cis_banner_final_en.png
Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh: Sự tương đồng về phương tiện và mục tiêu

18/05/2020


Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh: Sự tương đồng về phương tiện và mục tiêu

Mahatma Gandhi (1869-1948) và Hồ Chí Minh (1890-1969) là hai nhân vật nổi tiếng của thế kỷ XX. Cả hai đều là những huyền thoại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc ở châu Á.


Mahatma Gandhi (1869-1948) và Hồ Chí Minh (1890-1969) là hai nhân vật nổi tiếng của thế kỷ XX. Cả hai đều là những huyền thoại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc ở châu Á. Về cơ bản, cả hai nhà lãnh đạo này có mục tiêu chung là thiết lập hòa bình chống các thế lực thực dân và đế quốc. Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng và một chiến lược gia, trong khi Gandhi là một người kiến tạo hòa bình và một người đấu tranh bất bạo động. Tuy nhiên, bất chấp sự khác biệt to lớn trong tư tưởng của họ, cả Hồ Chí Minh và Gandhi đều chiến đấu vì những người bị áp bức và đều là những nhà yêu nước đấu tranh chống các thế lực đế quốc. Cả hai nhà lãnh đạo có tầm nhìn rõ ràng về thực tế quốc tế và trong nước, có cách tiếp cận thực tế, linh hoạt và sự kiên nhẫn và tinh tế để tìm kiếm các giải pháp thực tế cho vấn đề quốc gia của nước mình. Cả Gandhi và Hồ Chí Minh đều giống như những ngọn hải đăng chiếu ánh sáng hướng dẫn nền văn minh nhân loại trong cuộc chiến vì sự sinh tồn. Là những người dũng cảm vô song, tuy nhiên, cả hai nhà lãnh đạo này đều dành sự tôn trọng to lớn, và bày tỏ sự khiêm tốn đối với quần chúng nhân dân. Giống như Lênin và Gandhi, Hồ Chí Minh luôn nghĩ mình là một công bộc của nhân dân, như ông thường trích dẫn từ nhà văn vĩ đại Trung Quốc Lỗ Tấn (Lu Hsun), “Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ. Cúi đầu làm ngựa cho các nhi đồng”[1]. Cả Gandhi và Hồ Chí Minh đều là những người theo chủ nghĩa quốc tế vĩ đại, đại diện cho sự đoàn kết giữa quần chúng và nhân dân lao động ở các quốc gia khác nhau để củng cố liên minh giữa các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Trên thực tế, các hoạt động của hai nhà lãnh đạo này là một ví dụ điển hình về sự kết hợp hữu cơ giữa cuộc đấu tranh vì lợi ích của quần chúng ở các quốc gia tương ứng cũng như lợi ích của những dân tộc đấu tranh giành độc lập, vì tự do, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Dựa trên nền tảng đó, mục đích của bài viết này nhằm phân tích sự kết nối liên kết giữa các phương tiện và mục đích của hai nhà lãnh đạo ở châu Á, Gandhi và Hồ Chí Minh, những người đã sử dụng hai chiến lược khác nhau để giải phóng nhân dân Ấn Độ và Việt Nam khỏi nanh vuốt của chủ nghĩa thực dân, và đã trở thành biểu tượng về những chiến sĩ dũng cảm đấu tranh vì tự do của tất cả các dân tộc bị áp bức trong lịch sử thế giới.

Hồ Chí Minh và Gandhi: Hai nhân vật xuất phát từ những nền tảng xã hội và môi trường khác nhau
Cả Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh đều chiến đấu chống lại sự cai trị của nước ngoài tại đất nước họ: Gandhi đấu tranh chống sự cai trị của đế quốc Anh ở Ấn Độ, Hồ Chí Minh chống ách thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam. Tuy nhiên, cách thức và phương tiện mà nhà lãnh đạo Gandhi sử dụng để chống các nhà cai trị Anh hoàn toàn khác với Hồ Chí Minh. Gandhi đấu tranh một cách hòa bình và mang tính tôn giáo bằng việc tuyệt thực và tẩy chay để giành độc lập cho Ấn Độ. Hồ Chí Minh, mặc dù không tin vào bạo lực và vào việc sử dụng sức mạnh quân sự, đã sử dụng vũ lực khi cần thiết vì nền độc lập của Việt Nam.

Hồ Chí Minh (1890-1969) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, tại làng Kim Liên, tỉnh Nghệ An (miền Trung Việt Nam), con trai của một quan chức đã từ chức để phản đối sự thống trị của Pháp đối với đất nước mình. Không thể phủ nhận Hồ Chí Minh là một trong những nhà cách mạng vĩ đại nhất trong các phong trào chống thực dân trong thế kỷ XX. Người ​​là một nhân vật huyền thoại và một chiến sĩ cách mạng tận tụy trong suốt cuộc đời mình. Năm 1911, Người được thuê làm đầu bếp trên một tàu thủy Pháp và sau đó làm việc ở London và Pari. Khi Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất bùng nổ, Hồ Chi Minh đã đến sống ở London, kiếm sống bằng các công việc xúc tuyết và làm phụ bếp cho Escoffier, một đầu bếp bậc thầy tại khách sạn Carlton. Có ý kiến cho rằng, Escoffier đã đưa Hồ Chí Minh vào làm bánh ngọt và muốn dạy anh nghệ thuật ẩm thực. Có thể, chàng thanh niên người Việt 24 tuổi này quan tâm nhiều hơn đến chính trị. Anh gia nhập Hiệp hội Lao động nước ngoài, bao gồm chủ yếu là người châu Á, và cổ vũ cho nền độc lập của Ireland và nhiều điều mới mẻ khác. Hồ Chí Minh đến Pháp vào năm 1911, dời nước này sang Liên Xô năm 1923. Sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Người tham gia các hoạt động của cánh tả và nằm trong nhóm sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Người được triệu tập đến Moscow để huấn luyện và cuối năm 1924, được gửi đến Canton, Trung Quốc, nơi Người tổ chức phong trào cách mạng trong số những người Việt Nam lưu vong. Người buộc phải rời khỏi Trung Quốc khi chính quyền địa phương đàn áp các hoạt động của Cộng sản, nhưng trở lại vào năm 1930 để thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP). Người ở lại Hồng Công với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản. Tháng 6 năm 1931, Hồ Chí Minh bị cảnh sát Anh bắt và bị giam trong nhà tù cho đến khi được trả tự do vào năm 1937. Sau đó, Người quay trở lại Liên Xô, nơi có báo cáo rằng, sức khỏe của Người đã được phục hồi sau vài năm mắc bệnh lao. Năm 1938, Người trở về Trung Quốc và làm cố vấn trong một đơn vị Hồng quân của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Khi Nhật chiếm Việt Nam năm 1941, Người đã nối lại liên lạc với các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương và thành lập một phong trào đấu tranh mới giành độc lập do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thường được gọi là Việt Minh, chiến đấu chống Nhật. Đã có thời điểm, Người bị người Nhật bắt giữ nhưng sau đó trốn thoát được. Người đã bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam nhiều tháng trời. Sau khi được trả tự do vào năm 1943, Hồ Chí Minh về Việt Nam và giai đoạn 1923-1941 là khoảng thời gian Người hoạt động như một thành viên nghiêm túc, mạnh mẽ và hiệu quả của Quốc tế Cộng sản. Tháng 8 năm 1945, khi Nhật Bản đầu hàng, Việt Minh nắm quyền và chính thức tuyên bố Việt Nam độc lập và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (DRV) tại Hà Nội, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước. Trong cuộc đấu tranh kéo dài chống các thế lực đế quốc, Hồ Chí Minh không bao giờ chịu khuất phục và từng nói: Các người có thể giết mười người của chúng tôi mỗi lần chúng tôi giết một người của các người. Nhưng ngay cả ở tỷ lệ đó, các người sẽ thua và chúng tôi sẽ thắng
[2].

