cis_banner_final_en.png
Những thay đổi trong mô hình quản trị tài nguyên nước ở Ấn Độ dưới thời Modi 2.0

22/03/2020


Những thay đổi trong mô hình quản trị tài nguyên nước ở Ấn Độ dưới thời Modi 2.0

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ trân trọng giới thiệu bài bình luận “Những thay đổi trong mô hình quản trị tài nguyên nước ở Ấn Độ dưới thời Modi 2.0” của Tiến sĩ Nilanjan Ghosh, Giám đốc Quỹ những nhà nghiên cứu quan sát (ORF) Ấn Độ. Ông là trưởng đại diện ORF tại thành phố Kolkata, Ấn Độ.


Chính phủ Ấn Độ trong nhiệm kỳ thứ 2 của Thủ tướng Modi (Modi 2.0) đang cho thấy những dấu hiệu thay đổi tích cực trong cách quản trị tài nguyên nước.
 
Chúng ta có thể chứng kiến một số biểu hiện của những thay đổi này trong hai dự thảo luật và một báo cáo từ thời Modi 1.0, cụ thể là: Dự thảo Khung tài nguyên nước quốc gia 2016 (NWFB); Dự luật mẫu về bảo tồn, bảo vệ, điều tiết và quản lý nước ngầm 2016; và báo cáo có tiêu đề “Một kiến trúc thể chế thế kỷ XXI cho các cải cách về tài nguyên nước của Ấn Độ”, (sau đây gọi tắt là Báo cáo).
 
Báo cáo và hai dự luật được soạn thảo bởi các ủy ban do Tiến sĩ Mihir Shah, cựu thành viên của Ủy ban Kế hoạch, chủ trì.
 
Báo cáo đề nghị giải thể Ủy ban Tài nguyên nước Trung ương (CWC) và Ủy ban Nước ngầm Trung ương (CGWB), để thành lập Ủy ban Tài nguyên Nước Quốc gia đa ngành (NWC), với lập luận rằng, không có chứng cứ khoa học nào cho thấy việc xử lý nước ngầm và nước mặt là hai lĩnh vực khác nhau, và cần có một cách tiếp cận quản trị hệ sinh thái lưu vực tích hợp.

Ý tưởng này kêu gọi các nhà khoa học xã hội, các chuyên gia quản lý và các chuyên ngành khác tham gia nhiều hơn vào mô hình quản trị tài nguyên nước, đồng thời cần thừa nhận rằng, tài nguyên nước cần một cách tiếp cận đa ngành chứ không giới hạn chỉ quản trị bằng kỹ thuật và kinh tế tân cổ điển thiển cận.
 
Sự thay đổi trong chính sách
Tư duy quản trị chỉ bằng các giải pháp kỹ thuật giảm kiểu cổ xưa của CWC đã không còn thích hợp. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên nước cần nhận thức được rằng, tư duy “không xây đê” và “không phát triển” do Ủy ban CWC áp dụng lâu nay sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực của Ấn Độ.

Trong nhiều nghiên cứu của tôi và công sự Jayanta Bandyopadhyay, chúng tôi đã lập luận và chỉ ra rằng, quan điểm lâu nay của CWC không đúng với sự thật khách quan.
 
Ý tưởng về cách tiếp cận đa ngành trong quản trị nước như được đề xuất trong Báo cáo dường như đang tạo ra tiếng vang tốt với Bộ Tài nguyên nước (Jal Shakti).

Bộ này đã thành lập một Ủy ban mới để soạn thảo Chính sách tài nguyên nước quốc gia mới (NWP) vào tháng 11/2019, do Tiến sĩ Mihir Shah chủ trì. Hội đồng soạn thảo có 11 thành viên, trong đó có Shashi Shekhar, cựu Thư ký ủy ban Tài nguyên nước, người cũng ủng hộ cách tiếp cận của quản trị lưu vực tích hợp.
 
Trái ngược hoàn toàn với xu hướng trước đây, đây không phải là một Ủy ban chỉ có các kỹ sư. Thay vào đó, thành viên Ủy ban có cả một nhà kinh tế học sinh thái, các nhà phân tích chính trị, các chuyên gia chính sách, và một số chuyên gia ủng hộ tư duy liên ngành, như KJ Joy và Himanshu Kulkarni.

Tất nhiên, Ủy ban có một số đại diện từ khối chính phủ. Gần đây tôi đã được Ủy ban này mời trình bản đóng góp ý kiến.
 
Khắc phục những lỗ hổng kiến thức
Phương pháp tiếp cận cũng như triết lý hoạt động cho thấy việc lập ra một Ủy ban mới là đúng đắn. Nhưng thách thức lớn nhất là phải khắc phục những lỗ hổng trong nhận thức đã gây khó khăn cho quản trị tài nguyên nước ở Ấn Độ cho đến nay.

