cis_banner_final_en.png
BIMSTEC và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Vai trò của công nghệ trong phát triển khu vực

18/03/2020


BIMSTEC và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Vai trò của công nghệ trong phát triển khu vực

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ trân trọng giới thiệu báo cáo “BIMSTEC và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Vai trò của công nghệ trong phát triển khu vực”, của tác giả Soumya Bhowmick và Pratnashree Basu, Quỹ người quan sát Ấn Độ (ORF), xuất bản tháng 3/2020. Bản dịch Tiếng Việt của Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, tháng 3/2020. Nguồn: https://www.orfonline.org/research/bimstec-and-the-fourth-industrial-revolution-the-role-of-technology-in-regional-development-62429/


Tóm tắt
Sau một thời gian gián đoạn gần hai thập kỷ, sáng kiến Hợp tác kinh tế và kỹ thuật đa ngành (BIMSTEC) của Vịnh Bengal quay trở lại danh sách những vấn đề nghị sự khu vực. Sáng kiến tràn đầy năng lượng mới đã dẫn đến thỏa thuận mới trong nhiều lĩnh vực hợp tác hữu hình và làm hồi sinh nhiều cơ quan, tổ chức. Bản báo cáo này xem xét vai trò của công nghệ và kỹ thuật số trong các mục tiêu BIMSTEC, hướng tới việc tạo điều kiện cho sự phát triển của khu vực, đặc biệt là trong lĩnh vực hàng hải. Sự chú ý của Ấn Độ đang hướng tới Sri Lanka, quốc gia dẫn đầu về hợp tác BIMSTEC trong lĩnh vực công nghệ.
 
Từ khóa: Chính sách ngoại giao Ấn Độ, Truyền thông và Internet, Kinh tế chính trị, Kỹ thuật và Truyền thông, Đông Á và Đông Nam Á, Thái Bình Dương
 
Giới thiệu
Vào năm 2015, Ấn Độ đã nâng cấp Chính sách Hướng Đông lên thành
Chính sách Hành động phía Đông[1] để tăng cường hợp tác kinh tế, quan hệ văn hóa và quan hệ chiến lược với các quốc gia láng giềng. Kể từ năm 1992, giao dịch thương mại giữa Ấn Độ với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã tăng từ 2 tỷ USD lên hơn 76 tỷ USD vào năm 2018[2]. Ngày nay, Ấn Độ tìm kiếm sự tham gia và hội nhập thể chế sâu rộng hơn trong khu vực, chủ yếu thông qua việc tham gia vào các nhóm khu vực như Sáng kiến Vịnh Bengal cho Hợp tác kinh tế và kỹ thuật đa ngành (BIMSTEC), Sáng kiến Hợp tác Sông Hằng - Sông Mekong (MGC), và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS).
 
Được thành lập năm 1997
[3], BIMSTEC là một nhóm gồm bảy quốc gia ở Nam Á và Đông Nam Á: Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Nepal và Bhutan. Tại Hội nghị thượng đỉnh Brazil-Nga-Ấn Độ-Trung Quốc-Nam Phi (BRICS) năm 2016, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã tiếp cận các nhà lãnh đạo của các nước BIMSTEC. Năm 2019, Thủ tướng Ấn Độ Modi đã mời các nguyên thủ quốc gia này tham gia nghi lễ tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, động thái này nhấn mạnh Chính phủ Ấn Độ coi trọng các quốc gia đó. (Trước đó, trong nghi lễ tuyên thệ của Thủ tướng Ấn Độ Modi năm 2014, ông đã mời các nhà lãnh đạo của các quốc gia Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC)[4].
 
Trong những năm gần đây, nhiều người hy vọng BIMSTEC sẽ phát triển mạnh mẽ hơn, vì hai lý do: Thứ nhất, sự trì trệ của SAARC, chủ yếu do sự cản trở của Pakistan, và những lo ngại của Ấn Độ về sự liên quan của Trung Quốc đến hành lang kinh tế gần như không hoạt động hiệu quả giữa Bangladesh-Trung Quốc-Ấn Độ-Myanmar (BCIM); Thứ hai, Ấn Độ không tham gia vào Sáng kiến Vành đai Con đường của Trung Quốc (BRI), đòi hỏi Ấn Độ phải tăng cường quan hệ chiến lược và kinh tế với khu vực Nam Á. Chính sách Hành động phía Đông của Ấn Độ, và đặc biệt trong đó bao gồm BIMSTEC, được coi là một giải pháp quan trọng thay thế cho việc quốc gia không tham gia BRI. Một động lực quan trọng của chính sách này là khu vực Đông Bắc Ấn Độ, nơi có cơ sở hạ tầng được cải tạo và thúc đẩy trong khu vực
[5].
 
BIMSTEC đã chứng minh là một sáng kiến đầy hứa hẹn ngay từ những năm đầu tiên; tuy nhiên, sau đó, nó mang lại rất ít thành công. Có ý kiến cho rằng, trên cương vị là Chủ tịch của khối, Sri Lanka đã thể hiện rất ít sự quan tâm đến sự phát triển của BISMTEC, so với sự nhiệt tình mà nước này đã dành cho SAARC
[6]. Trong tương lai, để BIMSTEC thoát khỏi sự trì trệ, khối này cần vượt ra khỏi chủ nghĩa khu vực mang tính phản ứng[7]. Khối này cần bắt đầu công nhận tầm quan trọng về mặt kinh tế của vùng Vịnh Bengal, vì hai lý do: vị trí chiến lược của Vịnh Bengal, kết nối các thị trường sản phẩm trên khắp Nam Á; và nơi đây có nhiều chất xúc tác thị trường mạnh bao gồm vốn xã hội (sự đa dạng, giao thoa văn hóa); vật lý (kết nối hàng hải, có tiềm năng trở thành trung tâm cung cấp năng lượng); con người (lao động lành nghề và giá rẻ); và tự nhiên (khoáng sản và rừng). Do đó, BIMSTEC có thể đóng vai trò là phương tiện thích hợp để tăng cường hợp tác trong việc vận hành các khuôn khổ mới về công nghệ, địa chính trị, môi trường và xã hội.

BIMSTEC, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4IR), Kỹ thuật và Kỹ năng
Sau cuộc họp cấp bộ trưởng lần thứ 2 tại thủ đô Dhaka năm 1998, các quốc gia BIMSTEC đã xác định sáu lĩnh vực ưu tiên để hợp tác. Nhiều lĩnh vực đã được thêm vào sau cuộc họp cấp bộ trưởng lần thứ 8 tại thủ đô Dhaka năm 2005, và sau Hội nghị Bộ trưởng BIMSTEC lần thứ 11 tại New Delhi năm 2005. (Xem Bảng 1 để biết danh sách đầy đủ 14 lĩnh vực hợp tác chính của BIMSTEC
[8].)

