cis_banner_final_en.png
Thế giới quan của Bác Hồ và sự phát triển của mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ

18/05/2020


Thế giới quan của Bác Hồ và sự phát triển của mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ

Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam là một trong những quan hệ đối tác thành công nhất tại khu vực châu Á. Cả hai quốc gia đã may mắn có được những lãnh đạo minh triết, đóng góp cho sự phát triển tương lai của hai quốc gia, cũng như đưa Ấn Độ và Việt Nam ngày càng trở nên gần gũi nhau hơn trên mọi phương diện. Mahatma Gandhi và Jawaharlal Nehru của Ấn Độ và vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của Việt Nam Hồ Chí Minh đã khắc hoạ và đặt nền tảng cho mối quan hệ giữa hai nước, một mối quan hệ thu hút sự chú ý từ rất nhiều nước châu Á.


Chủ tịch Hồ Chí Minh rất được kính trọng tại Việt Nam vì những đóng góp to lớn của Người, giống như Jawaharlal Nehru ở Ấn Độ với những nỗ lực xây dựng quốc gia sau khi chiến đấu chống lại các thế lực thực dân và bảo vệ tự do cho nhân dân Ấn Độ. Giống như J. Nehru, người đóng vai trò trụ cột và là người tiên phong của phong trào không liên kết, cùng xây dựng quan điểm chung với các nhà lãnh đạo châu Á khác mà đỉnh cao là Hội nghị Quan hệ châu Á đầu những năm 1950, Hồ Chí Minh cũng đã đi đến nhiều nơi trên thế giới để vận động dư luận chống chủ nghĩa đế quốc thực dân và là người đóng vai trò trụ cột trong công cuộc đấu tranh giành tự do cho dân tộc Việt Nam.

Người dân Việt Nam thường gọi Người là Bác Hồ. Bác có một niềm đam mê đặc biệt đối với Ấn Độ và tình yêu đặc biệt đối với nhân dân Ấn Độ, và nhân dân Ấn Độ cũng đã đáp lại tình cảm của Người bằng mọi cách có thể. Điều này đã khiến Bác được các tổ chức chính trị Ấn Độ quý mến và qua đó góp phần gắn kết giữa hai dân tộc. Tình yêu đặc biệt của Bác dành cho Ấn Độ có thể được cảm nhận từ số lượng các bài viết, bài báo, bài thơ, điện mừng, tin nhắn điện báo mà Bác đã gửi cho các nhà cách mạng và các nhà lãnh đạo chính trị Ấn Độ trong thời kỳ cả Ấn Độ và Việt Nam kháng chiến chống thực dân.

Cần lưu ý rằng, Bác Hồ đã viết bài báo đầu tiên về Ấn Độ vào năm 1921 và đã viết và xuất bản hơn 60 thư chúc mừng, điện báo và các bài viết về Ấn Độ cho đến khi Bác qua đời năm 1969. Tình yêu của Hồ Chí Minh dành cho Ấn Độ đã được các học giả, nhà quan sát và phân tích cả ở Ấn Độ và Việt Nam ghi chép lại. Đây là một câu chuyện cần được kể lại để thế hệ trẻ sau này hiểu và đánh giá cao mối liên kết lịch sử giữa Ấn Độ và Việt Nam. Điều này là cần thiết vì cả hai nước đang cố gắng tìm kiếm một con đường mới trong thế giới toàn cầu hóa đang thay đổi hiện nay, nơi tất cả các khía cạnh quan hệ giữa các quốc gia đang được định hướng lại và cần các phản ứng chính sách phù hợp. Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam cần được hiểu từ quan điểm mới này.

Ngữ cảnh hiện tại
Mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam là một trong những mối quan hệ song phương quan trọng nhất ở châu Á, bên cạnh quan hệ đối tác Ấn Độ - Nhật Bản. Trong những năm qua, đặc biệt kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước vào ngày 7 tháng 1 năm 1972, mối quan hệ song phương này đã trở nên vững chắc trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, chiến lược đến quốc tế và văn hóa, giáo dục, đào tạo, phát triển giao thương, v.v..

Sự trao đổi thường xuyên các chuyến thăm của các nhà lãnh đạo hàng đầu hai nước đã củng cố vững chắc mối quan hệ song phương và tăng cường tìm kiếm các cơ hội, thời cơ và phương tiện để khai thác các triển vọng mới nhằm tối đa hóa lợi ích chung cho cả hai nước. Sẽ không sai khi nói rằng, không có quốc gia nào khác trong nhóm ASEAN nhận được sự coi trọng và chú ý của Ấn Độ hơn Việt Nam và ngược lại. Điều đó làm cho quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trở nên rất đặc biệt.

Năm 2017 đánh dấu kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm đối tác chiến lược được thành lập vào tháng 7 năm 2007, và được nâng lên thành “Đối tác Chiến lược toàn diện” trong chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tới Hà Nội vào tháng 9 năm 2016. Mặc dù 45 năm là một giai đoạn nhỏ trong mối quan hệ giữa hai nước xét trong tổng thể nền văn minh nhân loại, nhưng những bước tiến được thực hiện trong giai đoạn này là rất đáng kể. Đây là hai cột mốc quan trọng. Kể từ thời Thủ tướng đầu tiên Jawaharlal Nehru và Tổng thống Rajendra Prasad, hầu như tất cả các nhà lãnh đạo chính trị hàng đầu của Ấn Độ - Tổng thống, Phó Tổng thống, diễn giả, Bộ trưởng cao cấp,… - đều đã đến thăm Việt Nam trong những năm qua, khẳng định sự tôn trọng của Ấn Độ dành cho Việt Nam. Chuyến thăm của Thủ tướng N. Modi đã nhấn mạnh thêm sự tôn trọng này. Ông là Thủ tướng Ấn Độ đầu tiên đến thăm Việt Nam trong vòng 15 năm vừa qua.

Lần gần đây nhất trong hành trình dài các chuyến thăm cấp cao này là khi Tổng thống Ấn Độ, Ram Nath Kovind, có chuyến thăm ba ngày tới Việt Nam từ 18 đến 20 tháng 11 năm 2018. Những vấn đề đã được thảo luận trong cuộc gặp này bao gồm: Ấn Độ thăm dò dầu khí ở vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền, và hợp tác quốc phòng và an ninh. Các chuyến thăm cấp cao như vậy góp phần tăng cường hợp tác song phương, và Việt Nam được coi là ưu tiên hàng đầu của Ấn Độ trong số 10 thành viên ASEAN.