Tư duy thống trị mô hình cũ là “nước cần cho an ninh lương thực”. Tuy duy cũ này cho rằng, quản trị tài nguyên nước là quản lý việc sử dụng nước trong các ngành công nghiệp, thủy điện và đô thị, về cơ bản đòi hỏi cấp nước theo kế hoạch cụ thể. Trong khi đó, mô hình mới đang nổi lên trong khoa học quản trị tài nguyên nước là Quản lý tài nguyên nước tích hợp (IWRM) ở quy mô lưu vực, bổ sung thêm một khía cạnh mới trong quản trị tài nguyên nước bằng cách tuyên bố triết lý mới: “nước cần cho hệ sinh thái”.
 
Với lối suy nghĩ mới này, mô hình cũ được thực hiện dưới các thể chế trước đây như CWC là mô hình không bền vững. Tôi tóm tắt một số ý kiến của tôi đã trình lên Ủy ban, như sau.
 
Nước nên được xem như là một phần không thể thiếu của chu trình thủy văn toàn cầu, và không phải là một nguồn tài nguyên vật chất được sử dụng để thỏa mãn các yêu cầu của con người.

Cung cấp khối lượng nước ngày càng nhiều không phải là điều kiện tiên quyết để tiếp tục tăng trưởng kinh tế và an ninh lương thực. Mối liên kết giữ “Nước” và “Lương thực” đã bị xóa bỏ trong nền kinh tế không chính thống mới của tài nguyên nước. Cách tốt hơn là phải đảm bảo sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả theo phương châm “mỗi giọt nước cho nhiều mùa vụ”.
 
Cần ưu tiên nghiêm ngặt các loại nhu cầu và yêu cầu về nước, bao gồm cả các nhu cầu của hệ sinh thái. Cần đánh giá toàn diện các dự án phát triển nước giữ tính toàn vẹn của chu trình thủy văn trọn vẹn. Kinh tế hệ sinh thái là ngành khoa học then chốt cho những đánh giá như vậy, một khuôn khổ liên ngành mới cần được thông qua.

Cần có một nền tảng kiến thức liên ngành với sự thừa nhận rõ ràng về sự tương tác của các lực lượng kinh tế, xã hội và sinh thái. Phải phát triển các công cụ kinh tế và xã hội phù hợp để thúc đẩy sử dụng tài nguyên nước một cách cẩn thận và hiệu quả, hoặc để giảm thiệt hại do chất lượng nước bị ô nhiễm. Hệ sinh thái lưu vực nên được hiểu là đơn vị quản trị; dòng chảy của sông nên được hiểu là đi kèmvới trầm tích và các hệ sinh thái liên quan.
 
Cần phải thiết kế các cơ chế thể chế phù hợp cho quản trị lưu vực tích hợp. Cần chuyển sang một định nghĩa mới về “dòng chảy môi trường” thay thế cho định nghĩa hiện nay sẽ có hệ quả là làm thay đổi cách tính tỷ lệ phần trăm của tổng lưu lượng.
 
Một cách tiếp cận theo nhiều cấp độ
Mặc dù dòng chảy môi trường thường được hiểu là dòng chảy cần thiết để duy trì tính toàn vẹn sinh thái của các dòng sông, của hệ sinh thái liên quan đến dòng sông, cũng như hàng hóa và dịch vụ do dòng chảy tạo ra, nhưng lưu lượng dòng chảy lại thường được phác họa dưới dạng thủy văn cho thấy tỷ lệ phần trăm của dòng chảy, và con số này chỉ có tính chất tạm thời.

Cách đo “thủy văn số học” này tuy tiện tiện lợi nhưng bỏ qua các khía cạnh xã hội, văn hóa - tâm linh, sinh thái học và các khía cạnh tinh vi khác của các chức năng của dòng chảy, dòng sông. Cần phải thảo luận và đàm phán để tìm ra một cách tiếp cận giữa các bên liên quan.
 
Thừa nhận mô hình quản trị mới theo cách sẽ không chỉ xem xét dòng nước theo dạng nước mặt hay nước ngầm, mà cần coi dòng nước là một dạng tích hợp. Việc này đánh dấu một sự thay đổi mô hình trong quản trị tài nguyên nước. Đây là nơi tư duy mới của chính sách mới, chính sách Tài nguyên Nước Quốc gia.

 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ
 
Nguồn: https://www.orfonline.org/research/how-modi-2-0-is-paving-new-ways-for-paradigm-changes-in-water-governance-in-india-61837/


Bấm vào đây để đọc bản tiếng Anh của bài viết này/Click here to read the English version of this article
 

 

Bình luận của bạn