Tương tự như Hồ Chí Minh, Mohandas Karam Gandhi, người cha của dân tộc Ấn Độ, là một “Con người của dân chúng” tận tụy và vị tha. Ông đã dành cả cuộc đời mình để nâng cao nhận thức của quần chúng, truyền cảm hứng cho họ để hướng sức mạnh của họ vào việc thiết lập nền hòa bình trong trật tự toàn cầu. Ông là một nhà hoạt động xã hội, nhà hoạt động chính trị và triết gia duy thực, người ta hiểu được những tác phẩm của ông thông qua các hoạt động xã hội, chính trị và kinh tế. Là một triết gia chính trị, ông đã đổi mới và sửa đổi các nguyên tắc bằng cách học hỏi kinh nghiệm, thay vì cố gắng đưa ra một mẫu xã hội lý tưởng. Ông còn là một nhân vật quan trọng của phong trào đấu tranh của dân tộc Ấn Độ chống sự thống trị của thực dân Anh, và được rất nhiều người biết đến như một chiến sĩ đấu tranh chống đế quốc, những phương pháp đấu tranh phi bạo lực, ôn hòa do ông khởi xướng đã giúp lật đổ sự cai trị của thực dân Anh. Những ý tưởng cốt lõi của Gandhi là một hệ quả hợp lý của các nguyên tắc chính trị và đạo đức của ông, dựa trên swaraj (tự trị), sarvodaya (tiến bộ cho tất cả mọi người), chân lý và bất bạo động, bất hợp tác, bất tuân dân sự, satyagraha  (phản kháng chính trị phi bạo lực), charka (luân xa) và khadi (vải dệt thủ công), chương trình xây dựng, con người chống lại máy móc, sự ủy trị, giáo dục, tình anh em, chiến tranh, bom nguyên tử và hòa bình, phát triển tâm linh để đạt tới sự hoàn thiện bản thân (self-realization), v.v. Tương tự như Hồ Chí Minh, Gandhi cũng đã ra nước ngoài trong những năm còn trẻ và từng chứng kiến sự giải phóng những người nhập cư ở nước ngoài và phải đối mặt với áp bức và phân biệt chủng tộc. Gandhi, đã không trụ lại được ở thành phố Bombay với tư cách một luật sư, đã tìm được việc làm ở Natal, Nam Phi và đến đó vào tháng 5 năm 1893, khi ông 24 tuổi. Khi ở Nam Phi, Gandhi đã từng bị đuổi ra khỏi phòng xử án, bị cấm ở khách sạn, và bị một gã đánh xe ngựa đánh vì đã từ chối ngồi trên chỗ dành để cho hành khách châu Âu kê chân khi đi xe. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc mà ông phải đối mặt được coi là nguồn cảm hứng sớm nhất thúc đẩy ông trở thành người ủng hộ việc thay đổi xã hội sau này. Chính tại đây, Gandhi phải đối mặt với sự phân biệt chủng tộc của đế chế Anh một cách trắng trợn nhất, và cũng chính tại đây ông đã lần đầu tiên phát triển tư tưởng phản kháng phi bạo lực của mình và thực hành phương pháp “phản kháng thụ động”, khi một loạt các đạo luật hạn chế quyền tự do được thông qua tấn công trực tiếp vào các quyền của người dân Ấn Độ. Gandhi dời Nam Phi mãi mãi và trở về Ấn Độ vào tháng 7 năm 1914. Ban đầu, ông sống tại nhà thờ Chaiivan của người được giải thưởng Nobel, đại thi hào Rabindranath Tagore. Đến năm 1917, ông đã xây dựng nhà thờ Satyagraha trên bờ sông Sabarmati và năm 1918, ông đấu tranh cho quyền lợi của các công nhân nhà máy dệt ở thành phố Ahmadabad. Sau đó, ông dần dần trở thành một nhà lãnh đạo quần chúng trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Ấn Độ. Trong suốt cuộc đời mình, dù là một chiến binh hăng hái chống sự cai trị của thực dân Anh, ông vẫn là một người tin tưởng vào sức mạnh của phương pháp đấu tranh phi bạo lực. Gandhi tin rằng, chủ nghĩa đế quốc Anh là sai về đạo lý và người Ấn Độ cần phải từ chối hợp tác với đế quốc Anh. Tuy nhiên, ông cũng tin rằng, phương pháp sử dụng bạo lực là sai lầm và thuyết phục những người theo ông tham gia các cuộc biểu tình phi bạo lực. Ông khuyến khích sử dụng đường lối bất bạo động và bất hợp tác như biện pháp chống lại sự cai trị của thực dân Anh và cho rằng, sử dụng sự phản kháng bất bạo động (bất tuân dân sự) để đạt được sự thay đổi nguyên tắc Satyagraha (phản kháng chính trị phi bạo lực), đó là sức mạnh bí mật của phi bạo lực. Gandhi khuyến khích người Ấn Độ tẩy chay hoặc từ chối mua hàng hóa hoặc vải bông do Anh sản xuất và cổ vũ người Ấn Độ tự dệt vải để may quần áo mặc. Ông muốn người Ấn Độ ủng hộ nền kinh tế Ấn Độ chứ không phải nền kinh tế của nước Anh. Bằng cách từ chối tuân theo luật pháp bất công của bọn đế quốc và từ chối mua các sản phẩm của Anh, ông tin rằng, người Ấn Độ có thể làm thay đổi các chính sách của thế lực đế quốc. Gandhi đã từng nói, “hành động bất hợp tác chân chính là không hợp tác với cái ác và không phải là hành động xấu”. Là nhà lãnh đạo quần chúng, tất cả hoạt động của ông được thực hiện thông qua sự phản kháng ôn hòa và thậm chí ông đã từ chối tự vệ khi bị kẻ áp bức tấn công. Khi nhiều nhóm người Ấn Độ nổi dậy chống lại Chính phủ Anh bằng bạo động, Gandhi đã chỉ trích họ kịch liệt và đưa ra khái niệm bất bạo động, mà ông tin rằng, là thứ vũ khí mạnh mẽ nhất mà mọi người có thể sử dụng để chống sự chuyên chế và áp bức. Gandhi là một tín đồ tin tưởng mạnh mẽ vào hiệu quả của biện pháp bất tuân dân sự và kêu gọi người Ấn Độ không tuân theo luật pháp bất công của Anh. Việc từ chối sản xuất muối theo lệnh của thực dân Anh và thực hiện một hành trình nổi tiếng ra biển để làm muối nhằm phản kháng thuế muối của chính quyền thực dân Anh là những ví dụ về sự bất tuân dân sự. Gandhi cũng đấu tranh cho sự bình đẳng của phụ nữ, chấm dứt nghèo đói và xóa bỏ hệ thống đẳng cấp phân biệt đối xử ở Ấn Độ. Sau khi Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947, Gandhi tiếp tục thực hiện triết lý sống của mình, đấu tranh bất bạo động vì hòa bình, khi nỗ lực đoàn kết cộng đồng người theo đạo Hindu và cộng đồng người Hồi giáo của đất nước trong khi tìm mọi cách tránh để xảy ra nội chiến dưới mọi hình thức. Thật không may, Gandhi đã bị ám sát vào năm 1948, nhưng bất chấp mọi sự chống đối mà ông phải đối mặt trong suốt cuộc đời, ông không bao giờ thỏa hiệp về các phương tiện nòng cốt của mình trong cuộc đấu tranh vì hòa bình. Ông từng nói: “Có rất nhiều nguyên nhân khiến tôi chuẩn bị bị giết chết, nhưng không có nguyên nhân nào khiến tôi chuẩn bị giết người”
[3].