Tập đoàn Dầu và Khí tự nhiên Ấn Độ (ONGC) đang thăm dò dầu tại các khu vực mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

Từ phía mình, Việt Nam dành ưu tiên hàng đầu để xây dựng quan hệ với Ấn Độ. Với mối liên kết văn hoá giữa công dân hai nước trên cơ sở Phật giáo, các mối quan hệ song phương đã cho thấy các chiều kích đa diện, và điều này ngày càng trở nên mạnh mẽ trong những năm qua. Nó được thể hiện rõ trong cuộc họp báo của Đại sứ Phạm Sanh Châu cho rằng: cả hai nước đều có sự tôn trọng lẫn nhau ở mức cao. Một điều nổi bật nữa là cả hai đều có mức hội tụ lợi ích cao đối với một loạt các vấn đề, cả song phương và khu vực, đó là lý do tại sao quan hệ song phương ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn trong những năm qua.

Một điều đáng lưu ý là, Tổng thống R. Kovind đã được phát biểu trước Quốc hội Việt Nam, một vinh dự hiếm có của Việt Nam dành cho một nhà lãnh đạo nước ngoài. Nhận xét về chuyến thăm của Tổng thống R. Kovind, Đại sứ Phạm Sanh Châu nhấn mạnh, Việt Nam rất mong muốn tiếp tục củng cố “mối quan hệ đã được thử thách qua thời gian giữa hai đối tác chiến lược”. Chuyến thăm của ông R. Kovind chưa đầy một tháng sau khi Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng trở thành tân Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chuyến thăm của Tổng thống R. Kovind là chuyến thăm song phương lớn thứ ba của năm 2018, sau chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và cố Chủ tịch nước Trần Đại Quang tới Ấn Độ vào đầu năm 2018.

Cả hai bên quyết tâm tăng cường hợp tác trên một số lĩnh vực bao gồm quốc phòng và an ninh, thương mại và đầu tư, giáo dục, trí tuệ nhân tạo, văn hóa và du lịch. Vấn đề có thể bán hệ thống tên lửa BrahMos và Aakash của Ấn Độ cho Việt Nam đã được đưa ra bàn từ khá lâu nhưng chưa có tiến triển. Các cuộc thảo luận về vấn đề này vẫn đang diễn ra giữa các bên liên quan. Tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos là một dự án kinh doanh Ấn Độ - Nga, cho phép Ấn Độ bán hệ thống tên lửa này cho các quốc gia thân thiện. Hai nước đã ký một tuyên bố chung về quốc phòng trong giai đoạn 2015-2020 vào tháng 5 năm 2015, trong đó cả hai bên quyết định nâng cao “quan hệ đối tác chiến lược” thành quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” trong chuyến thăm của Thủ tướng Narendra Modi tới Việt Nam tháng 9 năm 2016. Về mua sắm quân sự, Việt Nam đã mua 11 tàu tuần tra tốc độ cao từ Ấn Độ, trong đó 5 chiếc sẽ được sản xuất tại Ấn Độ và 6 chiếc sẽ được sản xuất tại Việt Nam. Sự hợp tác giữa các lực lượng hải quân bao gồm Lực lượng Bảo vệ bờ biển và Lực lượng Không quân của hai nước đang ngày càng phát triển, và mở rộng phạm vi hơn nữa. Dòng tín dụng trị giá 500 triệu USD cung cấp trong năm 2016 vẫn chưa được vận hành để tạo điều kiện hợp tác quốc phòng sâu sắc hơn với quốc gia Đông Nam Á này. Ngoài ra, vấn đề Biển Đông cũng đã được đặt ra trong cuộc thảo luận.

Về mặt kinh tế, triển vọng có vẻ tươi sáng. Khối lượng thương mại song phương hiện tại ở mức 8,5 tỷ USD và có thể tăng đáng kể nếu Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) có hiệu lực. Điều đáng khích lệ là: thương mại song phương đã tăng lên 9,2 tỷ USD, tăng 47% trong 10 tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017, và mục tiêu 15 tỷ USD vào năm 2020 là khả thi. Các tiềm năng là rất lớn và tùy thuộc vào cả hai bên làm thế nào để tăng quy mô hơn nữa. Theo RCEP, một nhóm 16 quốc gia hàng đầu đang cố gắng tạo ra một trong những khối thương mại lớn nhất khu vực trên toàn cầu thông qua một thỏa thuận thương mại đầy tham vọng. RCEP, bao gồm khối ASEAN gồm 10 thành viên và 6 quốc gia khác là Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc và New Zealand, hiện đang tham gia đàm phán cho một hiệp ước thương mại tự do.

RCEP không phải là đối thủ cạnh tranh của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (hiện được gọi là TPP hoặc CPTTP toàn diện và tiến bộ sau khi Chính quyền Trump rút khỏi đó). Điều đáng chú ý là, CPTTP loại trừ Trung Quốc, còn RCEP thì không. RCEP là một loại thỏa thuận thương mại truyền thống hơn, trong đó tâm điểm của các cuộc thảo luận nằm ở việc cắt giảm thuế đối với hàng hóa có thể giao dịch thay vì đặt các tiêu chuẩn cao về bảo vệ lao động, môi trường và sở hữu trí tuệ.

Ấn Độ đã giới hạn một số vấn đề như trên, đó là lý do tại sao thỏa thuận này bị hoãn lại ở Singapore, nhưng các cuộc đàm phán vẫn tiếp tục để đưa ra “kết luận sớm”. Ấn Độ đã có các thỏa thuận thương mại tự do với ASEAN nhưng cũng lo lắng rằng, xuất khẩu từ ASEAN vào Ấn Độ đã tăng nhanh hơn nhiều so với xuất khẩu của Ấn Độ sang khối này. Khối ASEAN đã đặt trách nhiệm cho Ấn Độ bằng cách trích dẫn rằng, Ấn Độ là một “nền kinh tế dịch vụ”. Những gì Ấn Độ muốn là mở rộng thị trường cho các dịch vụ. Tuy nhiên, thách thức đối với Ấn Độ là đủ sức cạnh tranh để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là một thách thức mới mà Ấn Độ cần giải quyết. Trung Quốc cũng có vấn đề tương tự. Vì vậy, nếu năm 2019 là mục tiêu ký kết RCEP, cả Ấn Độ và Trung Quốc phải xem xét lại các ưu tiên của họ có lợi cho lợi ích quốc gia. Điều này không dễ dàng.