Bảng 1: Các lĩnh vực ưu tiên hợp tác của BIMSTEC
Khu vực Quốc gia dẫn đầu
  1. Thương mại & Đầu tư Bangladesh
  2. Kỹ thuật Sri Lanka
  3. Năng lượng Myanmar
  4. Giao thông & Truyền thông Ấn Độ
  5. Du lịch Ấn Độ
  6. Thủy sản Thái Lan
  7. Nông nghiệp Myanmar
  8. Hợp tác văn hóa Bhutan
 9. Quản trị môi trường và thảm họa Ấn Độ
10. Y tế cộng đồng Thái Lan
11. Liên kết con người Thái Lan
12. Xóa đói giảm nghèo Nepal
13. Chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia Ấn Độ
14. Biến đổi khí hậu Bangladesh
Nguồn: “Areas of Cooperation,” BIMSTEC, https://bimstec.org/?page_id=199
 
Gần đây, tại Tuyên bố Hội nghị thượng đỉnh BIMSTEC lần thứ 4 năm 2018, Thái Lan đã đề xuất các trụ cột hợp tác tập trung hơn để tổ chức lại và ưu tiên cho sự tham gia của ngành trong nhóm
[9]. Từ gợi ý này, tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 16, Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan đã nêu ra năm lĩnh vực ưu tiên: kết nối; thương mại và đầu tư; liên hệ giữa người với người; Chống khủng bố; tội phạm và an ninh xuyên quốc gia; và khoa học & công nghệ[10].
 
Trong những lĩnh vực ưu tiên này, khoa học và công nghệ là lĩnh vực nổi bật, có vai trò quan trọng trong việc vận hành tất cả các chương trình phát triển khác, và cho phép khu vực bắt kịp với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4IR)
[11]. Xét cho cùng, đổi mới công nghệ đang diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực, bao gồm: thương mại, chống khủng bố và khai thác liên hệ giữa người với người. Các lĩnh vực công nghệ định hình 4IR bao gồm: Trí tuệ nhân tạo, xử lý và phổ biến dữ liệu, blockchain, Internet vạn vật, máy bay không người lái, chỉnh sửa gen người, và bảo mật mạng. Những ứng dụng này sẽ tác động tới không chỉ việc hoạch định chính sách đối nội, mà còn cả quá trình hợp tác quốc tế trên nhiều diễn đàn toàn cầu[12].
 
Ngay từ khi thành lập vào năm 1997, BIMSTEC đã xác định công nghệ là một trong những lĩnh vực ưu tiên để hợp tác. Vào thời điểm đó, các quốc gia BIMSTEC hướng tới việc sáng tạo và chia sẻ công nghệ để đạt được thành quả trong các ngành như công nghiệp hóa nông nghiệp, chế biến thực phẩm, sản phẩm thảo dược, công nghệ sinh học, và các ngành liên quan đến công nghệ thông tin
[13]. Trong thời kỳ đó, các quốc gia Nam Á và Đông Á chủ yếu là các nước nông nghiệp, nền công nghiệp của những nước này còn non trẻ hơn so với thế giới phương Tây, việc sử dụng công nghệ trong khu vực chủ yếu là nhằm mục đích đưa hàng hóa nông nghiệp gia nhập chuỗi giá trị.
 
Ngày nay, các nước BIMSTEC hướng đến cải thiện kinh tế và công nghệ. Những trọng tâm ưu tiên hiện nay để tăng cường hợp tác trong nhóm gồm có: nghiên cứu khoa học, phát triển phần mềm và phần cứng, nghiên cứu và phát triển (R&D) chung và Hệ thống thông tin địa lý (GIS). Các quốc gia BIMSTEC đang tập trung phát triển kỹ năng công nghệ để xây dựng một khuôn khổ phù hợp với nền kinh tế kỹ thuật số với những tính năng như sau:
- tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuyên quốc gia tạo ra và tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu;
- tận dụng các thị trường kỹ thuật số và nền tảng thương mại điện tử có tốc độ phát triển nhanh và mạnh mẽ;
- kích thích các nhà sản xuất làm việc hiệu quả hơn, sáng tạo và năng suất hơn; và
- loại bỏ các rào cản đang ngăn trở các nước đang phát triển, như hậu cần không hiệu quả, thương mại yếu kém và khó tiếp cận thị trường
[14].
 
Quốc gia đi đầu trong các sáng kiến khoa học và công nghệ BIMSTEC là Sri Lanka. Ngay từ năm 2008, các nhà lãnh đạo BIMSTEC đã thành lập Cơ sở chuyển giao công nghệ BIMSTEC (TTF) tại Sri Lanka
[15]. [15] (Xem Bảng 2 để biết những công việc đã được thực hiện cho đến nay (3/2020) trong lĩnh vực này.)
 
Bảng 2: Những công việc BIMSTEC đã thực hiện trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
Năm Hội nghị/Thượng đỉnh Đề xuất
2006 Hội nghị cán bộ cấp cao lần thứ 11, Colombo, Sri Lanka. Đề xuất thành lập cơ sở giao dịch chuyển giao công nghệ BIMSTEC tại Sri Lanka.
2006 Hội nghị cấp Bộ trưởng lần thứ 9, New Delhi, Ấn Độ. Nhấn mạnh vào hợp tác trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản nâng cao; trao đổi chuyên môn về phát triển phần mềm và phần cứng; R & D chung trong lĩnh vực này; chuyển giao công nghệ và trao đổi kinh nghiệm trên Hệ thống thông tin địa lý (GIS).
2008 Hội nghị thượng đỉnh BIMSTEC lần thứ hai, New Delhi, Ấn Độ. Quyết định thành lập Cơ sở chuyển giao công nghệ BIMSTEC tại Sri Lanka.
2014 Hội nghị thượng đỉnh BIMSTEC lần thứ ba, Nay Pyi Taw, Myanmar. Tăng cường hợp tác trong mở rộng cơ sở kỹ năng và công nghệ của các quốc gia thành viên BIMTEC thông qua quan hệ đối tác nhắm đến các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSMEs). Quyết định đẩy nhanh triển khai nội dung Bản ghi nhớ của Hiệp hội về việc thành lập Cơ sở chuyển giao công nghệ BIMSTEC tại Sri Lanka.
2016 Hội nghị thượng đỉnh BIMSTEC mở rộng và kỳ nghỉ dưỡng của các lãnh đạo BIMSTECT, Goa, Ấn Độ. Nhấn mạnh vào việc thành lập Cơ sở chuyển giao công nghệ BIMSTEC tại Sri Lanka để giúp MSME tại các quốc gia thành viên.
2017 Hội nghị nhóm chuyên gia BIMSTEC lần thứ tư, về thiết lập các cơ sở chuyển giao kỹ thuật của BIMSTEC, Colombo, Sri Lanka. Văn bản dự thảo Bản ghi nhớ tham gia (MoA) của Cơ sở chuyển giao công nghệ BIMSTEC đã được hoàn thiện. Ngân sách đề xuất cho cơ sở cũng đã được chuẩn bị để đệ trình cho Phiên họp thứ mười chín của Hội nghị quan chức cấp cao BIMSTEC.
Nguồn: “Technology,” BIMSTEC, https://bimstec.org/?page_id=266
 