Các cội nguồn triết học của Hồ Chí Minh và Gandhi
Mặc dù có nền tảng xã hội và môi trường khác nhau và có sự khác biệt lớn về sử dụng phương tiện cơ bản, cả Hồ Chí Minh và Gandhi cuối cùng đều đã thành công trong việc giành lại độc lập cho đất nước của mình. Cả hai nhà lãnh đạo đã sử dụng hai chiến lược khác nhau để giải phóng người dân của họ khỏi nanh vuốt nguy hiểm của chủ nghĩa thực dân bằng cách sử dụng những biện pháp khác nhau, hoặc là ủng hộ chiến đấu hoặc là bênh vực biện pháp phản kháng bất bạo lực để cuối cùng giành được độc lập cho đất nước. Mặc dù, nguồn gốc của nền tảng tư tưởng của hai nhà lãnh đạo bắt nguồn từ các ý thức hệ chính trị khác nhau, cả hai đều chịu ảnh hưởng nhiều của các tác phẩm của văn hào Lev Tolstoy. Cả hai đều bị ảnh hưởng sâu sắc về viễn cảnh triết học và tôn giáo của Tolstoy sau khi họ đọc các cuốn sách “Chiến tranh và Hòa bình” và “Hệ tư tưởng phổ biến”, trong đó áp dụng rõ ràng nguyên tắc phản ánh cuộc sống theo cách hiện thực. Mặc dù có nền tảng chung về ảnh hưởng này, Hồ Chí Minh là người kiên định tin tưởng vào chủ nghĩa Lênin và chủ nghĩa bônsêvích, hoàn toàn trung thành với Lênin và Quốc tế Cộng sản (trước và sau khi chính thức sụp đổ vào năm 1943). Sự ủng hộ không gì lay chuyển nổi của Người đối với chủ nghĩa Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản cũng như cuộc đấu tranh suốt đời cuộc đời Người vì chiến thắng của cách mạng thế giới bao gồm cả Việt Nam đã luôn luôn được nhấn mạnh bởi các học trò và bản thân Người trong các tuyên bố khác nhau của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Chí Minh đã viết một số bài báo về lý do Người đến với chủ nghĩa Lênin và Quốc tế Cộng sản thứ ba. Đặc biệt, lời tựa Người viết cho tuyển tập “Những bài viết được lựa chọn” phiên bản tiếng Nga năm 1959, bài viết “Con đường đưa tôi đến với Lênin” trên báo Nhân Dân tháng 4 năm 1960, và bài viết dài của Người cho báo Pravda (Sự Thật) năm 1967, được in lại trên báo Nhân Dân, nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, rất đáng được nhắc đến. Người cũng đã có một cuộc trả lời phỏng vấn dài dành cho nhà báo, đảng viên Cộng sản Pháp Charles Fourniau làm việc cho báo L’Humanite (Nhân Đạo) vào năm 1969. Trong cuộc phỏng vấn này Người đã khẳng định lại lòng trung thành đối với triết lý chính trị của Lênin
[4]. Một đóng góp lớn của Hồ Chí Minh là đã cổ vũ và tăng cường cội nguồn văn hóa Việt Nam và liên kết nó với các nền văn hóa khác trên thế giới. Là người theo chủ nghĩa Mác, thấm nhuần bản chất nhân đạo, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người khẳng định chắc chắn rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin mang tính sáng tạo là nguồn ánh sáng soi rọi cho con đường cách mạng, nhưng đồng thời Người vẫn tiếp thu và sử dụng các yếu tố tích cực của Nho giáo, các thành phần cách mạng và nhân văn của hệ tư tưởng tư sản và coi trọng những đức tính từ bi hỉ xả của Phật giáo, Kitô giáo và các tôn giáo khác. Những bài thơ, bài tiểu luận và diễn văn của Hồ Chí Minh đã phản ánh sự hiểu biết sâu sắc của Người về lịch sử và nền văn minh nhân loại và niềm tin của Người vào bản sắc văn hóa của mỗi một dân tộc và quốc gia, bao gồm cả dân tộc và đất nước của Người và phần còn lại của thế giới. Người được coi là một nhà yêu nước, một nhà thơ, một chiến binh, một nhà cách mạng, một nhà quốc tế cộng sản và một người thầy và đó là lý do tại sao Người được yêu mến, ngưỡng mộ và tôn trọng trên thế giới.

Tương tự như vậy, triết lý sống của Gandhi đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các tôn giáo lớn và những trải nghiệm cá nhân. Những ý tưởng được Gandhi áp dụng và phát triển, trong suốt cuộc đời ông (1893-1948) là sự kết hợp những yếu tố thống nhất của các khái niệm khác nhau, thông qua các phương tiện mới lạ như không bạo lực, Satyagraha (phản kháng chính trị phi bạo lực), ăn chay, bãi thị, bất hợp tác và bất tuân dân sự một cách khắt khe và cứng nhắc, nhưng lại là một tập hợp những đức tin và nguyên tắc được áp dụng một cách khác nhau tùy thuộc môi trường lịch sử và xã hội. Sự phát triển của Gandhi về mặt tư tưởng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường sống của ông - trong đó có mẹ của ông, bà Putlibai - người hầu gái Rambha, các vở kịch “Shravana Pitribhakti” và “Harishframra”, các bộ sử thi Ramayana, Mahabharata, các bộ kinh của đạo Hinđu và Đạo Hồi như Bhagavad Gita, Manusmriti và Koran, những ảnh hưởng của Chúa Jesus và Đức Phật, Ngoài ra, ông cũng đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các tác phẩm của các văn hào như Ruskin
[5], Tolstoy và Thoreau[6]. Từ Ruskin, Gandhi đã rút ra bài học rằng, trong một trật tự xã hội bất công tách rời hiện thực lao động không thể không xảy ra bạo lực. Chính các nguyên tắc của Ruskin đã truyền cảm hứng cho Gandhi xây dựng lên nền tảng cho khái niệm của ông về “lao động kiếm sống chân chính” và yêu cầu tổ chức cộng đồng phải chịu trách nhiệm về phúc lợi cho người lao động. Tương tự như vậy, đức tin của văn hào Tolstoy vào tình thương và Bài Thuyết giáo trên Núi của Chúa Jesu, Kinh Cựu ướcKinh Tân ước và quan niệm của văn hào Thoreau về sự tuân phục dân sự đã ảnh hưởng đối với Gandhi trong việc phát triển khái niệm và phương pháp Satyagraha (phản kháng chính trị phi bạo lực) của ông. Gandhi cho rằng sự bất tuân dân sự xuất phát từ sự tôn trọng sâu sắc đối với luật pháp nói chung và, do đó, phải là một hành động công khai và bất bạo động. Khi là luật sư ở Nam Phi, Mahatma Gandhi nghiên cứu học thuyết của Lev Tolstoy. Tolstoy cổ vũ cho việc phổ biến phong trào phản kháng phi bạo lực ở khắp nơi trên thế giới và ủng hộ các phong trào chống đế quốc ở châu Á. Hai nhà lãnh đạo này đã liên lạc với nhau sau khi Gandhi đọc tác phẩm “Thư gửi một người theo đạo Hindu” của Tolstoy viết cho Tarak Nath Das và được xuất bản trên tạp chí “Hindustan Tự do”. Văn hào Nga đã dẫn một số kinh văn tôn giáo ở Ấn Độ cũng như phương Đông và phương Tây để bày tỏ tán thành các nguyên tắc của tình thương và cảm nhận rằng, sự phản kháng bất bạo động sẽ dẫn đến việc giải phóng đất nước Ấn Độ. Tolstoy đã viết về Gandhi trong nhật ký của mình: “Ông ấy là một người rất gần gũi với tôi, với chúng ta. Ông ấy nghĩ rằng, hành động kháng cự mạnh nhất là phản kháng thụ động”. Điều này đã tạo nguồn cảm hứng cho Gandhi, người sau đó đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ, tạo ra sự sụp đổ cuối cùng của đế quốc Anh. Trải qua nhiều năm, Mahatma Gandhi và Leo Tolstoy, hai nhà hiền triết của Ấn Độ và Nga, đã gắn bó chặt chẽ trong cuộc đối thoại của các nền văn hóa sẽ phá hủy các đế chế thực dân và, do đó, sự tương tác của họ là một sự kiện cảm động trong lịch sử đấu tranh của Ấn Độ chống chủ nghĩa thực dân[7]