Một điểm quan trọng trong cuộc họp báo của Đại sứ Phạm Sanh Châu là ông đã nói rõ vị trí của Việt Nam trong liên minh tứ giác hoặc tứ giác giữa Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản và Úc (Quad). Trong khi ủng hộ sáng kiến ​​này, ông đã khẳng định rõ vị trí của Việt Nam, Việt Nam ủng hộ sáng kiến ​​này như một diễn đàn nhằm bảo đảm hòa bình và ổn định trong khu vực, và sẽ không ủng hộ nếu diễn đàn đảm nhận vai trò như một liên minh quân sự. Trên thực tế, điều này rất phù hợp với vị trí của Ấn Độ vì Ấn Độ đã tuyên bố rõ ràng rằng, Quad sẽ chỉ là một diễn đàn tư vấn tập trung vào việc bảo đảm hòa bình trên toàn cầu, quyền tự do hàng hải, hàng không, tất cả phù hợp với luật pháp toàn cầu và UNCLOS. Một liên minh quân sự không thể đóng góp cho an ninh khu vực. Cả Ấn Độ và Việt Nam đều đồng ý với nhau ở điểm này. Là quốc gia nạn nhân của sự xâm lược của ngoại bang trong nhiều năm và phải kiên trì kháng chiến để giành lại tự do, quốc gia cần phải chống lại bất kỳ sáng kiến ​​nào trong khu vực nếu như sáng kiến đó có thể biến quốc gia thành vũ đài thi đấu quyền lực giữa các cường quốc.

Việc sử dụng vũ lực và tập hợp lực lượng của bất kỳ một hoặc một nhóm quốc gia nào đều chống lại lợi ích và vị thế của Việt Nam. Việt Nam dự kiến sẽ không tham gia nếu Quad tổ chức các cuộc tập trận chung. Bản thân Ấn Độ không hào hứng tham gia thảo luận cấp bộ trưởng về vấn đề Quad và tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ở Singapore, khi đó các nhà ngoại giao cấp tổng thư ký đã được ủy quyền tham gia thảo luận.

Ý tưởng về Quad xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2007 do Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo đưa ra. Đó là một nỗ lực có kế hoạch và một chiến lược mới để giữ an toàn cho các tuyến đường biển ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Sau sự nhiệt tình ban đầu, nó đã bị chết yểu khi Abe từ chức đột ngột và Úc thể hiện sự miễn cưỡng. Tình hình mới trong khu vực một lần nữa dẫn đến sự hồi sinh của khái niệm này như là một cơ chế để hướng tới đảm bảo hòa bình và ổn định.

Tháng 8 năm 2018, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Sushma Swaraj đã đến thăm Việt Nam, một số Bản ghi nhớ (MoU) đã được ký kết giữa hai nước. Ấn Độ cũng đã đề nghị đào tạo phi công lái máy bay chiến đấu Sukhoi-30 cho Việt Nam, giống như họ đã huấn luyện các thủy thủ điều khiển tàu ngầm lớp Kilo cho Việt Nam trong 5 năm qua.

Tình hình địa chính trị thay đổi trong khu vực đã tạo ra những lý do thuyết phục khiến Ấn Độ và Việt Nam trở thành hai quốc gia thân thiện và có quan điểm chung về những thách thức mang tính khu vực và tìm cách giải quyết chúng, đó là lý do tại sao tăng cường sức mạnh tổng hợp là cách tiếp cận phổ biến.

Những chuyến thăm này cũng đã được Việt Nam thịnh tình đáp lại. Người đặt nền móng cho quan hệ hai nước, Hồ Chí Minh, được nhân dân Ấn Độ rất tôn trọng. Tiếp nối các cuộc đối thoại đang diễn ra này, tuần đầu tiên của tháng 12 năm 2016 đã chứng kiến hai chuyến thăm quan trọng của các phái đoàn cấp cao từ Việt Nam đến Ấn Độ, đây là bước đầu tiên để kỷ niệm 45 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước vào năm 2017. Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch đã đến thăm Ấn Độ từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 12 năm 2016 và hội đàm với người đồng nhiệm Manohar Parrikar, gặp Thủ tướng N. Modi, và Cố vấn An ninh quốc gia Ajit Doval.

Mối quan hệ giữa Ấn Độ và Việt Nam không phải là mới gây dựng, nó có từ hơn 2000 năm trước khi các thương nhân Ấn Độ đến Việt Nam để buôn bán, cùng với họ là các tu sĩ Phật giáo đến miền duyên hải Việt Nam, nơi họ sớm hòa đồng với người dân bản địa và đóng góp cho nền kinh tế địa phương. Ảnh hưởng của Phật giáo cũng bắt nguồn từ thời kỳ đó. Phật giáo đã được truyền trực tiếp từ Ấn Độ đến Việt Nam thông qua tuyến hàng hải hơn 2000 năm trước. Thương mại và Phật giáo tạo điều kiện trao đổi lành mạnh về ý tưởng, công nghệ, kiến ​​trúc và thực hành văn hóa. Ngay cả ngày ngày hôm nay cũng có thể thấy điều đó. Cộng đồng người Chăm ngày nay và sự hiện diện của các ngôi đền Hindu là một minh chứng cho các liên kết lịch sử mà cả hai nước đã cùng chia sẻ. Phát biểu tại một hội nghị về quan hệ Ấn Độ - Việt Nam do Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ tại Hà Nội tổ chức vào tháng 3 năm 2017, Đại sứ Ấn Độ P. Harish đã quan sát: “Nền văn minh Champa ở miền Trung và miền Nam Việt Nam gói gọn những ảnh hưởng của Hindu giáo và sau này thấm nhuần những ảnh hưởng Phật giáo. Với việc Hindu giáo và Phật giáo trở thành tôn giáo chính thống, và mang lại sự ổn định về xã hội, văn hóa và kinh tế ở Việt Nam, thì việc thờ phụng Phật và các vị thần Hindu như Shiva, Vishnu và Parvati cũng đã tiếp nhận truyền thống thờ cúng mẫu hệ và nữ thần theo phong tục bản địa”.

Quần thể kiến trúc tinh xảo tại khu bảo tồn Mỹ Sơn ngày nay là di sản thế giới được UNESCO công nhận và di tích khảo cổ cổ nằm rải rác ở vùng ven biển Việt Nam từ Đà Nẵng đến Bình Thuận, bao gồm đền Po Nagar ở Nha Trang và đền Po Klong Garai ở Phan Rang chính là minh chứng cho sự kế thừa văn minh của hai nước chúng ta”.

