cis_banner_final_en.png
Ấn Độ và truyền thông trong khủng hoảng Covid-19

06/04/2020


Ấn Độ và truyền thông trong khủng hoảng Covid-19

Đại dịch COVID-19 đang tàn phá toàn thế giới, gây áp lực nặng nề lên không chỉ các hệ thống y tế công cộng mà cả các hoạt động truyền thông. Khi phương tiện truyền thông xã hội là phương tiện chính để lan truyền và tiếp nhận thông tin, truyền thông trong khủng hoảng với các nhóm mục tiêu đa dạng trở thành chìa khóa trong việc đối phó với đại dịch.


Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố COVID-19 là đại dịch vì số ca mắc bệnh trên toàn thế giới đã tăng gấp 13 lần. Vào thời điểm đó, Ấn Độ chỉ mới có 62 trường hợp mắc bệnh, chỉ bằng 0,05% số ca nhiễm toàn cầu. Trong khi nhiều nước châu Âu và WHO đã hiểu mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng và sự cần thiết phải chống lại dịch bệnh, Ấn Độ bình chân phòng thủ, chờ đợi một cách bình thản trước cơn bão. Liệu Ấn Độ có chậm chân trong hành động phòng chống dịch?
 
Chính quyền Trung ương và chính quyền bang trong đại dịch
Ấn Độ có khoảng 736 quận, thuộc 28 bang và tám vùng lãnh thổ, với nhiều sắc thái đa dạng về phương ngữ và văn hóa, truyền thông trong khủng hoảng ở Ấn Độ trở thành một bài toán phức tạp. Nó không chỉ phải đưa thông điệp tới 1,3 tỷ công dân, mà còn phải vạch ra các kế hoạch truyền thông khủng hoảng được thiết kế riêng, phù hợp cho mọi tiểu bang và từng bộ phận của xã hội, đặc biệt là người nghèo và nhóm đối tượng bị thiệt thòi. Trong những ngày đầu dịch bùng phát ở Ấn Độ, các quốc gia bị ảnh hưởng sớm đã có nhiều biện pháp cụ thể, trong khi New Delhi vẫn chưa có chiến lược toàn quốc. Rõ ràng, sự phối hợp giữa Chính quyền các bang và Chính quyền Trung ương cần phải được thực hiện tốt hơn. Trong khi Chính quyền nhiều bang đã bắt đầu áp dụng các lệnh giới nghiêm, bằng cách viện dẫn phần 144 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (CrPC), thì Chính quyền Trung ương chỉ bắt đầu các biện pháp đối phó từ ngày 19/3/2020 khi Thủ tướng Narendra Modi kêu gọi lệnh Giới nghiêm Janta được thực hiện vào ngày 22/3/2020. Nhưng ở một số nơi trên cả nước, giờ giới nghiêm đã kết thúc khi một nhóm người tụ tập vỗ tay/rung chuông trong năm phút để ghi nhận những nỗ lực của nhân viên y tế, cảnh sát, người làm truyền thông và những người liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ thiết yếu, cho thấy dấu hiệu ban đầu của sự quan tâm đối với các tiêu chuẩn giãn cách xã hội. Như vậy, biện pháp toàn quốc mới chỉ là “Vỗ tay”, và nó làm lu mờ thông điệp chính về việc thành lập Lực lượng đặc nhiệm phản ứng kinh tế Covid-19 dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng Tài chính Nirmala Sitharaman. Hai ngày sau, Thủ tướng Ấn Độ tuyên bố phong tỏa hoàn toàn trên toàn quốc trong 21 ngày, dẫn đến tình trạng hoảng loạn tích trữ hàng hóa ở một số nơi. Cả hai bài diễn văn quốc gia của Thủ tướng đều có tính biểu tượng cao, nhưng thiếu những chỉ dẫn rõ ràng và chi tiết. Ngược lại, tại nhiều bang, đặc biệt là bang Kerala và bang Maharashtra, Chính quyền đã thực hiện chiến lược truyền thông khủng hoảng toàn diện và hệ thống, bằng cách liên tục thông báo cho công dân các số liệu thống kê chính thức. Chính quyền cũng liên tục tuyên bố các biện pháp phòng ngừa, và chuyển tải các kế hoạch hành động tương ứng của Chính quyền qua các kênh thông tin khác nhau. Những tương tác này, mặc dù đôi khi lặp đi lặp lại, đảm bảo tiếp cận tối đa và giảm thiểu mức độ hoảng loạn không đáng có trong cộng đồng. Hiện nay, cuộc khủng hoảng đã chuyển từ giai đoạn “phòng ngừa” sang giai đoạn “khủng hoảng”, Chính quyền Trung ương nên áp dụng “Lý thuyết truyền thông bằng hùng biện” hay còn gọi là “Cách thức tiếp cận đa tiếng nói”. Đây là cách tiếp cận có hợp tác của nhiều người - quan chức Chính phủ từ Trung ương đến địa phương, cơ quan Chính phủ, đội quản lý thảm họa, đại diện truyền thông và tổ chức phi chính phủ - để hành động tập thể thông qua tham vấn, chia sẻ dữ liệu và thảo luận liên tục trong cuộc khủng hoảng. Các quan hệ đối tác hợp tác như vậy trong truyền thông đảm bảo sự thâm nhập của thông điệp chính ở cấp cơ sở và hợp lý hóa luồng truyền thông ở cấp độ vĩ mô và vi mô, đồng thời hạn chế phạm vi tin giả và tin đồn.