Tương tự vậy, triết lý kinh tế và xã hội của Gandhi chịu ảnh hưởng đáng kể của Karl Marx, Smith và Snell. Gandhi cho rằng, cần phải đạt được sự chuyển đổi xã hội triệt để bằng cách thuyết phục và các biện pháp phi bạo lực, bao gồm làm cho quần chúng thức tỉnh, nhận thức xã hội lan tỏa rộng rãi và sử dụng sức mạnh của người dân để tạo ra sự chuyển đổi cơ bản trong xã hội. Để thực hiện sự thức tỉnh và nhận thức này dựa trên một tầm nhìn xã hội thực sự, dựa trên công lý, bình đẳng và tự do, Gandhi đã đưa ra một số phương pháp, như khái niệm về Nhà nước Lý tưởng, Thành phố và Nông thôn, Chương trình xây dựng, Công nghiệp hóa, Chủ nghĩa xã hội và Nhà nước, Xã hội và Cá nhân, v.v.
[8]. Trong toàn bộ triết lý của mình, Mahatma Gandhi đã đề ra một số nguyên tắc cơ bản được biết đến như những lời thề: không bạo lực, chân lý, lao động kiếm sống chân chính, không sợ hãi, bình đẳng giữa tất cả các tôn giáo, loại bỏ sự phân biệt đẳng cấp, v.v. định hình thái độ cuối cùng của người dân đi theo con đường tiến bộ và cũng khuyến khích cách hành xử văn minh của người dân ở cấp độ cộng đồng. Gandhi ủng hộ các công trình mang tính xây dựng đóng vai trò như một hình thức tham gia phát triển và gắn nó với mục đích sử dụng trong môi trường kinh tế xã hội Ấn Độ. Chương trình này được coi là chìa khóa để đạt được poorna swaraj (tuyên bố độc lập). Đóng góp chính của Gandhi trong triết lý chính trị của mình là qua các bài phát biểu, những hành động phản kháng không ngừng của ông đã tập hợp được số lượng lớn quần chúng, khuyến khích công dân Ấn Độ bất tuân thủ luật pháp của Chính phủ Anh, đưa ra những yêu cầu thay đổi cụ thể, mọi người phải được đối xử bình đẳng trong phong trào phản kháng phi bạo lực không phân biệt đẳng cấp và giai cấp. Gandhi nói rằng, bài học tốt nhất mà chúng ta có thể học được từ triết lý của ông là, đối với “cá nhân và cộng đồng, những chính sách áp đặt tiêu chuẩn cho chân lý chỉ có thể dẫn đến những hậu quả tai hại”[9].

Sự trùng hợp về các phương tiện và mục tiêu
Cả Gandhi và Hồ Chí Minh đã sử dụng hai chiến thuật khác nhau để chống các thế lực thực dân nhằm giành độc lập cho đất nước. Gandhi sử dụng phi bạo lực như một phương tiện, trong khi Hồ Chí Minh sử dụng những biện pháp cưỡng chế như giải pháp cuối cùng để chống các thế lực quân sự hùng mạnh nhất, nhằm thay đổi một trật tự bất công. Trong thuyết trình về lịch sử quân sự đã có một cuộc tranh luận lớn để đánh giá trong số hai biện pháp phi bạo lực hoặc sử dụng bạo lực thì biện pháp nào là tốt hơn để đối phó với kẻ thù. Có lẽ, mối quan tâm chủ yếu liên quan chiến lược tương phản của họ là vì danh sách tương đồng đáng kinh ngạc giữa hai nhà lãnh đạo. Có một thực tế là cả hai chính trị gia này đều có nguồn gốc từ khu vực châu Á, cả hai đều đấu tranh vì những người bị áp bức, cả hai đều là những người yêu nước, chống các thế lực đế quốc, và cả hai đều làm cho thế giới phải ngạc nhiên vì thắng lợi của họ trước các cường quốc áp bức. Mặc dù có những điểm tương đồng này, cả hai nhà lãnh đạo có thể rất khác nhau về mặt chiến lược. Hồ Chí Minh là một chiến lược gia quân sự và Gandhi là một người đấu tranh phi bạo lực và dù bằng cách này hay cách khác, cả hai đều thành công trong việc giành độc lập cho đất nước của họ
[10].

Chủ nghĩa xã hội: Hai cách hiểu khác nhau và sự giống nhau ở mục tiêu
Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản chính là một mục tiêu. Trên thực tế, ông đã tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, học tại Mátxcơva trước khi tới Trung Quốc và từ đó trở về Việt Nam. Nhiều học giả hiện đại coi Hồ Chí Minh hoàn toàn là một nhà lãnh đạo cộng sản, trong khi ở bên ngoài Việt Nam, vẫn có một số học giả khác tin rằng, về cơ bản, trước hết, Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa dân tộc và sau đó mới là người cộng sản. Về cơ bản, Người là một nhà lãnh đạo độc nhất vô nhị, người chỉ phục vụ duy nhất lợi ích của đất nước Việt Nam, của người dân Việt Nam và luôn đặt nền độc lập của quốc gia đối lập với ách thống trị của các cường quốc thực dân và đế quốc. Người được ghi nhận là chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ chủ nghĩa Lênin và Nho giáo và hiểu rõ rằng, chủ nghĩa cộng sản là một hệ tư tưởng phù hợp. Nhưng, Người cũng tìm cách gắn kết hệ tư tưởng này với đất nước bằng cách làm cho nó phù hợp với chủ nghĩa dân tộc và di sản Nho giáo. Đó là lý do tại sao, trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng, Người nhấn mạnh sự cần thiết phải đoàn kết tất cả người dân Việt Nam dưới ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc, nhằm kêu gọi tinh thần khao khát độc lập của nhân dân. Người cũng duy trì các đức tính tốt đẹp theo Nho giáo truyền thống cho các quan chức cộng sản, để phát huy những đức tính đó trong Chính phủ mới. Mong muốn về sự kết hợp như vậy được phản ánh rõ ràng trong các bài viết và phát biểu của Người. Xét về mặt tư duy tư tưởng chính trị, có thể coi Hồ Chí Minh là “một người cộng sản mặc bộ trang phục dân tộc màu đỏ”. Người đã xác định con đường của riêng mình nhằm giành độc lập cho người dân Việt Nam và chịu ảnh hưởng rất lớn từ “Luận điểm của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”. Trong khi nhắc lại quan điểm của mình, Hồ Chí Minh, trong một bài báo, được đăng trên tạp chí Liên Xô Vấn đề của phương Đông  nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày Sinh nhật Lênin, vào tháng 4 năm 1960, đã viết: “Lúc đầu, lòng yêu nước, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản, đã khiến tôi tin vào Lênin, tin vào Quốc tế thứ ba. Từng bước, cùng với cuộc đấu tranh, bằng cách nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin song song với việc tham gia các hoạt động thực tiễn, tôi dần dần nhận ra rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải phóng các quốc gia bị áp bức và nhân dân lao động trên toàn thế giới khỏi chế độ nô lệ”
[11]. Trong cùng một bài viết, Hồ Chí Minh cũng khẳng định thêm: “Khi phải đối mặt với những khó khăn lớn, người ta tìm thấy ở chủ nghĩa Lênin phương cách thoát khỏi những khó khăn đó. Chủ nghĩa Lênin không chi là “Cuốn sách màu nhiệm”, kim chỉ nam cho những nhà cách mạng và nhân dân Việt Nam: Chủ nghĩa đó còn là Mặt Trời rực rỡ soi sáng con đường cho chúng ta tới thắng lợi cuối cùng, tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”[12]. Hồ Chí Minh kết luận: Hiện tại, có rất nhiều học thuyết và lý thuyết, nhưng học thuyết đáng tin cậy và vững chắc nhất là chủ nghĩa Lênin[13]. Thật thú vị, khi đưa ra những khác biệt trong quan điểm giữa Lênin và Hồ Chí Minh liên quan suy nghĩ của họ về sự phát hiện cuối cùng về chủ nghĩa xã hội, Lê Duẩn - một nhà lãnh đạo của Việt Nam đã viết: Xuất phát từ cách mạng vô sản, hai nhà lãnh đạo Nga (Lênin và Stalin) đã đi tới kết luận rằng, chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với độc lập dân tộc. Xuất phát từ cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã đi tới kết luận rằng, sự nghiệp giải phóng dân tộc phải gắn liền với sự nghiệp chủ nghĩa xã hội”[14].