Quan hệ giữa hai nước đã chứng kiến nhiều kinh nghiệm lịch sử phổ biến như chiến đấu chống lại sự thống trị của thực dân và sát cánh bên nhau trong những lúc cần thiết. Mối quan hệ này, do đó, được thử thách theo thời gian và đã trở nên mạnh mẽ trong những năm qua. Chuyến thăm của Thủ tướng N. Modi là một cột mốc quan trọng khác trong hành trình dài xây dựng mối quan hệ đối tác bền chặt giữa hai nước.

Một loạt thỏa thuận
Một loạt các vấn đề đã được thảo luận và đạt được thỏa thuận trong chuyến thăm của Thủ tướng N. Modi, bao gồm: kinh tế, chiến lược, quốc phòng, giáo dục và văn hóa. Sau đây là những điểm nổi bật chính: (i) Nâng cao mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam lên thành Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, mà trước đây Hà Nội chỉ có với Mátxcơva và Bắc Kinh; (ii) Thông báo về khoản tín dụng quốc phòng mới trị giá 500 triệu USD của Ấn Độ; (iii) Ký hợp đồng cho các tàu tuần tra nhanh ngoài khơi của L&T với Bộ đội Biên phòng Việt Nam dưới 100 triệu USD từ hạn mức tín dụng quốc phòng đưa ra; (iv) Thỏa thuận hợp tác nghiên cứu vũ trụ vì mục đích hòa bình; (v) Thỏa thuận giữa hải quân hai bên về chia sẻ thông tin hàng hải phi quân sự; (vi) Bản ghi nhớ về an ninh mạng; (vii) Thỏa thuận Ấn Độ hỗ trợ Việt Nam trong việc tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; (viii) Cấp 5 triệu USD cho công viên phần mềm; (ix) Bản ghi nhớ (MoU) về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ thông tin; (x) MoU về việc thiết lập Trung tâm xuất sắc về phát triển phần mềm; (xi) Học bổng sau đại học và tiến sĩ cho nghiên cứu Phật giáo và tiếng Phạn ở Ấn Độ; (xii) Nghị định thư về thỏa thuận tránh đánh thuế hai lần; (xiii) MoU để công nhận lẫn nhau các tiêu chuẩn; (xiv) MoU về hợp tác y tế và sức khỏe; (xv) MoU giữa Hội đồng Những vấn đề thế giới của Ấn Độ và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; và (xvi) Nghị định thư kỷ niệm 45 năm quan hệ ngoại giao
[1].

Bên cạnh các cuộc hội đàm với người đồng cấp là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Ngài N. Modi còn gặp Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Các cuộc hội đàm trên các lĩnh vực từ quốc phòng, an ninh, khoa học và công nghệ, thương mại và văn hóa và đã đạt được các thỏa thuận nêu trên. Ông N. Modi cũng tỏ lòng kính trọng với nhà lãnh đạo tôn kính Hồ Chí Minh, người mà ông mô tả là một trong những nhà lãnh đạo tầm vóc nhất thế kỷ XX, và đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các anh hùng và liệt sĩ quốc gia. Ngoài ra, ông cũng có chuyến viếng thăm tới chùa Quán Sứ.

Vai trò Hồ Chí Minh trong phong trào giải phóng Việt Nam đã trở thành huyền thoại. Nhân vật mang tính biểu tượng này đã tới Ấn Độ, xây dựng mối liên kết chặt chẽ với nhân dân Ấn Độ và tìm thấy những điểm chung cho đấu tranh giải phóng dân tộc. Điều này được lặp lại ngay cả trong ngày hôm nay. Sau khi Người qua đời, thi thể của Người được giữ trong một lăng mộ ở thủ đô Hà Nội, được người dân Việt Nam tôn thờ và Thủ tướng N. Modi đã đến thăm Lăng, đặt vòng hoa tưởng nhớ
[2].

Hợp tác quốc phòng
Mục đích chuyến thăm Ấn Độ của Đại tướng Ngô Xuân Lịch là để tiếp tục tăng cường hợp tác quốc phòng song phương với Ấn Độ. Khẳng tầm quan trọng của chuyến thăm này, một phái đoàn đi thăm nước ngoài lớn chưa từng có cho đến nay, gồm 30 thành viên, đã đi cùng với Bộ trưởng Ngô Xuân Lịch trong chuyến thăm Ấn Độ, trong đó bao gồm các Tổng tham mưu trưởng, Phó Tổng tham mưu trưởng của Không quân và Hải quân Việt Nam
[3].
\
Việc bán tên lửa BrahMos của Ấn Độ cho Việt Nam có thể đã được đưa lên bàn đàm phán trong một thời gian khá lâu giờ lại được đưa ra để thảo luận. Việt Nam đã chứng tỏ sự quan tâm và mong muốn có được hệ thống vũ khí này từ Ấn Độ, và phía Ấn Độ cũng cam kết tăng cường khả năng phòng thủ của Việt Nam vì môi trường an ninh trong khu vực đang xấu đi nhanh chóng. Về nguyên tắc, Ấn Độ đã đồng ý bán tên lửa cho Việt Nam và vẫn đang tiếp tục thương lượng đàm phán. Việt Nam rất muốn sở hữu những tên lửa siêu thanh đối không, có thể được bắn lên từ đất, nước và dưới nước. Ấn Độ hợp tác với Nga để sản xuất hệ thống vũ khí này và Nga sẽ không phản đối nếu Ấn Độ tham gia vào một thỏa thuận thương mại với Việt Nam về vấn đề này
[4].

Các vấn đề thảo luận khác bao gồm dự án đào tạo phi công Việt Nam lái Su 30 đã bị trì hoãn trước đây. Yêu cầu đào tạo phi công lái máy bay chiến đấu Sukhoi do Nga sản xuất của Hà Nội đã bị treo lại do hạn chế về tài chính và các vấn đề hậu cần. Gần đây, Việt Nam đã mua 36 máy bay chiến đấu Su-30MK2 từ Nga. Do Ấn Độ nắm rất vững chuyên môn về loại máy bay chiến đấu này, chỉ sau Nga, và hiện đang điều hành một hạm đội Su-MKIs lớn - một biến thể do sản xuất tại Ấn Độ, nên phía Việt Nam đã yêu cầu Ấn Độ đào tạo phi công cho mình. Theo dự kiến, các cuộc đàm phán của Đại tướng Ngô Xuân Lịch với Bộ trưởng Parrikar đã bàn về vấn đề này. Cuối cùng, hai bên đã đạt được thỏa thuận huấn luyện phi công máy bay Sukhoi-30 của Việt Nam vào ngày 05/12/2016.