Khi nền kinh tế kỹ thuật số ở châu Á cho thấy sự bùng nổ phi thường, riêng khu vực Đông Nam Á dự kiến sẽ vượt 200 tỷ USD vào năm 2025
[16]. Câu hỏi đặt ra là liệu BIMSTEC có thể phát huy hết tiềm năng của xu hướng này hay không. Quan trọng hơn, Sri Lanka sẽ thực thi trách nhiệm của mình ra sao để dẫn dắt sự phát triển công nghệ của khối BIMSTEC, trong khi nước này đang có nhiều vấn đề[17] về chính trị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số, trình độ kỹ năng, quy định và FDI. Sri Lanka được kỳ vọng nhiều về việc áp dụng hệ sinh thái kỹ thuật số và đầu tư vào kỹ thuật công nghệ trong khu vực, phù hợp với Chính sách kỹ thuật số quốc gia 2020-2025[18], và quan trọng hơn là ban hành TTF chức năng cho nền tảng BIMSTEC. Theo khuôn khổ sẵn sàng chuyển đổi kỹ thuật số của McKinsey, Sri Lanka đạt 35 điểm, cao hơn hai đơn vị so với trung bình toàn cầu là 33, với các thế mạnh đã được chứng minh về kết nối, tiếp thị kỹ thuật số, đầu tư vào các sáng kiến kỹ thuật số và quan trọng là khả năng hành động nhanh chóng trên các nền tảng khác nhau[19].
 
Công thức toán học để đánh giá sự tiến bộ công nghệ
Cả hai lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển và nội sinh đều giải thích nghèo đói ở các nước đang phát triển do sự khác biệt về trình độ công nghệ. Cụ thể, các lý thuyết nội sinh cho rằng, khoảng cách về nguồn lực ý tưởng sáng tạo là do sự khác biệt về khả năng hấp thụ công nghệ cho nhóm người có thu nhập thấp ở các quốc gia kém phát triển. Mục đích của phổ biến công nghệ trong thời hiện đại là đạt được sự hội tụ kinh tế giữa các quốc gia, được thúc đẩy bởi thương mại trong công nghệ. Khoảng cách về mức thu nhập giữa các quốc gia sẽ thu hẹp nếu các quốc gia trẻ về công nghệ có thể nâng cấp lĩnh vực khoa học và công nghệ với tốc độ nhanh hơn các quốc gia tiên tiến
[20].
 
Hội nhập toàn cầu đã giúp các nước đi sau về công nghệ như các quốc gia BIMSTEC, tiếp cận với các công nghệ tiên tiến. Điều này không chỉ giúp tăng thu nhập bình quân đầu người mà còn tăng năng suất tổng hợp (TFP) ở các nước thu nhập thấp
[21]. Các nghiên cứu thực nghiệm[22],[23],[24] cho thấy, các quốc gia nhập khẩu công nghệ từ những nước hàng đầu về công nghệ của thế giới đã có sự tăng trưởng nhanh hơn về TFP. BIMSTEC cũng cần phải thực hiện điều này bằng cách xác định các đối tác phù hợp để nhập khẩu công nghệ và học hỏi từ những nước này, ví dụ nhóm các quốc gia kỹ thuật số[25], hay còn gọi là nhóm D5 (Sáng lập viên nhóm D5 là Estonia, Israel, New Zealand, Hàn Quốc, Vương quốc Anh), sau đó tập trung vào sự khuếch tán công nghệ trong khu vực giữa các bên liên quan trong Vịnh Bengal. TTF tại Sri Lanka cần tập trung vào nhập khẩu công nghệ từ các quốc gia tiên tiến, cả công nghệ cho mục đích chung và đặc thù riêng của từng ngành, cho sự phát triển chung của khu vực.
 
Kỹ thuật số kỹ năng là một trong những lĩnh vực cốt lõi trong lĩnh vực công nghệ của BIMSTEC. Lĩnh vực này cần một lực đẩy mới, đơn giản vì công nghệ mới cần những kỹ năng mới. Trên thực tế, đối với các nước thu nhập thấp và trung bình như các nước trong BIMSTEC, do tỷ lệ của công nghệ nhập khẩu so với GDP đã tăng theo thời gian trong các ngành sử dụng nhiều lao động, việc tăng năng suất lao động  hay tăng số người lao động có tay nghề cao cũng không giúp ích nhiều
[26]. Hầu hết các quốc gia trong BIMSTEC đều được xếp hạng tương đối thấp về thu nhập bình quân đầu người và vẫn đang trong quá trình chuyển đổi sang trạng thái ngang bằng về thu nhập với các quốc gia công nghệ tiên tiến, sự tương tác của những nước này với những nước dẫn đầu về công nghệ trên thế giới có thể được minh họa một cách hiệu quả bằng cách xây dựng một mô hình, như mô hình của Nelson và Phelps như sau[27]:





Cuối cùng, nghiên cứu
[28] rút ra con đường cân bằng của phát triển công nghệ giữa các quốc gia BIMSTEC với các quốc gia khác như sau:



Do đó, mức độ tiềm năng của công nghệ được các quốc gia BIMSTEC sử dụng phụ thuộc vào: 1) trình độ học vấn của chính quốc gia đó, chỉ số h quyết định mức độ kỹ năng số của quốc gia; và 2) tốc độ theo cấp số nhân không đổi δ về sự tiến bộ công nghệ tại các quốc gia dẫn đầu về công nghệ, và những tiến bộ này hiện đã sẵn sàng để các nước chậm chân hơn về mặt công nghệ có thể tận dụng, do toàn cầu hóa
[29].