Tương tự, Gandhi đã không viết bất kỳ cuốn sách nào thiên về mặt lý thuyết về chủ nghĩa xã hội. Ông tin vào thắng lợi cuối cùng và bày tỏ quan điểm của ông về chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình và hoàn cảnh của Ấn Độ. Ông đã phát triển một phiên bản chủ nghĩa xã hội theo kiểu Ấn Độ, dựa trên nền triết học của Ấn Độ. Ông đã đưa ra định nghĩa của riêng mình về thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội”. Theo ông, chủ nghĩa xã hội không liên quan tới việc quốc hữu hóa các phương tiện sản xuất, phân phối, trao đổi, mà là niềm tin vào Thiên Chúa, chân lý, phi bạo lực và bình đẳng, dựa trên sự phát triển sâu sắc về bản chất nội tại. Do đó, nói một cách giản dị, chủ nghĩa xã hội kiểu Gandhi dựa trên các ý tưởng không chiếm hữu và ủy thác. Tư duy của Gandhi về chủ nghĩa xã hội được thể hiện rải rác trong nhiều bài viết và phát biểu của ông. Chủ nghĩa xã hội theo kiểu Gandhi được xây dựng dựa trên triết lý Ấn Độ giáo và độc lập với tư tưởng phương Tây thông thường. Được khuyến khích bởi những tư tưởng tôn giáo, triết học và đạo đức phổ quát nói chung, và thế giới quan Ấn Độ/Vedantic nói riêng, Gandhi nói: “chủ nghĩa xã hội của tôi xuất phát từ niềm tin không thể lay chuyển của tôi về bất bạo động. Không người nào có thể chủ động đấu tranh bất bạo động và đứng lên chống sự bất công xã hội, bất kể nó xảy ra ở đâu”
[15]. Gandhi phản đối chủ nghĩa tư bản về mặt đạo đức trên cơ sở đạo đức và hiểu rằng, việc thay đổi hệ thống kinh tế hiện tại là một bước tất yếu để cải thiện điều kiện sống cho người nghèo. Ông muốn chấm dứt sự cai trị của tư bản và phản đối ý định của thực dân Anh áp đặt nghèo đói cho nhân dân Ấn Độ và lên án gay gắt việc các nhà tư bản Ấn Độ bóc lột người nghèo. Ông nêu rõ: “Chủ nghĩa xã hội tinh khiết như pha lê. Do đó, người ta đòi hỏi nó phải thực sự là pha lê, tương tự như việc dùng các nguyên liệu không tinh khiết để tạo ra nó sẽ không có được sản phẩm cuối cùng tinh khiết. Bởi thế, sẽ không thể đánh đồng hoàng tử và nông dân bằng cách chặt đầu hoàng tử... chỉ những người theo chủ nghĩa xã hội trung thực, phi bạo lực và có tâm hồn thuần khiết mới có thể xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa ở Ấn Độ và thế giới”[16]. Gandhi tin rằng, các nhà tư bản và người lao động phụ thuộc lẫn nhau. Để tạo ra sự giàu có, sự hợp tác giữa hai nhóm này là điều cần thiết. Ông cho rằng, sản xuất của cải là một nỗ lực chung của cộng đồng và xã hội. Nó phải được chia sẻ đồng đều giữa các thành viên và không ai đáng bị tước đi những nhu cầu cơ bản của cuộc sống và khẳng định những nhu cầu cơ bản của đời sống phải được trao cho tất cả mọi người[17]. Đối với ông, chân lý và bất bạo động là vũ khí đạo đức mang lại thành công cho quần chúng và sự ác cảm của ông đối với bạo lực và sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, dần dần biến ông thành một nhà chính trị chống cộng sản. Có một sự thật là, mặc dù đánh giá cao tinh thần hy sinh của những người bạn cộng sản của mình, Gandhi đã không đồng ý với phương pháp của họ và tuyên bố, “Họ đã thực sự tin vào bạo lực và đó là tất cả những gì có trong lòng của họ”. Là một nhà tiên tri về bất bạo động, ông tin rằng, chỉ có thể đạt được công lý về kinh tế thông qua biện pháp bất bạo động và cho biết ông không muốn không tiêu diệt các nhà tư bản, mà là tiêu diệt chủ nghĩa tư bản. Khi thấy những người theo chủ nghĩa xã hội ở phương Tây cho rằng, sự không thể tránh khỏi bạo lực khi thi hành học thuyết về xã hội xã hội chủ nghĩa, ông nói: “chủ nghĩa xã hội của tôi là tự nhiên đối với tôi và không xuất phát từ bất kỳ cuốn sách nào. Nó xuất phát từ niềm tin không thể lay chuyển của tôi về bất bạo động,... thật không may, các nhà theo chủ nghĩa xã hội ở phương Tây, cho đến nay, tôi biết, đã tin vào sự cần thiết của bạo lực để thực thi các học thuyết về xã hội xã hội chủ nghĩa”[18]. Trên thực tế, Gandhi công khai thừa nhận rằng, ông không biết nhiều về chủ nghĩa xã hội khoa học, nhưng cũng nhận thấy rằng, chủ nghĩa này ở dạng nguyên bản không phù hợp với đất nước Ấn Độ. Ông muốn giải mã một vấn đề tương tự khác mà các nhà khoa học xã hội đang nóng lòng muốn làm sáng tỏ, nhưng thái độ của ông vẫn luôn kiên định ủng hộ bất bạo động. Nếu chủ nghĩa cộng sản nắm chính quyền mà không có bất kỳ hành động bạo lực nào thì ông sẽ chấp nhận được. Ông cảm thấy chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản phương Tây dựa trên ý tưởng cho rằng, nói chung, bản chất của con người là hoàn toàn ích kỷ và nói: “chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản của chúng ta nên dựa trên phi bạo lực và hợp tác hài hòa giữa lao động và tư bản, địa chủ và người làm thuê”[19].

Tóm lại, có thể nói rằng, khái niệm của Gandhi về chủ nghĩa xã hội đã tạo ra tác động to lớn đối với chủ nghĩa nhân văn. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào các giá trị đạo đức và luân thường đạo lý, trong đó chân lý và phi bạo lực là những phương tiện được chấp nhận để đạt tới xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội tốt nhất. Ông không ủng hộ việc quốc hữu hóa, đánh thuế hay lấy của cải của bất kỳ cá nhân nào chia cho người khác chống lại ý chí của cá nhân đó và tin vào việc duy trì chủ nghĩa cá nhân trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nơi “luật của tình yêu thương” có tác động mạnh hơn bất kỳ đạo luật nào khác và luật này chỉ có thể giúp thiết lập một xã hội hòa bình và tốt nhất
[20]. Quan điểm này rõ ràng cho thấy, Gandhi luôn tin vào sự phân phối tài sản bình đẳng cho những tầng lớp quần chúng yếu đuối và bị áp bức và ở nơi không có chỗ cho phân biệt đối xử và quan niệm này có thể được coi là rất giống với quan điểm của Hồ Chí Minh, cho thấy sự tương đồng trong cách ứng xử của hai nhà lãnh đạo này về chủ nghĩa xã hội.

Lòng yêu nước và sự khoan dung tôn giáo: Điểm liên kết
Một điểm hội tụ khác giữa Gandhi và Hồ Chí Minh là khái niệm về lòng yêu nước. Phát biểu với quần chúng, Hồ Chí Minh luôn đề cập tới ý tưởng của Người về lòng yêu nước vốn dựa trên lịch sử đất nước và nhấn mạnh lý tưởng cao cả về giải phóng dân tộc, đưa mọi người thoát khỏi mắc sai lầm, hướng tới tự do, hạnh phúc và hòa bình. Hồ Chí Minh không chỉ là kiến ​​trúc sư mà còn là một tấm gương hoàn hảo về thực hành lòng yêu nước. Điều đó đã khuyến khích mạnh mẽ mọi người thi đua trong mọi khía cạnh của đời sống xã hội, tạo ra sức mạnh to lớn cho toàn Đảng, nhân dân và quân đội vượt qua những khó khăn, gian khổ và lãnh đạo Việt Nam đấu tranh chống lại các thế lực thực dân để giành chiến thắng cuối cùng. Tấm gương ngời sáng và sự cống hiến xuất sắc của Hồ Chí Minh cho phong trào thi đua yêu nước được hội tụ sâu sắc và thể hiện rõ rệt trên ba khía cạnh: (1) lý luận về thi đua yêu nước; (2) tổ chức không mệt mỏi công tác giáo dục và tuyên truyền để phát triển thi đua yêu nước thành các phong trào và lực lượng rộng khắp trong xã hội được toàn dân ủng hộ và tham gia để tăng cường sự nghiệp độc lập của Việt Nam. Trên thực tế, sự phát triển và thành công của phong trào thi đua yêu nước do Hồ Chí Minh phát động đã cho thấy tư tưởng chiến lược và tầm nhìn xa trông rộng của Người về thi đua yêu nước. (3) Bản thân Hồ Chí Minh đã thực hành thi đua yêu nước vì dân tộc và nhân dân và là tấm gương về đạo đức, sự trung thực, liêm chính, đạo đức cách mạng, văn hóa và lối sống trong suốt cuộc đời mình, dựa trên tư tưởng về lối sống giản dị và tư tưởng cao đẹp
[21].