Mặc dù cả Ấn Độ và Việt Nam đều điều khiển các máy bay phản lực Nga Su-30, nhưng mẫu máy bay của hai nước khác nhau về cấu hình. Ấn Độ điều khiển trên 200 máy bay chiến đấu Su-30 MK1 và có chuyên môn sâu về loại máy bay này. Một bản ghi nhớ về việc gìn giữ hòa bình và trao đổi các đoàn đại biểu đã được ký kết. Bộ trưởng Parrikar đưa ra đề xuất “sự hợp tác của Ấn Độ trong vai trò là một đối tác đáng tin cậy về chuyển giao công nghệ và xây dựng một ngành công nghiệp quốc phòng bản địa”. Hai Bộ trưởng quốc phòng cũng đã thảo luận về tình hình khu vực và ghi nhận lợi ích chung của đôi bên. Bên cạnh việc đào tạo phi công, chương trình hợp tác giữa lực lượng không quân hai nước còn bao gồm trao đổi chuyên gia, sửa chữa và bảo trì. Tiếp theo thỏa thuận về đào tạo phi công, từ đầu năm 2017, phi công Việt Nam bắt đầu tới Ấn Độ để được huấn luyện cơ bản và nâng cao về lái máy bay Sukhois của Không quân Ấn Độ
[5].

Ấn Độ đã công bố hai dòng tín dụng - 100 triệu USD và 500 triệu USD - cho mua thiết bị quốc phòng. Ấn Độ cũng đã cung cấp 50 suất học bổng cho nhân viên quốc phòng Việt Nam theo chương trình Hợp tác kinh tế và kỹ thuật Ấn Độ. Theo quan hệ đối tác chiến lược, Ấn Độ đã đào tạo 550 thủy thủ tàu ngầm cho Việt Nam để vận hành 9 tàu ngầm tấn công Kilo, chạy bằng điện và dầu diesel, do Nga mới chế tạo trong ba năm qua. Việt Nam bắt đầu giới thiệu và vận hành tàu ngầm lớp Kilo từ năm 2014. Ấn Độ đã sử dụng một số tàu ngầm lớp Kilo. Trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, Tướng Ngô Xuân Lịch đã tìm cách nhân rộng thành công sự hợp tác giữa hải quân, quân đội và không quân hai nước. Là một đối tác chiến lược, Ấn Độ rất cởi mởi trước các ý tưởng của Việt Nam.

Tiếp theo sau thỏa thuận này, Thư ký Quốc phòng của hai nước họp vào đầu năm 2017 để xác định các dự án và thiết bị quân sự trong khuôn khổ dòng tín dụng quốc phòng 500 triệu USD do Thủ tướng N. Modi công bố trong chuyến thăm Việt Nam tháng 9/2016.

Ngay khi Ấn Độ đang chuẩn bị thảm đỏ chào đón tướng Ngô Xuân Lịch ngày 3/12/2016 nhằm tiếp tục tăng cường hợp tác quân sự song phương, tiếp nối việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược lên mức độ toàn diện, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ, ông Tôn Sinh Thành, được sự cho phép của Hải quân Ấn Độ, đã đến thăm tàu sân bay nội địa (Indigenous Aircraft Carrier (IAC)) đang được đóng bởi Công ty Đóng tàu Cochin, với mức độ tin cậy cao mà hai nước chia sẻ về các vấn đề quốc phòng. Có khả năng Việt Nam sẽ lựa chọn Ấn Độ đóng tàu sân bay trong tương lai.

Một chuyến thăm quan trọng khác từ phía Việt Nam là chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân từ ngày 8-11/12/2016. Bà và người đồng cấp Ấn Độ, bà Smt. Sumitra Mahajan, ký một bản ghi nhớ, trong đó mở rộng giao lưu các đoàn đại biểu Quốc hội hai nước và chương trình đào tạo nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hiện giữa hai nước. Có thể nhắc lại rằng, bà Smt. Mahajan đã từng dẫn đầu một phái đoàn gồm 8 thành viên đại biểu Quốc hội Ấn Độ tới Hà Nội để tham gia Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) lần thứ 132. Trong hội nghị này, bằng hình thức bỏ phiếu kín, hai nghị sĩ từ Ấn Độ lần lượt được nhất trí bầu vào Ủy ban Thường vụ thứ nhất của IPU về các vấn đề hòa bình và an ninh quốc tế và Ủy ban Thường vụ thứ hai của IPU về vấn đề phát triển bền vững, tài chính, thương mại. Nhiệm kỳ bốn năm của hai nghị sĩ Ấn Độ thuộc các Uỷ ban này kết thúc vào năm 2018. Các chuyến thăm song phương này không chỉ đóng góp cho sự hiểu biết lẫn nhau mà còn giúp xác định những đường nét mới trong quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Kinh tế và Chính sách Hành động phía Đông
Với quan điểm khôi phục năng lực hợp tác kinh tế với các nước ASEAN và một châu Á rộng lớn hơn, Chính phủ Modi đã mở rộng chính sách "Hướng Đông" trước đây và đưa ra một chính sách mới với tên gọi “Hành động phía Đông”. Trong chiến lược này của Ấn Độ, Việt Nam có một vị trí đặc biệt
[6]. Ấn Độ là một trong mười đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Sau khi nâng cấp mối quan hệ cấp đối tác chiến lược lên mức toàn diện, thành phần kinh tế của mối quan hệ hiện nay cũng được coi là một lực đẩy chiến lược. Đặc biệt, các lĩnh vực tạo lực đẩy chính dự kiến sẽ được mở rộng là hàng may mặc và dệt may, dược phẩm, hàng nông sản, giầy da và kỹ thuật.

Cả hai nước đã đồng ý khai thác các cơ hội kinh tế đang phát triển trong khu vực. Hai nước đều tăng cường tham gia thương mại song phương nhằm bổ sung cho mục tiêu chiến lược và, do đó, hai bên đồng ý mở rộng cơ hội thương mại và kinh doanh. Thương mại song phương hiện ở mức 7,83 tỷ USD và cả hai bên cam kết đạt được mục tiêu 15 tỷ USD vào năm 2020. Theo quan điểm này, các lĩnh vực mới và các khu vực lực đẩy đã được xác định để thúc đẩy tăng cường đầu tư. Về thương mại, hai nước đang làm việc để tăng khối lượng thương mại song phương từ khoảng 7-8 tỷ USD lên tới mục tiêu 15 tỷ USD vào năm 2020.