Nếu chức năng sản xuất ở các nước BIMSTEC được đặc trưng bởi độ co giãn không đáng kể giữa công nghệ nhập khẩu và lao động có tay nghề trong nước, thì lợi nhuận sẽ giảm nhanh chóng khi tăng một trong hai yếu tố công nghệ nhập khẩu hoặc lao động có tay nghề trong nước, trừ khi có sự tham gia của những yếu tố khác
[30]. Do đó, các chính phủ ở cả cấp quốc gia và liên quốc gia như BIMSTEC, cần phải làm việc đồng thời để giảm bớt nhập khẩu công nghệ bằng cách cắt giảm chi phí và nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động trong nước để họ có thể đánh giá cũng như học hỏi những cơ chế hoạt động kỹ thuật số một cách có hiệu quả hơn, đồng thời tăng cường cơ sở vốn nhân lực của các quốc gia.
 
Công nghệ trong lĩnh vực hàng hải
Với sự lãnh đạo của Sri Lanka, sự hợp tác về công nghệ của BIMSTEC có thể giúp các quốc gia thành viên tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hàng hải. Khi Vịnh Bengal có tầm quan trọng lớn hơn trong khuôn khổ chính sách địa chiến lược của không chỉ những quốc gia có Vịnh mà cả các cường quốc ngoài khu vực, và khi khu vực này tiếp tục thu hút lượng giao thông thương mại hàng hải ngày càng tăng, việc bảo vệ an ninh hàng hải sẽ càng trở nên cần thiết hơn. Mặc dù đây là nhiệm vụ mà các thành viên BIMSTEC thực hiện đơn giản chỉ vì vị trí địa lý của họ, nhưng nó cũng đòi hỏi những nỗ lực phối hợp hướng tới các sáng kiến nâng cao kỹ năng và xây dựng chính sách có liên quan để tạo điều kiện cho việc triển khai thực hiện hiệu quả.
 
Sri Lanka là một trong những quốc gia có vị trí chiến lược nhất ở khu vực Ấn Độ Dương, và do đó có vai trò nòng cốt trong việc nâng cao trình độ công nghệ trong BIMSTEC trong lĩnh vực hàng hải
[31]. Các lĩnh vực hợp tác công nghệ bao gồm:
Chuyển đổi kỹ thuật số trong các mạng lưới hàng hải, tạo điều kiện thuận lợi cho kết nối thương mại và khuyến khích phát triển các mặt hàng công nghệ, ví dụ như hàng hóa phổ biến trên internet, để khai thác các quy mô của các nền kinh tế trong khu vực.
 
Đầu tư vào an ninh hàng hải để bảo vệ khu vực này khỏi các mối đe dọa phi truyền thống và thiên tai. Một trong những cách có thể áp dụng là theo mô hình Indonesia-Malaysia-Philippines năm 2016 về việc thiết lập đường dây nóng để nâng cao năng lực ứng phó khẩn cấp chống nạn cướp biển và bắt cóc, và củng cố an ninh ở các vùng biển lân cận
[32]. Hội nghị lần đầu tiên của BIMSTEC bàn về vấn nạn buôn bán ma túy, được tổ chức tại New Delhi vào tháng 2/2020, là cơ hội để các nước cân nhắc các mối đe dọa đang gia tăng do vấn đề này gây ra, và tìm cách giảm thiểu, đi kèm với các biện pháp tốt có thể để ngăn chặn tội phạm ma túy[33].
 
Nâng cấp các cảng biển trong khu vực
Các cảng biển là nền tảng của kết nối hàng hải và đóng vai trò là trung tâm hậu cần cho thương mại hàng hải, là các điểm kết nối của chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau trong tương tác kinh tế, các quốc gia phụ thuộc vào hậu cần và cơ sở hạ tầng của các cảng, vì thương mại đường biển chiếm gần 90% thương mại toàn cầu
[34]. Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) ước tính, thương mại hàng hải quốc tế sẽ mở rộng với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 3,5% trong giai đoạn 2019-2024, với những phương thức chuyên chở quan trọng nhất là công-ten-nơ, chở hàng khô và hàng khí[35]. Cảng biển được coi là nhà cung cấp dịch vụ hậu cần bên thứ ba (3PL) quan trọng, thực hiện các chức năng vận chuyển, hậu cần, phân phối và không gian kho chứa[36]. Ước tính rằng, sự cạnh tranh giữa các cảng sẽ ngày càng sâu sắc, do các công ty vận tải tăng cường liên minh để chống lại các cơn co của thắt nhu cầu thị trường, từ đó, buộc các cảng phải tăng cường hiệu quả, và nâng cấp, tối đa hóa năng lực chuyên chở bằng công-ten-nơ[37]. Do đó, những người điều hành cảng biển sẽ ngày càng cần tới công nghệ kỹ thuật số và tự động hóa để cải thiện năng lực cũng như tăng khả năng thích ứng. (Xem Bảng 3 để biết danh sách các ứng dụng công nghệ quan trọng nhất đang được sử dụng trong ngành công nghiệp cảng biển)[38].

Bảng 3: Ứng dụng công nghệ trong ngành công nghiệp cảng biển
Công nghệ Ứng dụng và giá trị Ví dụ
Internet vạn vật (IoT) Giám sát các luồng hậu cần vật lý, thu thập và giám sát dữ liệu, cho phép ra quyết định thông minh, tối ưu hóa các quy trình. Cảng Hamburg sử dụng mạng nội bộ, điện toán đám mây, thiết bị bến cảng di động, Internet vạn vật, và công nghệ dữ liệu lớn để quản lý khu vực cảng, bãi đỗ xe, nhà ga và đường trong cảng.

Tàu thông minh giảm tiêu thụ dầu và giám sát vận chuyển.
Thiết bị bay không người lái (drones);
Xe tải không người lái; Tàu thủy không người lái
Loại bỏ hoặc giảm thiểu các hoạt động có người lái, nâng cao hiệu quả và bảo mật vận chuyển Các cảng sử dụng máy bay không người lái để theo dõi xả thải; tàu sử dụng máy bay không người lái để giao tài liệu giấy tờ.

