trên hết” có thể khiến các quốc gia châu Á không còn dựa được vào Washington[39]. Hơn nữa, như báo cáo của cơ quan nghiên cứu CRS đã chỉ ra: “Chính quyền Trump yêu cầu các đồng minh tăng mạnh các khoản đóng góp tài chính đã gây ra những lo ngại đáng kể về việc sắp xếp các liên minh trong tương lai”[40].
 
Vì Mỹ thiên vị Thái Bình Dương trong tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Đông Nam Á là một khu vực chính trong tầm nhìn này. Đặc biệt, Việt Nam, Indonesia và Malaysia, đều được nhắc đến trong cả Báo cáo chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và ARIA, cho thấy, những quốc gia này rất quan trọng để đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng kinh tế trong khu vực. Ngoài ra, Mỹ cũng nhấn mạnh vào việc thúc đẩy mối quan hệ sâu sắc hơn với Ấn Độ. Theo Rischard M. Rossow, Cố vấn cao cấp và là Chủ tịch Wadhwani trong Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Mỹ-Ấn Độ, “nếu Ấn Độ thực sự là một trụ cột chính trong tầm nhìn của Mỹ đối với Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Ấn Độ phải được tham vấn sâu hơn trong việc phát triển Chiến lược của Mỹ, để phản ánh lợi ích của cả hai đối tác chiến lược”
[41]. Mỹ và Ấn Độ phải cùng phát triển một chiến lược chung, cùng thừa nhận thách thức của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương, và thừa nhận sự cần thiết phải để ASEAN giữ vai trò lớn trong an ninh khu vực[42].
 
Chính sách khu vực cần nhấn mạnh các lĩnh vực hợp tác tiềm năng để thu hút các đối tác địa phương, chẳng hạn như đảm bảo giao thông hàng hải và củng cố các thể chế khu vực. Hiện tại, khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đang phải đối mặt với khoảng trống quản trị, và vẫn chưa phải là khu vực có nhiều quyền lực
[43]. Ngoại giao Mỹ đã tích cực hoạt động để lấp những khoảng trống này, bằng cách tham gia vào Sáng kiến Hạ lưu sông Mê Kông, APEC, ASEAN hoặc Hiệp hội Vành đai Ấn Độ Dương. Việc tham gia các dự án khác, chẳng hạn như Hành lang Tăng trưởng Á - Phi do Ấn Độ và Nhật Bản dẫn đầu để đầu tư cho cơ sở hạ tầng ở Đông Phi, cũng có thể góp phần vào sự ổn định khu vực. Mỹ phải đặt những nỗ lực này vào trung tâm của chính sách và giảm bớt lập trường chống Trung Quốc[44].

 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ
 

[1] Bộ Ngoại giao Nhật Bản, “"Confluence of the Two Seas" Speech by H.E. Mr. Shinzo Abe, Prime Minister of Japan at the Parliament of the Republic of India”, 2007.
 
[2] Chính phủ Úc, “2017 Foreign Policy White Paper”, 2017.
[3] Congressional Research Service, “Indo-Pacific Strategies of US Allies and Partners: Issues for Congress”, op. cit.
[4] Kaewkamol Karen Pitakdumrongkit, op. cit.
[6]Congressional Research Service, “Indo-Pacific Strategies of US Allies and Partners: Issues for Congress”, op. cit.
[7] Sđd
[8] Sđd
[10] Prashanth Parameswaran, “ASEAN’S Role in a US Indo-Pacific Strategy”, 2018.
[11] Joe Freeman, “ASEAN leaders snub US meeting after Trump skips ASEAN summit”, The Jakarta Post, 4/11/2019.
[12] Kaewkamol Karen Pitakdumrongkit, op. cit.
[13] Prashanth Parameswaran, op. cit.
[15] Sđd
[16] Jean-Loup Samaan, “Confronting the Flaws in America’s Indo-Pacific Strategy”, War on the Rocks, 2019.
[17] Prashanth Parameswaran, op. cit.
[18] Shyam Saran, “A new phase in US Pivot to Asia?” The Tribune, 2019.
[20] Sđd
[21] Sđd
[22] Kaewkamol Karen Pitakdumrongkit, op. cit.
[23] Sđd
[24] Sđd
[25] Sđd
[26] Jonathan Fulton, op. cit.
[27] Sđd
[28] Kaewkamol Karen Pitakdumrongkit, op. cit.
[30] Shyam Saran, op. cit.
[31] Richard M. Rossow, “Reshaping India-United States Defense Cooperation in the Indo-Pacific”, CSIS Commentary, 2018.
[32] Sđd
[33] Congressional Research Service, “Indo-Pacific Strategies of US Allies and Partners: Issues for Congress”, op. cit.
[34] Do Sinderpal Singh đề cập trong Walter C. Ladwig III và Anit Mukherjee, “The United States, India, and the Future of the Indo-Pacific Strategy”, NBR Commentary, 2019.
[35] Congressional Research Service, “Indo-Pacific Strategies of US Allies and Partners: Issues for Congress”, op. cit.
[36] Sinderpal Singh đề cập trong Walter C. Ladwig III và Anit Mukherjee, op. cit.
[37] Sđd
[38] Congressional Research Service, “Indo-Pacific Strategies of US Allies and Partners: Issues for Congress”, op. cit.
[40] Congressional Research Service, “Indo-Pacific Strategies of US Allies and Partners: Issues for Congress”, op. cit.
[41] Richard M. Rossow, op. cit.
[42] Sđd

Bình luận của bạn