Đầu tư của Ấn Độ tại Việt Nam cũng đang gia tăng, các công ty Ấn Độ đã ký 23 dự án mới với tổng số vốn lên đến 139 triệu USD trong các lĩnh vực như chế biến thực phẩm, phân bón, linh kiện ô tô, phụ kiện dệt may. Hợp tác trong lĩnh vực công nghệ thông tin cũng rất hứa hẹn. Đầu tư của Ấn Độ tại Việt Nam cũng đang gia tăng, các công ty Ấn Độ đã ký 23 dự án mới với tổng số vốn lên đến 139 triệu USD trong các lĩnh vực như chế biến thực phẩm, phân bón, linh kiện ô tô, phụ kiện dệt may. Hợp tác trong lĩnh vực công nghệ thông tin cũng rất hứa hẹn. Hiện tại, đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam đạt khoảng 1,1 tỷ USD và dự kiến ​​sẽ được tăng cường đáng kể khi các dự án cơ sở hạ tầng lớn như dự án nhiệt điện Long Phú-II 1.320 MW của Tata với chi phí ước tính 2,2 tỷ USD được hoàn thành. Tương tự, Ấn Độ sẵn sàng chào đón đầu tư từ Việt Nam bằng cách tạo ra một môi trường hấp dẫn và thân thiện với nhà đầu tư. Đặc biệt, Ấn Độ sẽ rất vui khi mời các doanh nhân Việt Nam đầu tư vào khu vực Đông Bắc, một khu vực trọng tâm trong Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ. Ấn Độ đã cam kết tăng cường kết nối giữa khu vực Đông Bắc và ASEAN và đã phân bổ hạn mức tín dụng 1 tỷ USD cho kết nối vật lý và kỹ thuật số Ấn Độ - ASEAN để nhằm đạt được mục đích này
[7].

Bên cạnh việc tìm kiếm sự thuận lợi cho các dự án và đầu tư Ấn Độ đang diễn ra tại Việt Nam, N. Modi cũng mời các công ty Việt Nam tận dụng các chương trình và kế hoạch hàng đầu của Chính phủ Ấn Độ. N. Modi nói với người đồng cấp Việt Nam: “Khi Việt Nam tìm cách trao quyền và làm giàu cho người dân, hiện đại hóa nông nghiệp; khuyến khích tinh thần kinh doanh và đổi mới; tăng cường cơ sở khoa học và công nghệ; tạo ra năng lực thể chế mới để phát triển kinh tế nhanh hơn, thì Ấn Độ và 1,25 tỷ người sẵn sàng trở thành đối tác của Việt Nam và là một người bạn của Việt Nam trong hành trình này”. Thỏa thuận khung về hợp tác vũ trụ sẽ cho phép Việt Nam hợp tác với Tổ chức Nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ để đáp ứng các mục tiêu phát triển quốc gia.

Để bồi dưỡng sức mạnh tổng hợp văn hóa, Ấn Độ đã thành lập và mở một Trung tâm Văn hóa Ấn Độ tại Hà Nội. Là đối tác văn hóa, thỏa thuận cũng bao gồm hỗ trợ khảo cổ cho Việt Nam với dự án Ấn Độ tiến hành khảo sát khảo cổ để bắt đầu công tác bảo tồn và phục hồi di tích Chăm tại Mỹ Sơn ở Việt Nam. Nhìn từ góc độ lớn hơn, ASEAN như một nhóm các nước cùng khu vực thể hiện sự đoàn kết và thống nhất, và nhóm này rất quan trọng đối với Ấn Độ trong các liên kết lịch sử, gần gũi về địa lý, quan hệ văn hóa và cùng chia sẻ không gian chiến lược. Ấn Độ coi ASEAN là trụ cột chính trong Chính sách Hướng Đông và Việt Nam là điều phối viên ASEAN - Ấn Độ có thể có vai trò xúc tác trong việc tăng cường quan hệ đối tác Ấn Độ - ASEAN trên tất cả các lĩnh vực.

Trong khi tăng trưởng trong lĩnh vực kinh tế đang tiến triển gia tăng, hợp tác quốc phòng cũng là một trụ cột quan trọng nhất trong quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Các tàu Ấn Độ thường xuyên thực hiện các cuộc viếng thăm hữu nghị tới các cảng của Việt Nam. Lần đầu tiên, một tàu Việt tham gia vào cuộc Đánh giá Hải quân quốc tế (International Fleet Review - IFR) tại Vishakhapatnam, Ấn Độ, vào tháng 2/2016. Mục tiêu của việc hợp tác giữa hải quân hai nước là để duy trì trật tự trên biển và an toàn thương mại hàng hải khỏi các mối đe dọa như cướp biển, khủng bố, v.v.. Nhờ hợp tác với Việt Nam trên biển, Ấn Độ cũng muốn truyền đạt thông điệp đến các nước bạn bè khác của nó mà nó cam kết tiêu chuẩn toàn cầu và thúc đẩy hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm cả việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

Cần có sự kết nối hàng không giữa thủ đô của hai nước - New Delhi và Hà Nội. Mặc dù đã có nhiều cuộc thảo luận về vấn đề này, nhưng chưa có thông tin nào được đưa ra vì tuyến đường này được cho là không khả thi về mặt thương mại. Air India thuộc sở hữu nhà nước đã sẵn sàng và Chính phủ Ấn Độ dường như đang cố gắng bắt đầu kết nối trực tiếp đường hàng không. Chính phủ Ấn Độ đề xuất có thể bắt đầu triển khai kết nối hàng không trực tiếp bằng cách trợ cấp cho các hãng hàng không. Thỏa thuận dịch vụ hàng không được ký kết vào tháng 11 năm 2013 trong chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Ấn Độ. Sau đó Jet Airways bắt đầu mã chia sẻ chuyến bay trực tiếp giữa Thành phố Hồ Chí Minh và Delhi/ Mumbai w.e.f. ngày 5 tháng 11 năm 2014. Liên kết New Delhi và Hà Nội là bước hợp lý tiếp theo. Kể từ năm 2007, hai Ngân hàng Ấn Độ là Bank of India và Indian Overseas Bank đã mở Văn phòng Đại diện tại Việt Nam. Ngân hàng Bank of India đã được cấp giấy phép mở chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, sẽ sớm hoạt động
[8]. Một lần nữa cho thấy, với sự hợp tác sâu rộng giữa hai nước, sự hiện diện của ngân hàng Ấn Độ tại Hà Nội có thể sớm được đón nhận.
Biển Đông và an ninh hàng hải

Biển Đông là một điểm nóng chính ở khu vực châu Á. Đáy biển được cho là có chứa dầu khí và nhiều quốc gia châu Á đều tuyên bố chủ quyền đối với các vùng đặc quyền kinh tế của mình để kiểm soát các nguồn tài nguyên đó. Trong khi đó, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ vùng Biển Đông và đe dọa sử dụng vũ lực để khẳng định chủ quyền trên biển và đất liền. Điều này gây ra tình trạng bất ổn trong khu vực. Trước hành động quyết liệt của Trung Quốc, các quốc gia có chủ quyền có diện tích nhỏ hơn đang tìm cách tăng cường sự chuẩn bị quốc phòng cũng như thu hút sự ủng hộ từ các quốc gia thân thiện với họ. Hợp tác quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam cần được nhìn từ góc độ này.