Hãng Starship Technologies đang thử nghiệm robot giao hàng tự lái mang tính cách mạng tại London.
Rô bốt Loại bỏ hoặc giảm thiểu các hoạt động có người vận hành, nâng cao hiệu quả và vận chuyển bảo mật. Thực hiện các hoạt động dựa trên quy trình được tiêu chuẩn hóa để nâng cao hiệu quả Amazon sử dụng rô bốt trong kho để quản lý và giao hàng
Kỹ thuật in 3D Biến sản xuất hàng loạt thành sản xuất và phân phối theo nhu cầu khách hàng Cảng Rotterdam sử dụng các công nghệ in 3D để hỗ trợ bảo trì và sửa chữa các bộ phận và phụ kiện.
Dữ liệu lớn Cung cấp phân tích dữ liệu và thông tin cốt lõi, xác định cơ hội và rủi ro, và tối đa hóa hiệu quả. Cơ quan Hàng hải và Cảng Singapore tích hợp dữ liệu thời gian thực thông qua một nền tảng hợp nhất, sử dụng phân tích tổng hợp, phân tích sự bất thường và khai thác dữ liệu để phát triển các công cụ giám sát giao thông, giám sát và phát hiện sự bất thường của tàu để cải thiện an ninh cảng.

Thông qua chương trình quản lý quy trình động Damco Dynamic Flow Control, Damco phân tích và tối ưu hóa dữ liệu chuỗi cung ứng, giảm chi phí hậu cần và thời gian, và đơn giản hóa các quy trình.
Điện toán đám mây Xây dựng cộng đồng cảng, tạo điều kiện cho quá trình thương thảo Trucker Path và Cargomatic đã tung ra các ứng dụng để tạo điều kiện cho việc thỏa thuận các hợp đồng, giảm thời gian tàu nằm chờ, và nâng cao hiệu quả của vận tải đường bộ.
Nguồn: Connected Ports Driving Future Trade, Accenture and SIPG, 2016, 
 
Tất cả các quốc gia thành viên BIMSTEC đều có cảng nước sâu. Năm 2019, Hội nghị Cảng BIMSTEC đầu tiên đã thảo luận về các giải pháp công nghệ để tối ưu hóa hiệu quả, sử dụng tài nguyên, thời gian và năng lượng và vận hành cảng xanh
[39]. Việc triển khai các hoạt động kỹ thuật số sẽ mang lại lợi ích cho ngành hàng hải theo hai cách chính: giám sát và hệ thống hóa. Quá trình số hóa trong những năm tới là điều cần thiết cho thương mại hàng hải, vì nó hứa hẹn nâng cao hiệu quả trên một phạm vi rộng, từ hoạt động cảng, đến quy trình hậu cần, hợp lý hóa dịch vụ vận chuyển và tạo thuận lợi chung cho các giao dịch từ đầu đến cuối và giao thông bao gồm toàn bộ quá trình vận chuyển. Các công nghệ quản lý cảng thông minh[40] sẽ tác động đến cơ sở hạ tầng thông qua việc sử dụng các cảm biến theo dõi, xử lý hàng hóa theo thời gian thực, điều phối giao thông đa phương thức và sử dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain) để bảo mật cho công-ten-nơ, đảm bảo sự minh bạch và hoạt động hải quan hiệu quả.

Với những cảng đang chịu những thách thức đồng thời về khối lượng công việc tăng và phải tăng cường hiệu quả, thì việc số hóa có lẽ là cách duy nhất để tiến lên phía trước. Nói cách khác, mục đích của số hóa sẽ là tạo điều kiện cho việc trao đổi nhiều bên một cách liền mạch và hợp lý, để kết nối những đối tượng xa nhất có thể. (Xem Bảng 4
[41] để biết các yêu cầu cụ thể để thúc đẩy các giải pháp công nghệ hiện hành cho cảng biển.)

Bảng 4: Yêu cầu các giải pháp công nghệ cho từng loại cảng
Loại hình Mục tiêu Áp dụng
Cảng cứu trợ khẩn cấp Hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh ·Hệ thống cộng đồng cảng
·Hải quan một cửa điện tử
·Hệ thống kiểm tra X quang
·Hệ thống quản lý truy cập sinh học
Trung tâm thương mại nội vùng Công suất cao ·Hệ thống quản lý tàu chở hàng thông minh
·Quản lý và điều khiển thiết bị
·Cổng tự động hóa
·Các giải pháp quản lý an toàn
Cảng mô hình liên kết Tối ưu hóa lưu lượng giao thông bằng nhiều loại hình vận tải ·Hệ thống hẹn thời gian cho xe tải
·Hệ thống quản lý giao thông
·Ga tích hợp đường ray và xà lan
Cảng của thành phố Giảm thiểu tác động của cảng đối với môi trường xung quanh ·Quản lý sức khỏe tài sản
·Môi trường và năng lượng
·Hệ thống quản lý
·Ga đỗ rộng tương đương bến cảng
Nguồn: Jens Riedl, Francois-Xavier Delenclos và Alexander Rasmussen, “To Get Smart, Ports Go Digital”, Boston Consulting Group, 11/4/2018.
 
Ngành hàng hải toàn cầu đang tương đối tụt hậu trong việc khai thác các chức năng kỹ thuật số. Hoạt động bến cảng tại nhiều quốc gia chủ yếu vẫn là thủ công, làm trên giấy, rất ít trao đổi dữ liệu điện tử. Vì ngành hàng hải liên quan đến nhiều bên liên quan và nhiều người tham gia ở các cấp độ khác nhau của hệ thống, nên việc áp dụng công nghệ kỹ thuật số không chỉ quan trọng đối với tất cả các bên liên quan để tăng hiệu quả ở tất cả các cấp của toàn bộ quá trình, mà còn cho phép các bên liên quan hợp tác trên cùng nền tảng mà không cần tạo ra các hệ thống mới. Việc chuyển đổi sang các hoạt động kỹ thuật số sẽ đòi hỏi người lao động phải được trang bị các nhóm kỹ năng khác với những gì hiện đang có. Do đó, các kỹ năng sử dụng kỹ thuật để tối ưu hóa các hoạt động cảng sẽ đòi hỏi được đầu tư đáng kể và các quốc gia hàng đầu về công nghệ cần chuyển giao bí quyết làm việc.
 
Chỉ có chiều dài từ sáu đến 10 hải lý trong một trong những tuyến vận chuyển đông đúc nhất thế giới là tuyến vận chuyển Đông-Tây, tuyến vận chuyển hàng hải của Sri Lanka tương đối tiên tiến hơn so với các nước láng giềng gần nhất. Trong những năm gần đây, đất nước này đã hướng tới việc phát triển thành một trung tâm hàng hải. Đất nước này phục vụ các chuyến hàng năng lượng và hàng hóa thông qua hai điểm chiến lược là kênh đào Suez và eo biển Malacca. Sri Lanka có Chỉ số Hiệu suất Hậu cần (LPI) tốt theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, đứng thứ 94 trong số 160 quốc gia năm 2018. Chỉ số LPI cho thấy hiệu quả trong quá trình bốc dỡ hàng hóa, chất lượng cơ sở hạ tầng liên quan đến thương mại và giao thông, mức độ thuận lợi trong việc vận chuyển hàng với mức giá cạnh tranh, năng lực và chất lượng dịch vụ hậu cần, khả năng theo dõi và truy xuất lộ trình lô hàng, và việc giao hàng đúng theo lịch trình và thời gian dự kiến
[42]. (Hình 1 minh họa chỉ số LPI của Sri Lanka năm 2018[43].)