Truyền thông toàn diện: cần thêm thời gian
Hiệu quả của bất kỳ chiến lược truyền thông khủng hoảng nào, đặc biệt là trong các thảm họa y tế công cộng, phụ thuộc vào tính chính xác của thông tin được phổ biến và cả tính bao quát của nó. Việc giải thích và tiếp thu thông điệp cần thay đổi đối với các nhóm khác nhau. Mặc dù chúng ta vẫn chưa biết liệu COVID-19 Ấn Độ có bước vào giai đoạn thứ ba hay không, các cơ quan liên quan đến việc truyền thông với các bên liên quan khác nhau nên đưa ra một chiến lược truyền thông toàn diện để giải quyết mối quan tâm của những người thuộc các nhóm kinh tế và xã hội khác nhau. Khi sử dụng các phương tiện khác nhau của truyền thông công cộng, cần đảm bảo rằng nó không phân biệt đối xử hoặc kỳ thị người tiếp nhận thông tin. Hơn nữa, thông tin/thông báo từ Chính quyền hoặc đại diện của Chính quyền không nên ảnh hưởng đến hành vi của công dân. Ví dụ, sự bất lực của Chính quyền Delhi trong việc ngăn chặn cuộc di cư hàng loạt của công nhân nhập cư vào UP đã phơi bày sự thất bại to lớn của chiến lược truyền thông. Mặt khác, thông tin liên lạc cá nhân bao trùm và kịp thời từ Thủ hiến bang Maharashtra, ông Uddhav Thackeray, đã đảm bảo cho cộng đồng người đi bộ từ bang Maharashtra biết về những phúc lợi mà họ sẽ được hưởng, ví dụ địa điểm các trại nghỉ ngơi an toàn, đã làm gương cho các bang khác noi theo. Sự bao trùm như vậy trong truyền thông khủng hoảng là phù hợp với Quy định sức khỏe quốc tế của WHO (IHR), bắt buộc nhà nước phải tôn trọng quyền con người.
 
Kêu gọi thay đổi trong chính sách và pháp luật để ứng phó với Covid-19
Sự xuất hiện của COVID-19 ở Ấn Độ đã gióng lên hồi chuông cảnh báo và vạch trần những kẽ hở không chỉ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng, mà cả trong khung pháp lý của liên bang liên quan đến truyền thông trong rủi ro và quản lý khủng hoảng. Chính phủ đã ban hành lệnh phong tỏa theo quy định của Đạo luật dịch bệnh thuộc địa năm 1897 và Đạo luật quản lý thảm họa quốc gia gần đây hơn năm 2005. Tuy nhiên, cả hai Đạo luật này đều không nêu rõ về truyền thông khủng hoảng, một trong những công cụ quan trọng nhất của quản lý khủng hoảng trong những thời điểm đặc biệt như lúc này. Các đạo luật này cần được sửa đổi và mở rộng khẩn cấp để vạch ra một khung quản lý khủng hoảng quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh có sự tăng trưởng theo cấp số nhân của các kênh truyền thông kỹ thuật số. Ngoài ra, WHO nên thay đổi IHR và thiết lập đúng các giao thức toàn cầu để truyền thông thích ứng với rủi ro và khủng hoảng. Các nhà hoạch định chính sách nên bắt đầu từ Khung hoạt động Hyogo, trong đó đưa ra một kế hoạch làm việc về quản lý khủng hoảng và chi tiết về khung giao tiếp trong khủng hoảng. Khung Hyogo truyên bố: “phát triển các hệ thống cảnh báo sớm tập trung vào con người, đặc biệt là các hệ thống có cảnh báo kịp thời và dễ hiểu đối với những người có nguy cơ, có tính đến các đặc điểm nhân khẩu học, giới tính, văn hóa và sinh kế của đối tượng mục tiêu, bao gồm hướng dẫn về cách hành động theo cảnh báo”. Các hướng dẫn cho toàn bộ người dân cần phải được đưa vào khung pháp lý để phù hợp hơn với diễn biến dịch bệnh hiện nay.
 
Trong khi cần thời gian để xem xét và sửa đổi luật, Chính phủ Ấn Độ và tất cả các bộ liên quan phải chủ động tham gia với các đối tác của họ ở các bang, cũng như các tổ chức xã hội dân sự, để tăng cường các kênh thông tin và truyền thông, trước khi đất nước Ấn Độ bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 lan rộng ra cộng đồng.

Tác giả: Ameya Mondkar là Điều phối viên chương trình tại Tổ chức nghiên cứu những nhà quan sát (ORF), Mumbai, Ấn Độ. Công việc của ông bao gồm quan hệ công chúng, quản lý ý tưởng, diễn đàn và tiếp cận cộng đồng.
 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ
 
Nguồn:
https://www.orfonline.org/expert-speak/covid-19-india-and-crisis-communication-64102/
 

Bấm vào đây để đọc bản tiếng Anh của bài viết này/Click here to read the English version of this article
 

 

Bình luận của bạn