Không thể bỏ qua tầm quan trọng của việc lên lịch các chuyến thăm của N. Modi đến ba quốc gia châu Á vì Việt Nam là điểm đến đầu tiên trước khi ông đến Trung Quốc vì cả sự khác biệt và giống nhau mà cả Ấn Độ và Việt Nam cùng có với Trung Quốc. Bên cạnh những khác biệt về các vấn đề lãnh thổ, cả Ấn Độ và Việt Nam đều lo ngại việc Trung Quốc không tôn trọng trật tự quốc tế dựa trên luật lệ đang góp phần làm gia tăng căng thẳng trong khu vực.
Việt Nam ca ngợi nguyên tắc của Ấn Độ về vấn đề tranh chấp Biển Đông và tìm kiếm sự tham gia của Ấn Độ vào các lĩnh vực dầu khí. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng bày tỏ, Việt Nam mong muốn tăng cường phối hợp trong các diễn đàn khu vực và quốc tế và nhắc lại rằng, Ấn Độ luôn luôn là bạn với Việt Nam trong suốt lịch sử và rất hiếm khi tìm thấy mối quan hệ kéo dài 2000 năm như vậy.

Không thể đánh giá thấp ý nghĩa chiến lược của Biển Đông với khối lượng dòng chảy thương mại lớn qua tuyến đường biển quan trọng này. Tuyến đường biển sầm uất này cũng có tầm quan trọng đối với Ấn Độ khi 50% giao dịch thương mại đi qua vùng biển này. Trung Quốc có liên quan đến tranh chấp với Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei về quyền sở hữu lãnh thổ ở Biển Đông. Phán quyết của Tòa án Quốc tế ngày 12 tháng 7 năm 2016 đã bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc về việc có bất kỳ cơ sở lịch sử nào.

Ấn Độ Dương bây giờ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và vấn đề an ninh hàng hải cũng trở nên quan trọng đối với nhiều quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hòa bình và ổn định ở Ấn Độ Dương rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nhiều nước châu Á. Cụ thể, hành vi của Trung Quốc ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương có tác động trực tiếp đến địa chính trị khu vực. Do đó, nhiều quốc gia trong khu vực này đang điều chỉnh chính sách đối ngoại chiến lược của mình để đối phó với các tình huống mới. Trong viễn cảnh này, hợp tác quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong quan hệ đối tác chiến lược và, do đó, biện minh cho đặc tính toàn diện của nó.

Theo quan điểm của chính sách Hành động phía Đông của Ấn Độ, trong đó tăng cường tham gia kinh tế với ASEAN là phần lớn nhất, thì lợi ích của Ấn Độ ở đó cũng cao không kém. Mặc dù Ấn Độ không phải là nước tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông, nhưng lợi ích kinh tế của nước này cũng cần được bảo vệ trước những tổn thất có thể có. Ngoài lợi ích kinh tế trực tiếp hạn chế, Ấn Độ không thể bỏ qua thực tế rằng, Biển Đông là tuyến đường thủy quan trọng đối với buôn bán thương mại không chỉ với các nước ASEAN mà còn với cả các nước Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, bao gồm cả Trung Quốc.

Ấn Độ có chung quan điểm với các nước đối tác châu Á. Về nguyên tắc, Ấn Độ đề cao tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền tự do hàng hải trên biển, tự do hàng không và tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp hòa bình theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Trong một số tuyên bố chung mà Ấn Độ đã ban hành với các nước như Việt Nam, Nhật Bản và Hoa Kỳ, Ấn Độ đã nhắc lại quan điểm này, trích dẫn kinh nghiệm của mình rằng, họ chấp nhận phán quyết của tòa án liên quan đến ranh giới trên biển với Bangladesh và, do đó, mong muốn Trung Quốc thể hiện điều tương tự liên quan đến bản án ngày 12 tháng 7 năm 2016 về vấn đề Biển Đông. Ấn Độ tin tưởng mạnh mẽ rằng, các quốc gia nên giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình mà không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực và tự kiềm chế các hoạt động có thể làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định.

Thật ra, không chỉ riêng Việt Nam mà các nước thành viên ASEAN đều nhìn vào Ấn Độ với vai trò lớn hơn đối với hòa bình và ổn định trong khu vực.
Vì các mối liên kết lịch sử có nguồn gốc từ Phật giáo, Ấn Độ và Việt Nam đã tìm thấy điểm chung về lợi ích, đó là lý do tại sao quan hệ song phương đã được mở rộng trong tất cả các lĩnh vực - kinh tế, an ninh/quốc phòng và thậm chí cả văn hóa,…

Bên cạnh những liên kết về mặt dân sự vốn có, cần nhớ rằng, quan hệ nồng ấm Ấn Độ - Việt Nam đã có từ thời Hồ Chí Minh và Jawaharlal Nehru. Sự hội tụ lợi ích chiến lược trong thời đại hiện nay khiến Ấn Độ trở thành đối tác luôn sẵn sàng ủng hộ Việt Nam.

Kết luận
Với sự nâng cao quan hệ đối tác chiến lược hiện tại lên cấp độ toàn diện, các mối quan hệ an ninh và quốc phòng và các cuộc đàm phán về bán vũ khí - hệ thống tên lửa BrahMos và Akash - đã bắt đầu đi vào chiều sâu và có cường độ lớn hơn. Sự thể chế hóa này có thể là mới được hoàn thiện gần đây trong hành trình của các mối quan hệ song phương, nhưng trên thực tế mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam không phải là gần đây mà đã kéo dài hai thiên niên kỷ giữa hai nền văn minh. Ảnh hưởng của Phật giáo và tàn dư của nền văn minh Chăm Hindu chính là minh chứng cho mối quan hệ đã được trải nghiệm từ lâu này, và mối quan hệ này đã được phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian gần đây. Chuyến thăm của Thủ tướng N. Modi vào tháng 9 năm 2016 và chuyến thăm của Tổng thống R. Kovind hồi vào tháng 11 năm 2018 tới Việt Nam cũng như các chuyến thăm cấp cao khác của các nhà lãnh đạo chính trị hàng đầu góp phần vào bài tường thuật này. Không thể có ý kiến ​​khác khi Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng mô tả mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trong sáng như một bầu trời không một gợn mây.    