Hình 1: Chỉ số LPI của Sri Lanka

Nguồn: “
Country Score Card: Sri Lanka 2018”, Ngân hàng Thế giới. 
 
Phần lớn tàu đến Sri Lanka đều được qua xử lý ở cảng Colombo, tàu chủ yếu chở hàng hóa có nguồn gốc từ và đi đến châu Âu, Đông và Nam Á, Vịnh Ba Tư và Đông Phi
[44]. Colombo được xếp hạng là Cảng kết nối tốt nhất thứ 13 trên thế giới theo Chỉ số kết nối cảng Drewry năm 2017 và là cảng công-te-nơ tăng trưởng mạnh nhất trong số 30 cảng công-te-nơ hàng đầu trong nửa đầu năm 2018[45]. Các cảng biển chính khác bao gồm Galle, Trincomalee và Hambantota, sau đó cũng ở một vị trí thuận lợi làm trạm trung chuyển. Cơ sở trung chuyển khí dầu mỏ hóa lỏng tại Hambantota là cơ sở lớn nhất ở châu Á[46].
 
Xét về cả vị trí địa lý cũng như khả năng kết nối, Sri Lanka được coi là một trung tâm hàng hải, trong đó cảng Colombo hoạt động như một trong những cảng trung chuyển phát triển nhanh nhất được cho phép tàu công-ten-nơ hiện đại, kết nối với mạng lưới cảng trung chuyển vệ tinh
[47]. Những điểm mạnh trong hải cảng của đất nước này là thời gian quay vòng nhanh và độ tin cậy cao. Các phương tiện vận tải công-ten-nơ, kho bãi, vận chuyển và cảng đóng góp tới 2,5% tổng GPD[48]; nếu áp dụng kỹ thuật số hóa để tối đa hóa hiệu quả thì mức độ đóng góp có thể mở rộng hơn. Khi khu vực BIMSTEC tập trung vào kết nối, trong đó không thể thiếu vai trò của kỹ thuật số ngành hậu cầu (logistics), sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hiệu quả hoạt động, từ đó không chỉ thúc đẩy Sri Lanka trở thành một nút trung chuyển trên tuyến vận tải Đông-Tây, mà còn bổ sung cho các hoạt động hàng hải trên biển của các nước thành viên.
 
Theo quan điểm của Sri Lanka, phải đẩy mạnh nỗ lực số hóa trong bối cảnh cạnh tranh từ các cảng trong các khu vực khác như Singapore ở phía Đông và Dubai ở phía Tây. Ước tính rằng, các cảng của Sri Lanka vẫn chưa được sử dụng đúng với tiềm năng, và cũng chưa thể khai thác để đáp ứng với mức độ tăng cả số lượng và kích cỡ tàu hàng
[49]. Đối với Ấn Độ, các hoạt động kỹ thuật số sẽ thúc đẩy những cảng chưa được sử dụng tốt, cũng như hỗ trợ cho các cảng bị quá tải ở bờ biển phía Đông Ấn Độ. Đối với Thái Lan, các giải pháp kỹ thuật số sẽ bổ sung cho các sáng kiến ​​kết nối và phát triển cơ sở hạ tầng đang diễn ra ở nước này, để đẩy mạnh phát triển và tối đa hóa hoạt động tại các cảng ở Bangkok và Laem Chabang. Do đó, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật số sẽ có thể góp phần vào việc sử dụng tối ưu các cảng biển chính trong khu vực BIMSTEC. Sri Lanka, cùng với Ấn Độ và Thái Lan, có thể hỗ trợ công nghệ cho Myanmar để nâng cao năng lực. Colombo cũng nên hợp tác với Trung tâm hợp nhất thông tin ở Ấn Độ[50] và phối hợp với Chính phủ Ấn Độ, trong các sáng kiến Sagarmala và ​​Bảo mật và tăng trưởng cho tất cả mọi người (SAGAR) trong khu vực, tập trung vào phát triển lấy cảng biển làm trung tâm và chú trọng an ninh hàng hải.
 
Phải thừa nhận rằng, nếu không có sự tham gia tối ưu của Ấn Độ thì các cảng của Sri Lanka sẽ không thể có thành công về mặt kinh tế và vẫn chưa được sử dụng đúng mức. Bangladesh cũng đã nổi lên như một trong những nền kinh tế hàng đầu trong khu vực với các chỉ số xã hội mạnh mẽ và một chế độ chính trị nhìn chung ổn định. Đất nước này tiếp tục định hướng quỹ đạo tăng trưởng theo hướng kỹ thuật số hóa và sẵn sàng trở thành đối tác hữu ích trong việc phát triển lĩnh vực này trong khối BIMSTEC
[51]. Các quốc gia không giáp biển như Nepal và Bhutan cũng có mối quan tâm đáng kể trong việc sử dụng tốt hơn các giải pháp công nghệ để tạo thuận lợi cho việc tiếp cận và hoạt động hàng hải của họ thông qua các quốc gia duyên hải trong khối BIMSTEC.
 
Bên cạnh kết nối hàng hải, công nghệ cũng cần được áp dụng trong an ninh hàng hải. Khu vực Vịnh Bengal phải đối mặt với nhiều thách thức an ninh, và các quốc gia thành viên BIMSTEC có thể hợp tác cùng nhau để thích nghi với những thách thức này. Các hệ thống kỹ thuật số sẽ có thể hỗ trợ giám sát môi trường hàng hải, bao gồm: thực hiện các cuộc tuần tra; tìm kiếm cứu nạn; giám sát và tạo ra các hệ thống cảnh báo sớm về thiên tai và các mối đe dọa an ninh như khủng bố, buôn bán ma túy và vũ khí; đánh bắt hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không thường xuyên (IUU); và các vụ cướp biển có vũ trang
[52]. Để có thể sử dụng công nghệ nhằm tăng cường các hoạt động an ninh hàng hải nội địa, Sri Lanka sẽ phải tổ chức lại việc phân bổ tài chính trong nước mà hiện tại đang được sử dụng phần lớn cho chi phí thường xuyên, lương nhân viên, lắp đặt và bảo trì vũ khí, và phải chi tiêu nhiều hơn với số vốn đáng lẽ có thể dùng cho việc mua sắm công nghệ mới[53].
 