Tương tự, Gandhi luôn thúc đẩy các tầng lớp quần chúng phục hồi quốc gia thông qua việc loại trừ hàng hóa của Anh và luôn kêu gọi người dân tự dệt lấy vải để may quần áo, điều này gây khó khăn cho thực dân Anh. Trên thực tế, Gandhi là một tấm gương sáng chói về lối sống giản dị và ông đã nêu gương trong việc sử dụng hàng hóa trong nước thay vì sử dụng hàng hóa nước ngoài để kêu gọi lòng tự tôn dân tộc. Đề cập về lòng yêu nước, ông nói: “Đối với tôi lòng yêu nước cũng giống như tính nhân văn. Tôi yêu nước vì tôi là con người và có tính nhân đạo. Đó không phải là không chấp nhận tình yêu đất nước của những dân tộc khác. Tôi sẽ không làm tổn thương nước Anh hay Đức để phục vụ Ấn Độ. Chủ nghĩa đế quốc không có chỗ trong cách sống của tôi. Luật về một người yêu nước không khác với luật về tộc trưởng. Và một người yêu nước sẽ không hẳn là một người yêu nước thực sự nếu người đó không có tính nhân đạo. Không có mâu thuẫn giữa luật cá nhân và luật chính trị”
[22]. Ông nhấn mạnh thêm: “Lòng yêu nước của tôi không phải là một thứ độc quyền. Nó bao trùm tất cả và tôi bác bỏ loại tình cảm yêu nước đòi hỏi để được đặt lên trên nỗi khốn cùng hoặc bóc lột các dân tộc khác. Quan niệm về lòng yêu nước của tôi không là gì nếu trong mọi trường hợp không phù hợp với lợi ích to lớn nhất của nhân loại... tôn giáo và lòng yêu nước của tôi bắt nguồn từ tôn giáo của tôi bao trùm tất cả cuộc sống”[23].

Bên cạnh đó, khi đề cập con đường khoan dung tôn giáo, cả Gandhi và Hồ Chí Minh đều gặp nhau một điểm chung. Tư tưởng nhân đạo của Hồ Chí Minh được giới hạn trong ý tưởng đấu tranh cách mạng của Người để đạt được những giá trị tốt đẹp từ các tôn giáo khác nhau trên thế giới và Người luôn lấy “lòng khoan dung, sự nhân hậu” làm nền tảng chính của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Tương tự như vậy, Gandhi luôn trung thành với khái niệm về triết lý phi bạo lực và khả năng tự hy sinh vô hạn, dựa trên Satyagraha. Sức mạnh của chân lý không phải để chiến thắng một đối tượng, cũng không phải nhằm đè bẹp đối thủ, mà là để kích hoạt sức mạnh có thể dẫn đến sự thay đổi có tính toán về tinh thần. Người từng nói: “Tôi không có vũ khí nào khác ngoài phi bạo lực” và tin rằng, chủ nghĩa đế quốc Anh là sai trái và người Ấn Độ cần từ chối hợp tác với đế quốc Anh. Tuy nhiên, ông cũng tin rằng, bạo lực là không đúng và thuyết phục những người theo ông tham gia các cuộc biểu tình phi bạo lực.

Hồ Chí Minh đánh giá về Mahatma Gandhi
Có một thực tế trong lịch sử là cả Gandhi và Hồ Chí Minh đều biết rất rõ về nhau cũng như về phương cách đấu tranh của họ chống các thế lực thực dân. Trên thực tế, Hồ Chí Minh tương tác nhiều với Jawaharlal Nehru hơn với Gandhi. Năm 1943, Hồ Chí Minh bị bắt giam trong nhà tù ở Trung Quốc, còn Jawaharlal Nehru bị giam trong nhà tù của thực dân Anh. Cả hai nhà lãnh đạo này khi đó đang đấu tranh cho nền độc lập của đất nước mình. Từ nhà tù Hồ Chí Minh đã viết một bài thơ gửi Jawaharlal Nehru vào năm 1943, đã được xuất bản trong "Nhật ký trong tù” hiện vẫn được nhớ đến và được đánh giá cao ở cả Ấn Độ và Việt Nam. Trong bài thơ này, Hồ Chí Minh viết:
    I
(*)
Khi tôi phấn đấu, anh hoạt động,
Anh phải vào lao, tôi ở tù;
Muôn dặm xa vời chưa gặp mặt,
Không lời mà vẫn cảm thông nhau.
     II
Đôi ta cảnh ngộ vốn không khác,
Cảnh ngộ giờ đây khác bội phần;
Tôi, chốn lao tù người bạn hữu,
Anh, trong gông xích bọn cừu nhân
[24].

Hồ Chí Minh đã ba lần đến thăm thành phố Calcutta (Kolkata). Chuyến thăm đầu tiên diễn ra vào năm 1911, khi Hồ Chí Minh rời Sài Gòn và con tàu của Người đã cập cảng Calcutta khi đang trên đường đến nhiều quốc gia khác nhau. Người đã thăm Calcutta lần thứ hai vào năm 1946, khi trên đường đến Paris. Chuyến thăm cuối cùng của Người tới Calcutta diễn ra vào tháng 2 năm 1958. Năm 1958, tại Delhi, khi được phóng viên của báo Times of India hỏi về nhận xét của Người về Gandhi, Người đã ngay lập tức trả lời: “Ông ấy là bậc thầy của chúng tôi - người tiên phong trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc ở châu Á”
[25]. Trong một trường hợp khác vào năm 1948, sau khi Mahatma Gandhi bị ám sát, Hồ Chí Minh, với tư cách một người nhiệt thành ngưỡng mộ Gandhi, đã cho rằng, cái chết của vị lãnh tụ tinh thần của Ấn Độ không chỉ là một thảm họa quốc gia, mà còn là một thảm kịch quốc tế, và trong thông điệp tưởng nhớ Gandhi Người nói: “Tôi và những người khác có thể là những người cách mạng, nhưng chúng tôi là học trò của Mahatma Gandhi, trực tiếp hoặc gián tiếp không hơn không kém”[26]. Nhân dịp kỷ niệm 128 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 21 tháng 5 năm 2018 tại New Delhi, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ, MJ Akbar khi nhắc lại việc các thế lực thực dân ở thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã cố gắng đàn áp người dân ở các khu vực Nam và Đông Nam Á như thế nào, đã nói: “Khi Gandhi và Hồ Chí Minh lên đường và mường tượng về việc giải phóng và lộ trình giải phóng đất nước, họ biết rằng, họ đã thách thức bọn đế quốc”. Cùng trong sự kiện tương tự, do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam tại Bảo tàng và Thư viện tưởng nhớ Nehru tổ chức, Đại sứ Việt Nam tham dự sự kiện này cho biết: Trong một cuộc trả lời phỏng vấn vào năm 1955, Hồ Chí Minh Minh nói rằng, ông kính trọng Mahatma Gandhi, nhà lãnh đạo tinh thần vĩ đại của người dân Ấn Độ, người thầy của ông trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc ở châu Á”[27].

Sự tương đồng trong tư duy về các phương tiện và mục tiêu
Cả Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh đều là những nhân vật trung tâm trong phong trào giải phóng châu Á khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Cả hai nhà lãnh đạo đã theo hai cách khác nhau để đấu tranh chống các thế lực thực dân nhằm đạt được mục đích cuối cùng là giành độc lập cho đất nước mình. Không thể phủ nhận rằng, cả hai đều là những chiến sĩ đấu tranh quyết liệt cho nền độc lập của đất nước họ và đoàn kết các tầng lớp quần chúng, bao gồm trí thức, nông dân, công nhân, thương nhân,... trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu chung, coi đó như một phương tiện để thực hiện mong muốn tối cao của họ nhằm đạt được mục đích cuối cùng của mình. Hồ Chí Minh được công nhận là một nhà hoạt động và một chiến lược gia, trong khi Gandhi được coi là một người kiến tạo hòa bình và một người phản kháng bất bạo động. Hồ Chí Minh đã chiến đấu trong nhiều cuộc xung đột và chiến tranh với một số cường quốc giải phóng dân tộc, và dưới sự lãnh đạo của Người, Việt Nam không chỉ hầu như đã giành chiến thắng trong tất cả các cuộc chiến tranh chính nghĩa đó, mà còn thống nhất được đất nước. Mục đích của Người trong cuộc đời mình đó là thống nhất nước Việt Nam một lần và mãi mãi dưới một chính quyền cộng sản. Mặt khác, Mohandas Gandhi đã tổ chức nhiều cuộc tuần hành và biểu tình, điều đã đoàn kết người dân và giúp họ chiến đấu chống nhà cai trị Anh và khuyến khích những người theo ông dứt khoát không chống trả bằng bạo lực vì điều đó trái với chính sách bất tuân dân sự của ông vốn có thể làm hỏng nhiệm vụ chính và tầm nhìn của ông về triết lý sống của mình. Bất chấp có những khác biệt trong chiến lược chính trị, cả hai người đã chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc phương Tây và luôn luôn đứng về phía quần chúng cùng khổ và coi các phong trào của họ là phong trào yêu nước và tầm nhìn có định hướng dựa trên khát khao của họ về độc lập và tự do. Bởi vậy, lòng dũng cảm và sự hy sinh bản thân là những di sản vĩ đại mà họ để lại, và việc nhận xét tính cách của họ cần phải dựa vào di sản đó.