Do đó, bên cạnh Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ, việc tăng cường quan hệ với Việt Nam sẽ góp phần thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực. Thật vậy, Việt Nam có thể là một người đóng vai trò quan trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu của ASEAN và điều này bổ sung cho chiến lược Ấn Độ trong Chính sách Hướng Đông. Hơn nữa, thông qua Việt Nam, Ấn Độ có thể tìm kiếm lợi ích quốc gia cốt lõi của mình và thể hiện triển vọng, tầm nhìn chiến lược của mình ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Cả hai quốc gia đã thể hiện lợi ích ngang nhau trong việc giải quyết các mối quan tâm của nhau. Về phần mình, Ấn Độ luôn coi Hà Nội là một trụ cột quan trọng trong chính sách Hướng Đông và Hành động phía Đông của mình. Cả hai đều cam kết đưa mối quan hệ này lên một quỹ đạo cao hơn.

Chính sách Hành động phía Đông nhấn mạnh, Ấn Độ là một bên có trách nhiệm trong khu vực và Việt Nam là mỏ neo quan trọng nhất trong chiến lược này. Trong viễn cảnh này, hai chuyến thăm của hai nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam tới Ấn Độ sau chuyến thăm của Thủ tướng N. Modi đến Hà Nội rất có ý nghĩa, giúp xác định các đường nét mới trong quan hệ đối tác chiến lược toàn diện song phương và tiếp tục khai thác các tiềm năng hợp tác chiến lược, quốc phòng và thương mại. Có thể lưu ý rằng, không chỉ Ấn Độ ủng hộ nguyên tắc pháp luật trong khu vực Biển Đông để ổn định khu vực, mà Nhật Bản cũng cam kết tăng cường khả năng an ninh hàng hải của các nước thành viên ASEAN. Vì vậy, có một phạm vi rộng lớn để Ấn Độ, Việt Nam và Nhật Bản kết hợp với nhau trong khuôn khổ ba bên để cùng nhau thúc đẩy hợp tác chiến lược, quốc phòng và thương mại vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và trên thế giới nói chung.

Cùng với câu chuyện lịch sử bổ sung cho các ưu tiên hiện tại trong chiến lược tham gia của Ấn Độ, Ấn Độ đánh giá Việt Nam như một người bạn cũ, một thành viên của nhóm ASEAN và là trụ cột rất quan trọng trong Chính sách Hành động phía Đông của mình. Là điều phối viên ASEAN trước đây cho Ấn Độ, Việt Nam cam kết tăng cường mối quan hệ song phương với Ấn Độ trong khuôn khổ Hợp tác Ấn Độ - ASEAN và Mekong - Ganga. Năm 2017 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi Ấn Độ và Việt Nam kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm hợp tác chiến lược. Cả hai đã lên kế hoạch cho các sự kiện khác nhau trong suốt cả năm để kỷ niệm các sự kiện. Tiên lượng cho tương lai trong mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam có vẻ rất hứa hẹn. Hồ Chí Minh trong giấc ngủ vĩnh hằng của Người sẽ hạnh phúc bởi quan hệ Ấn Độ - Việt Nam đã phát triển qua nhiều năm như Người mong đợi./.

[1] Thoả thuận chung giữa Ấn Độ và Việt Nam trong chuyến thăm của Thủ tướng chính phủ Việt Nam, 3/9/2016, http://www.mea.gov.in/bilateral-documents.htm?dtl/27362/Joint+Statement+between+India+and+Vietnam+during+the+visit+of+Prime+Minister+to+Vietnam
[2] Tác giả đã có vinh dự được thăm lăng Bác vào tháng 3/2017, và tháng 8/2018 để bày tỏ lòng tôn kính với chủ tịch Hồ Chí Minh. Bảo tàng Hồ Chí Minh gần lăng và nhà sàn Bác Hồ là nơi Bác lựa chọn, Người từ chối sống trong Phủ Chủ Tịch đã nói lên đức tính giản dị của Người. Điều này giống cuộc đời của Mahatma Gandhi của Ấn Độ.
[3] “Enhancing Vietnam-India Defence Policy, Hanoi Times, 6 March 2017, http://hanoitimes.com.vn/news/viet-nam/2017/03/81e0af80/enhancing-vietnam-india-defence-policy/
[4] Xem bài báo: Rajaram Panda, “Modi’s Visit to Vietnam: A New Push to India’s Act East Policy”, Mainstream, vol. LIV, No. 38, 10 September 2016, pp. 31-35.
[5] Tham khảo: Rajat Pandit, “Taking Aim At China, India To Train Vietnamese Fighter Pilots From Next Year”, India Times, 6 December 2017, http://www.indiatimes.com/news/india/taking-aim-at-china-india-to-train-vietnamese-fighter-pilots-from-next-year-266819.html
[6] Tham khảo: Rajaram Panda, “From Look East to Act East”, in Bibek Debroy, Anirban Ganguly and Kishore Desai, eds., Making of New India: Transformation Under Modi Government, (New Delhi: Wisdom Tree, 2018), pp. 495-506.
[7] Tham khảo:
https://www.mea.gov.in/Portal/ForeignRelation/Vietnam_Dec_2013.pdf. Also see, Rajaram Panda, “India Japan Partner to Develop Northeast India: Connectivity and Infrastructure in Focus”, Journal of Indian Ocean Studies, 2019, forthcoming.
[8] https://www.mea.gov.in/Portal/ForeignRelation/Vietnam_13_01_2016.pdf

Tác giả: Giáo sư, Tiến sĩ Rajaram Panda, là một chuyên gia Ấn Độ hàng đầu về Nhật Bản và Nghiên cứu Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Ông từng là giáo sư thuộc Hội đồng Quan hệ văn hóa Ấn Độ, Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Reitaku, Nhật Bản, và là thành viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu & Phân tích quốc phòng, New Delhi, hiện là Nghiên cứu viên của Lok Sabha, Quốc hội Ấn Độ. Ông đi du lịch nhiều nơi trong khu vực và đã viết nhiều về vấn đề Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương hiện tại. Có thể liên hệ với ông theo hòm thư: rajaram.panda@gmail.com. Các quan điểm thể hiện là của chính tác giả và không đại diện cho quan điểm của Chính phủ Ấn Độ.

 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Bình luận của bạn