Quan trọng hơn, các giải pháp kỹ thuật số sẽ có thể đóng góp đáng kể vào việc nâng cao năng lực về mặt nhận thức khu vực trên biển (MDA) và quản trị hàng hải của những cơ quan quản trị biển. Về mặt này, các thành viên BIMSTEC có thể xem xét kết hợp với những cam kết họ đã có với Hiệp hội Vành đai Ấn Độ Dương (IORA) và Hội nghị chuyên đề Hải quân Ấn Độ Dương (IONS) để phát triển chương trình nghị sự về an toàn và an ninh hàng hải của từng tổ chức
[54]. Vào cuối năm 2019, hội thảo an ninh ven biển đầu tiên của các quốc gia BIMSTEC đã được tổ chức để thảo luận về các hoạt động điển hình liên quan đến an ninh ven biển, quản lý nghề cá, an ninh cảng biển, các mối đe dọa phi truyền thống đối với an ninh hàng hải và các yêu cầu thiết lập Hệ thống Radar giám sát bờ biển[55]. Các công nghệ khác để duy trì an ninh hàng hải bao gồm tia X quang, tia gamma và quét neutron, sinh trắc học, nhận dạng tần số vô tuyến (RFID) và phương tiện hoạt động từ xa để giám sát dưới nước[56].

Ngoài ra, công nghệ cũng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế xanh. Hội nghị thượng đỉnh BIMSTEC lần thứ tư năm 2018 đã tuyên bố sẽ củng cố hợp tác trong lĩnh vực kinh tế xanh một trong tương lai bằng cách thành lập nhóm chuyên trách liên chính phủ
[57]. Những thách thức đối với các nguồn tài nguyên đại dương trong khu vực, như đánh bắt hải sản quá mức và cạn kiệt nguồn cá, có liên quan đến sinh kế của các cộng đồng ven biển của vùng vịnh Bengal.

Kết luận
Trong khi công nghệ có thể sẽ tạo ra sự chuyển đổi trong các phương thức sản xuất truyền thống, tạo ra tăng năng suất và mở rộng phạm vi của các cơ hội thương mại, chúng ta vẫn có nhiều lo ngại về sự gián đoạn tiềm ẩn sẽ đi kèm với quá trình kỹ thuật số hóa, như thay đổi đáng kể trong triển khai hoạt động và nhiều người sẽ mất công việc thường nhật. Chẳng hạn, các thiết bị tại cảng biển dự kiến sẽ trở nên thông minh hơn, và do đó, không cần người giám sát, nhân viên an ninh, lập hóa đơn, giao nhận, và vận chuyển hàng
[58].
 
Tuy nhiên, các hệ thống và quy trình tự động vẫn sẽ cần có người quản lý, và do đó các những công việc mang tính thủ công đã trở nên lỗi thời có thể được chuyển đổi thành các công việc mới, đòi hỏi phải nâng cao năng lực của lực lượng lao động hiện có. Ví dụ, một tàu có mạng Internet hỗ trợ sẽ không nhất thiết phải có người lái, và do đó, đội ngũ vận chuyển trong tương lai sẽ tự mình xử lý các nhiệm vụ và sự cố mạng nếu có giữa các tàu vận hành vật lý và các hệ thống giám sát. Tự động hóa cũng là để giải quyết những khó khan dai dẳng của tình trạng thiếu thủy thủ lành nghề
[59]. Hệ thống thông tin và hiển thị biểu đồ điện tử (ECDIS) cũng sẽ yêu cầu đoàn thủy thủ được đào tạo, và cuối cùng có thể chuyển từ lao động trên biển sang lao động trên bờ, với những thay đổi tất yếu trong công việc của những thủy thủ trong tương lai[60]. Trong bất kỳ sự chuyển giao lớn nào, sự thay đổi về lực lượng lao động trên biển sẽ liên quan nhiều đến những thay đổi về bản chất của công việc, và sẽ cần áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật chuyên ngành, thay vì xóa sổ hoàn toàn những công việc cũ.
 
Sự gia tăng đáng kể trong việc sử dụng các hệ thống tàu được điều khiển bằng phần mềm hoặc các giải pháp điện toán đám mây, bản thân nó cũng chịu nhiều thách thức, ví dụ như bị tấn công mạng (hack). Do đó, số hóa sẽ là yếu tố sống còn còn đối với an ninh của chuỗi cung ứng, đặc biệt là trong bối cảnh mạng Internet bị gián đoạn
[61]. An ninh mạng chắc chắn sẽ nổi lên như một trong những thách thức chính, và điều quan trọng đối với tất cả các bên liên quan là tìm giải pháp và biện pháp phòng ngừa để chống lại các cuộc tấn công trên không gian mạng.

BIMSTEC là tổ chức cấp khu vực duy nhất liên quan đến hai khu vực tiếp giáp nhau - Nam Á và Đông Nam Á. Về cơ bản, còn rất nhiều không gian để khai thác tiềm năng của các quốc gia thành viên. Việc chuyển đổi tiềm năng thành các lĩnh vực hợp tác cụ thể có thể thúc đẩy sự phát triển chung của toàn bộ khu vực. Hiện nay sự phát triển này chủ yếu phụ thuộc vào việc duy trì ý chí chính trị và quan hệ kinh doanh giữa các thành viên. Điều quan trọng cần lưu ý là sự hợp tác trong không gian hàng hải phải được giải quyết bởi cả chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp ở các quốc gia thành viên.
 
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư khác biệt rõ rệt so với các cuộc cách mạng trước đây về tốc độ, phạm vi, và tác động của nó về tốc độ phát triển theo cấp số nhân, tái cấu trúc hoàn toàn các thể chế và sự sắp xếp trong xã hội, và ảnh hưởng to lớn đến trật tự toàn cầu
[62]. Tuy nhiên, việc thiếu một đầu mối thể chế trung tâm khiến cho việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ trở nên khó khan và có những thách thức không giống như các lĩnh vực chính sách khác. Ngoài ra, do phát triển kỹ thuật số diễn ra nhanh chóng và đan xen giữa các lĩnh vực khác nhau, nguyên tắc nào cứng nhắc không năng động sẽ sớm trở nên không hiệu quả[63]. Tuy nhiên, bất chấp những thách thức này, không thể phủ nhận rằng, các hợp phần xã hội và kinh tế trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia đang tham gia nhiều hơn vào lĩnh vực công nghệ số hóa trong giai đoạn tương đối mới mẻ này của quá trình toàn cầu hóa.
 