Những đánh giá và nhận xét về Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh
Mục đích trong cuộc đời của cả Gandhi và Hồ Chí Minh là chống các cường quốc thực dân giành độc lập cho đất nước mình bằng cách sử dụng các phương tiện khác nhau. M. N. Roy, trong cuốn sách Những người tôi gặp (Men I Met), đã mô tả Hồ Chí Minh là Con người của Phương Đông. Ông mô tả Hồ Chí Minh là “một nhà cách mạng không khoan nhượng, hoạt động như một tư lệnh chiến trường theo mệnh lệnh từ Bộ Tổng tham mưu của Đội quân quốc tế của cuộc cách mạng Cộng sản trên thế giới”. Ông viết thêm: “Có thể nói rằng, về mặt chiến lược, Đông Dương là con đường tới Đông Nam Á. Chắc chắn rằng, Hồ Chí Minh là người giữ chìa khóa tới khu vực này. Người là con người của số phận, và đó không chỉ là số phận của Đông Nam Á, mà có thể còn là của các dân tộc châu Á khác”
[28]. Ông cũng đánh giá quan điểm chính trị của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc mang sắc đỏ và vừa là một người cộng sản tận tụy vừa là một người theo chủ nghĩa dân tộc[29].

Cũng trong cuốn sách Những người tôi gặp trong chương viết về Gandhi, M. N. Roy đã khẳng định: Gandhiji sẽ đi vào lịch sử không phải như một nhà tiên tri cũng như một vị cứu tinh của quần chúng, mà là người thức tỉnh họ về mặt chính trị. Mahatma Gandhi là một tác phẩm sáng tạo của các tầng lớp quần chúng Ấn Độ. Ông còn nêu rõ thêm: Ý nghĩa của học thuyết về bất bạo động là châm ngôn về đạo đức cho rằng, không thể lấy mục tiêu để biện minh cho phương tiện. Đó là nội dung cốt lõi trong thông điệp của Mahatma Gandhi - đối nghịch với chính trị quyền lực. Mahatma muốn làm cho chính trị trở nên trong sạch; điều chỉ có thể thực hiện được bằng cách đưa thực tiễn hoạt động chính trị vượt lên trên việc tranh giành quyền lực tầm thường. William. J. Duiker, trong cuốn sách mang tựa đề Hồ Chí Minh: Một cuộc đời đã viết: Ông Hồ luôn tìm cách đạt được mục tiêu của mình mà không cần dùng đến lực lượng quân sự và, không giống như một số đồng nghiệp của mình, ông có tầm nhìn sáng suốt về thực tiễn ở trong nước và quốc tế, có cách tiếp cận linh hoạt, thực dụng, kiên nhẫn và tinh tế để tìm kiếm các giải pháp ngoại giao. Người rất quan tâm đến cách mạng xã hội. Nhưng người muốn ít đổ máu nhất. Người thích càng hòa giải bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Trong con người Người có sự kết hợp hiếm hoi giữa một nhà cách mạng và một người theo chủ nghĩa dân tộc. Do đó, Người là người có một nửa là Lênin và một nửa là Gandhi
[30]. Cuối cùng, Martin Luther King Jr, trong một tuyên bố đã nhấn mạnh: Chúa Jesu đã đưa ra thông điệp và Mahatma Gandhi đã đưa ra phương pháp (thực hiện thông điệp đó).

Kết luận
Tóm lại, tôi muốn chỉ ra rằng, rất khó để so sánh các triết lý chính trị của Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh Minh, vì hai nhà lãnh đạo này có tư duy chính trị và sử dụng những phương tiện để đi đến mục đích cuối cùng hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, bất chấp những khác biệt của hai nhân vật này về hình thức và bản chất, những phương tiện sử dụng, cuối cùng họ đã đạt được một số điểm tương đồng. Những gì chúng ta đang phân biệt ngày nay dựa trên tư tưởng chính trị của Gandhi và Hồ Chí Minh và con đường đấu tranh của họ chống các thế lực thực dân vẫn là chủ đề chính để thảo luận học thuật trong lĩnh vực lịch sử thế giới. Điều quan trọng là phải nhận ra bản chất thực sự của một di sản chính trị, bất kể chế độ chính trị ngày nay chọn sử dụng nó như thế nào. Di sản của Hồ Chí Minh dựa trên những đóng góp của Người cho cuộc đấu tranh của dân tộc vì độc lập và cách mạng xã hội chủ nghĩa, cả ở trong và ngoài nước. Tên tuổi Hồ Chí Minh rất thân thuộc với từng gia đình ở Ấn Độ và hàng triệu người Ấn Độ gọi Người là Bác Hồ.

Mặt khác, Mahatma Gandhi, thông qua các phương tiện chủ yếu của mình, đã nỗ lực đưa các tầng lớp quần chúng đứng chung trên một nền tảng thông qua việc xây dựng và thực hiện phương pháp Satyagraha phi bạo lực của mình như một phương tiện cốt lõi trong cuộc đấu tranh chống sức mạnh của chế độ thực dân bằng cách từ chối tất cả các loại bạo lực nhằm mục tiêu giành được tự do cho Ấn Độ. Bởi vậy, đi theo hai con đường khác nhau, những phương tiện và mục tiêu của cả hai nhà lãnh đạo này và những di sản có sức hấp dẫn của họ đã đạt đến điểm cuối chung và phát triển tư tưởng phản kháng của những người dân bình thường thành ý thức chống những kẻ thống trị thực dân trên đất nước họ.

Bất chấp sự khác biệt to lớn về những phương tiện họ sử dụng, cả Gandhi và Hồ Chí Minh đều được công nhận rộng rãi là biểu tượng của sự phản kháng và là hai nhân vật lịch sử của mọi thời đại. Cả hai đều có những tính cách giống nhau, như sự hào phóng, khiêm tốn, dũng cảm, can trường và không sợ hãi. Cả hai đã không ngừng chiến đấu trong một cuộc chiến kéo dài suốt đời họ nhằm giải phóng đất nước thoát khỏi sự kìm kẹp của các thế lực thực dân và, do đó, họ được coi là những nhân vật phương Đông cổ điển điển hình, những người thực hiện thành công các hệ tư tưởng khác nhau vì tự do của tất cả các dân tộc, giai cấp và xã hội bị áp bức. Cuối cùng, có thể nói rằng, bất chấp sự khác biệt đáng kinh ngạc về những phương tiện sử dụng, cả hai nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh và Gandhi đều thành công trong việc giành độc lập cho đất nước mình. Do đó, cho dù là người ủng hộ sử dụng bạo lực cách mạng hay là người cổ vũ cho chủ nghĩa thụ động đấu tranh phi bạo lực, việc so sánh Mahatma Gandhi với Hồ Chí Minh có thể là một bài học quan trọng cho tất cả chúng ta và sẽ vẫn là đề tài nghiên cứu học thuật trong lĩnh vực lịch sử thế giới./.