Hàng hóa phức tạp là những sản phẩm đòi hỏi kiến thức đầu vào lớn và mạng lưới người tham gia rộng, trong khi chỉ có một số quốc gia sản xuất phổ biến một số sản phẩm nhất định. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa 4.0 này, các nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ để trở nên phức tạp hơn, tạo ra các sản phẩm có chỉ số kiến thức cao, đồng thời tạo ra các sản phẩm ít phổ biến hơn để đẩy mạnh chuỗi giá trị toàn cầu
[64]. Trong bối cảnh này, không thể phủ nhận rằng, công nghệ là chìa khóa chính có thể bổ sung các đặc điểm nêu trên cho các nền kinh tế khối BIMSTEC.

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

[1] Achintya Kumar Dutta, “Look East, Act East-II”, The Statesman, 10/7/2019.
[2] Rajeswari Pillai Rajagopalan, “ASEAN-India Convergence: The Geostrategic Realities”, The Diplomat, 26/1/2018.
[3]What is BIMSTEC and why is it important for India?”, Hindustan Times, 30/8/2018.
[4] Prabhash K Dutta, "Story behind Narendra Modi's shift from Saarc to Bimstec", India Today, 28/5/2019.
[5] Rupakjyoti Borah, "India responds to Belt and Road Initiative with infrastructure push", Nikkei Asian Review, 13/8/2019.
[6] Rajeswari Pillai Rajagopalan, "Beyond Rajapaksa’s Visit, Are India and Sri Lanka Really on the Same Page?", The Diplomat, 13/2/2020.
[7] Nilanjan Ghosh, “Time for BIMSTEC to realize Potential”, Mail Today, 17/2/2020.
[8]Areas of Cooperation”, BIMSTEC.
[10]Report of the Sixteenth BIMSTEC Ministerial Meeting”, Ministry of Foreign Affairs, Nepal.
[11] Klaus Schwab, “The Fourth Industrial Revolution: what it means, how to respond", World Economic Forum, 14/1/2016.
[13]Technology”, BIMSTEC.
[15] Xem chú thích số 13.
[17] Anishka De Zylva và Ganeshan Wignaraja, “Is Sri Lanka Sitting on the Bench of Asia’s Booming Digital Economy?” Lakshman Kadirgamar Institute, Policy Brief, 14/5/2018.
[18] "National Digital Policy for Sri Lanka 2020-2025, 7/10/2019, " Ministry of Digital Infrastructure and Information Technology (MDIIT) & Information and Communication Technology Agency of Sri Lanka.
[19] Alessia De Bustis, Vidhya Ganesan và Ganaka Herath, "Unlocking Sri Lanka’s digital opportunity", McKinsey Digital, 10/2018.
[20] Jörg Mayer, “Globalization, Technology Transfer, And Skill Accumulation In Low-Income Countries”, UNU-WIDER, Discussion Paper 2001/039, Helsinki (2001).
[21] Sđd.
[22] D.T. Coe và E. Helpman, ‘International R&D spillovers,’ European Economic Review 39 (1995): 859–887. 
[23] Sđd.
[24] W. Keller, ‘Are international R&D spillovers trade-related? Analyzing spillovers among randomly matched trade partners,’ European Economic Review 42(9/1998): 1469–1491.
[25] "Digital Nations Group", Digital Workplace Group.
[26] Xem chú thích số 20.
[27] Richard R. Nelson và Edmund S. Phelps, “Investment in Humans, Technological Diffusion, and Economic Growth”, The American Economic Review 56, no. 1/2 (3/1966): 69-75.
[28] Sđd.
[29] Xem chú thích số 20.
[30] Sđd.
[31] Anishka De Zylva và DivyaHundlani, "How Sri Lanka Can Enhance the Bay of Bengal Initiative”, The Diplomat, 31/8/2018.
[32] Joe Cochrane, "Indonesia, Malaysia and Philippines to Bolster Security at Sea", The New York Times, 5/5/2016.
[34] MI News Network, "Digitalization Wave In The Shipping Industry", Marine Insight, 1/9/2017.
[35] Review of Maritime Transport 2019 (United Nations Conference on Trade and Development, 1/2020).
[36] Andrzej Montwill, “The role of seaports as logistics centers in the modelling of the sustainable system for distribution of goods in urban areas,” Procedia - Social and Behavioral Sciences 151 (2014).
[37] Connected Ports Driving Future Trade (Accenture and SIPG, 2016).
[38] Sđd.
[39] MI News Network, "India To Inaugurate First Ever ‘BIMSTEC Ports Conclave’ In Vizag", Marine Insight, 6/11/2019.
[40] Jens Riedl, Francois-Xavier Delenclos và Alexander Rasmussen, "To Get Smart, Ports Go Digital", Boston Consulting Group, 11/4/2018.
[41] Sđd.
[42] "Country Score Card: Sri Lanka 2018", Ngân hàng Thế giới.
[43] Sđd
[44] "Colombo Port", Quản lý cảng Sri Lanka
[45] "Colombo Ranked Highest Growth Port by Alphaliner", The Maritime Executive, 13/9/2018.
[47]Sri Lanka: The Next Maritime Logistics And Distribution Hub In The Indian Ocean”, Sri Lanka Export Development Board, 26/12/2018.
[48] Sđd.
[49] Xem chú thích số 46.
[51] "For a more tech-driven Bangladesh", Dhaka Tribune, 23/2/2020.
[52] Natasha Fernando, "Sri Lanka’s Maritime Security Dilemma", South Asian Voices, 16/8/2019.
[53] Sđd.
[54] Gurpreet S Khurana, "BIMSTEC and Maritime Security: Issues, Imperatives and the Way Ahead", National Maritime Foundation, 16/11/2018.
[55] Mayank Singh, "BIMSTEC nations meet to enhance maritime security", The New Indian Express, 21/11/2019.
[56] "Using Technology To Bridge Maritime Security Gaps", National Infrastructure Institute Center for Infrastructure Expertise.
[57] Xem chú thích số 9.
[58] Xem chú thích số 37.
[59] Leah Kinthaert, "Digital Transformation: How Will it Change the Seafarer's Role?", Informa Connect, 4/9/2017.
[60] Sđd.
[62] Xem chú thích số 11.
[63] Xem chú thích số 12.
[64] Ricardo Hausmann và César A. Hidalgo, “Country Diversification, Product Ubiquity, and Economic Divergence”, HKS Faculty Research Working Paper Series, RWP10-045, John F. Kennedy School of Government, Harvard University (2010).

Bình luận của bạn