 
 
[1] Santimay  Roy, “Ho Chi Minh is with US”,  Ho Chi Minh: Vietnamese Hero of National Liberation and Great Man of Culture, Vietnamese National Commission for UNESCO Committee for Social Sciences, Vietnam Courier, Hanoi,1990, p.289.
[3] M. K. Gandhi, The Story of My Experiments with Truth, translated by (from Gujarati) by Mahadev Desai, Navajivan Trust, Ahemadabad, 1927.
[4] Ho Chi Minh, Tuyển tập (Selected Works of Ho Chi Minh), Tập II, tr. 113, 174 và 461, Trích trong Tôn Thất Thiên, Was Ho Chi Minh A Nationalist? Ho Chi Minh and the Comintern, Information and Resource Center, Singapore, 1990, see http://www.tonthatthien.com/wp-content/uploads/2015/07/1990-Was-Ho-Chi-Minh-A-Nationalist.pdf   accessed on 22 February, 2019).
[5] John Ruskin, sinh ngày 8-02-1819 tại Brunswich Square, London, Vương Quốc Anh, mất ngày 20-1-1900. Ông là nhà phê bình nghệ thuật hàng đầu của Anh thời Victoria, là nhà tư tưởng xã hội và là nhà từ thiện nổi tiếng (chú thích của Lê Văn Toan).
[6] Henry David Thoreau, sinh ngày 12-7-1817 tại Concord Massachusett, Hoa Kỳ, mất ngày 06-5-1862, là nhà văn, nhà thơ, nhà tự nhiên học, nhà sử học, nhà triết học, nhà địa hình học mẫu mực người Mỹ (chú thích của Lê Văn Toan).
[7] Ajay Kamalakaran, ‘How Leo Tolstoy supported anti-imperialist movements in Asia’,  RBTH, 15 November, 2016, see
https://www.rbth.com/arts/history/2016/11/14/how-leo-tolstoy-supported-anti-imperialist-movements-in-asia_647491(accessed on 28 February, 2019)
[8] Tridib Chakraborti, “Mahatma Gandhi: The Relentless Peacemaker of Human Civilization”, Asian Studies, Netaji Institute foe Asian Studies, Vol. XXIV, No. 1 & 2, January - December, 2016, p.86.
[9] Ramin Jahanbegloo, “Gandhi and the Struggle for Non-Violence”, UNESCO Courier, see https://www.questia.com/magazine/1G1-12536792/gandhi-and-the-struggle-for-non-violence (accessed on 25 February, 2019).
[10] Jill Bolstridge, “Face Off: Ho Chi Minh vs. Mahatma Gandhi” for details see https://ricenpeas.org/features/2017/7/7/face-off-ho-chi-minh-vs-mahatma-gandhi (accessed on 24 February, 2019)
[11] Ho Chi Minh, “The Path Which Led Me To Leninism”, Soviet Review ,Problems of the East , cited in Selected Works of Ho Chi Minh Vol. 4, Foreign Languages Publishing House, 2003,   for details see https://www.marxists.org/reference/archive/ho-chi-minh/works/1960/04/x01.htm(accessed on 25 February, 2019)
[12] Như trên.
[13] “Russian Revolution and President Ho Chi Minh”, People’s Army Newsletter 10 October, 2017 see http://en.qdnd.vn/foreign-affairs/bilateral-relations/russian-revolution-and-president-ho-chi-minh-485573 (accessed on 28 February, 2019).
[14] Le Duan, Fighting for a rich and beautiful socialist Vietnam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1979, tr.10, trích trong Tôn Thất Thiên, Was Ho Chi Minh A Nationalist? Ho Chi Minh and the Comintern, Information and Resource Center, Singapore, 1990, seehttp://www.tonthatthien.com/wp-content/uploads/2015/07/1990-Was-Ho-Chi-Minh-A-Nationalist.pdf (accessed on 22 February, 2019).
[15] NeelamPandey, “Gandhi and Socialism”, International Journal of Advanced Research and Development, Vol.2, Issue 5 September 2017, p.399, for details see   www.advancedjournal.com/download/576/2-5-106-334.pdf (accessed on 22 February, 2019).
[16] A.Pyarelal, “Towards New Horizons”, Amrita Bazar Patrika, Navajivan Publishing House. Ahmedabad,  1934 and 1959, cited inNeelamPandey, “Gandhi and Socialism”, International Journal of Advanced Research and Development, Vol. 2, Issue 5 September 2017, p.400, for details see  
www.advancedjournal.com/download/576/2-5-106-334.pdf (accessed on 22 February, 2019).
[17] Neelam Pandey, “Gandhi and Socialism”, International Journal of Advanced Research and Development, Vol.2, Issue 5 September 2017, pp.400-401, for details see   www.advancedjournal.com/download/576/2-5-106-334.pdf (accessed on 22 February, 2019).
[18] Ajay Singh Almust, Lohia - The Rebel Gandhian, Mittal Publications, New Delhi, 1998, cited inNeelamPandey, “Gandhi and Socialism”, International Journal of Advanced Research and Development, Vol.2, Issue 5 September 2017, pp.400-401, for details see  www.advancedjournal.com/download/576/2-5-106-334.pdf
(accessed on 22 February, 2019).
[19] Rammanohar, Lohia,  Marx, Gandhi and Socialism, Nav Hind Prakashan, Hyderabad, 1963, cited in Neelam Pandey, “Gandhi and Socialism”, International Journal of Advanced Research and Development, Vol.2, Issue 5 September 2017, p.401, for details see  www.advancedjournal.com/download/576/2-5-106-334.pdf
(accessed on 22 February, 2019)
[20] Neelam Pandey, “Gandhi and Socialism”, International Journal of Advanced Research and Development, Vol.2, Issue 5 September 2017, p.401, for details see   www.advancedjournal.com/download/576/2-5-106-334.pdf(accessed on 22 February, 2019)
[21] “Ho Chi Minh - an exemplary model in the practice of Patriotic Emulation”, National Defence Journal: Theory and Practice, 2 July, 2018, see http://tapchiqptd.vn/en/theory-and-practice/ho-chi-minh-%E2%80%93-an-exemplary-model-in-the-practice-of-patriotic-emulation/12013.html (accessed on 25 February, 2019).
[22] Mahatma Gandhi, ‘The Voice of Truth’, Selected Works of Mahatma Gandhi, Vol.V, Part II, Section IV,Young India, 16 March, 1921, p. 81, see https://www.mkgandhi.org/voiceoftruth/nationalism.htm(accessed on 26 February, 2019).
[23] Mahatma Gandhi, ‘The Voice of Truth’, Selected Works of Mahatma Gandhi, Vol.V, Part II, Section IV, Young India, 4 April, 1929, p. 107, see https://www.mkgandhi.org/voiceoftruth/nationalism.htm (accessed on 26 February, 2019).
(*) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 3 (1930-1945), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr. 402.
[24] Ho Chi Minh: Vietnamese Hero of National Liberation and Great Man of Culture, Published by the Embassy of Socialist Republic of Vietnam to India, New Delhi, 1989, p.69.
[25] Santimay  Roy, “ Ho Chi Minh Is With US”,  Ho Chi Minh: Vietnamese Hero of National Liberation and Great Man of Culture, Vietnamese National Commission for UNESCO Committee for Social Sciences, Vietnam Courier, Hanoi, 1990, p.289.
[26] “Tributes to Gandhi: From India & Abroad”, see
https://www.mkgandhi.org/tributes.htm (accessed on 28 February, 2019).
[27] The Hindu, 22 May, 2018
[28] M. N. Roy,  Men I Met, Lalvani  Publishing House, Bombay, 1968, p.146
[29] Govind  Talwalkar, “The Ho Chi Minh saga”, Frontline, Volume 18, Issue 09, April 28 - May 11, 2001
https://frontline.thehindu.com/static/html/fl1809/18090760.htm (accessed on 28 February, 2019).
[30] William J. Duiker, Ho Chi Minh: A Life, Hachette Books, New York, 2000, for details see Govind  Talwalkar, “The Ho Chi Minh saga”, Frontline, Volume 18, Issue 09, April 28 - May 11, 2001
https://frontline.thehindu.com/static/html/fl1809/18090760.htm (accessed on 28 February, 2019).

Tác giả: Giáo sư Tridib Chakraborti, Giáo sư quan hệ quốc tế, Trưởng khoa Khoa học xã hội, Đại học ADAMAS, Kolkata-700126. Bài này dành để tưởng nhớ người cố Giáo sư G. P. Bhattacharya, Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học Jadavpur, Kolkata, Ấn Độ.

 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Bình luận của bạn