cis_banner_final_en.png
Việt nam - Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân Ấn Độ

18/05/2020


Việt nam - Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân Ấn Độ

Trong cuộc đời làm ngoại giao 38 năm, đã từng công tác ở nhiều nước, nhưng chưa ở đâu tôi thấy người dân có tình cảm đặc biệt với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam như Ấn Độ.


Trong cuộc đời làm ngoại giao 38 năm, đã từng công tác ở nhiều nước, nhưng chưa ở đâu tôi thấy người dân có tình cảm đặc biệt với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam như Ấn Độ. Điều này được kiểm nghiệm qua một thời gian dài 2 nhiệm kỳ công tác của tôi tại quốc gia này. Nhiệm kỳ đầu từ năm 2003 đến 2007 với tư cách Tham tán Công sứ, Phó Đại sứ. Nhiệm kỳ thứ hai từ năm 2014 đến 2018, tôi trở lại Ấn Độ với tư cách Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lần này, tôi ngỡ ngàng trước những đổi thay tích cực của Ấn Độ, và cũng ngỡ ngàng không kém, khi nhận ra rằng, người Ấn Độ vẫn dành trọn tình cảm thủy chung cho đất nước Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Để bắt đầu, tôi xin kể câu chuyện về chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đến New Dehli cuối năm 2016. Lịch trình chuyến thăm có chương trình Chủ tịch Quốc hội và đoàn Việt Nam tham dự một cuộc tranh luận tại Hạ viện. Khi cả đoàn vào hội trường và lặng lẽ ngồi ở hàng ghế phía sau, các hạ nghị sĩ Ấn Độ đang tranh luận rất hăng. Đấu khẩu diễn ra gay gắt, hội trường rất ồn ào, nhiều người thậm chí còn gào thét, hoặc đập tay xuống bàn rầm rầm. Khi Chủ tịch Quốc hội Ấn Độ giới thiệu đoàn Việt Nam tới thăm Hạ viện, cả hội trường lập tức im phăng phắc. Sau lời phát biểu chào mừng đoàn của bà Chủ tịch, cả hội trường bỗng ngập tràn tiếng vỗ tay vang dội. Trong hội trường, bầu không khí dịu xuống, không còn chút dấu hiệu nào về sự căng thẳng, bất đồng giữa các hạ nghị sĩ.

Mọi người trong đoàn ta đều tỏ ra rất ngạc nhiên về sự thay đổi đột ngột này. Song với tôi, chuyện này không có gì là lạ, bởi điều mà tôi sẽ lý giải ngay sau đây.

Ấn Độ là một đất nước đa dạng có thể nói vào bậc nhất thế giới với hơn 700 dân tộc và cũng khoảng tương đương con số đó ngôn ngữ khác nhau, trong đó, 20 thứ tiếng được công nhận là ngôn ngữ chính thức. Ấn Độ còn là cái nôi của nhiều tôn giáo lớn trên thế giới, riêng đạo Hindu là một tôn giao đa thần, tôn trọng sự đa dạng về tin ngưỡng; Ấn Độ có khoảng 50 đảng chính trị thường xuyên đấu tranh rất sôi động trên chính  trường, trước hết ở Quốc hội. Vậy điều gì đã gắn kết người Ấn Độ với sự đa dạng ấy lại với nhau?

Qua thời gian quan sát và nghiên cứu, tôi dần dần nhận thức được rằng chính sự bao dung trong ý thức cùng với sự nghiêm minh của hệ thống pháp luật và tòa án tạo thành cái neo, giữ cho xã hội Ấn Độ được ổn định. Qua quá trình trải nghiệm, tiếp xúc từ người dân tới lãnh đạo thuộc các tầng lớp đảng phái khác nhau, tôi cũng nhận thấy  rằng với người Ấn Độ, Việt Nam Hồ Chí Minh được xem như biểu tượng của độc lập tự do, của sự kiên cường, bất khuất. Việt Nam - Hồ Chí Minh luôn là khát vọng, là nguồn cỗ vũ đối với mọi tầng lớp nhân dân đất nước này một cách rất tự nhiên. Người Ấn Độ có thể khác biệt nhau về quan điểm chính trị, nhưng tất cả đếu thống nhất với nhau về thiện cảm và tình hữu nghị với Việt Nam. Cảm nhận của tôi trong  suốt thời gian 7 năm rưỡi sống và công tác ở Ấn Độ là tình cảm trong sáng mà nhân dân và lãnh đạo Ấn Độ dành cho Việt Nam nói chung và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng không những không hề phai nhạt, trái lại, ngày càng đậm đà, sâu sắc hơn. Tuy cảm nhận là như vậy, song tôi vẫn muốn lý giải rõ điều này.

Nhìn lại lịch sử, Ấn Độ luôn luôn là người bạn thủy chung, son sắt, ủng hộ Việt Nam chống thực dân, đế quốc, chống bá quyền, giúp đỡ Việt nam cả trong đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng đất  nước.

Việt Nam giành được độc lập tháng 9 năm 1945. Ấn Độ giành được độc lập chỉ 2 năm sau đó, khi Việt Nam đã bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại hòng đô hộ nước ta một lần nữa. Chính sách đối ngoại của Ấn Độ ngay từ những năm đầu độc lập đã thể hiện rõ tinh thần chống thực dân, đế quốc, chống phân biệt chủng tộc. Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ Jawarhalal Nehru tuyên bố: “Chính sách của Ấn Độ là chống chủ nghĩa đế quốc ở bất cứ nơi đâu”. Trên tinh thần đó, Ấn Độ đã thể hiện quan điểm ủng hộ Chính phủ Việt Minh tuy chưa công nhận chính thức bên nào ở Đông Dương. Tại “Hội nghị quan hệ châu Á” năm 1947, Ấn Độ đã tỏ rõ vai trò nước lớn, quan tâm tới khu vực Đông Nam Á. Thủ tướng Nehru kêu gọi chấm dứt chiến sự ở Đông Dương, do lo ngại ảnh hưởng tới nền độc lập của các nước trong châu lục. Để có vai trò, Ấn Độ chủ trương quốc tế hóa cuộc xung đột ở Đông Dương, hoan nghênh Hiệp định Geneve năm 1954, coi đây là thắng lợi trước ý đồ phá hoại đàm phán của Mỹ. Với nỗ lực của mình, Ấn Độ được bầu làm Chủ tịch Ủy ban giám sát thực thi Hiệp định Geneve về Đông Dương. Nhờ đó, Thủ tướng J. Nehru đã có chuyến thăm miền Bắc Việt Nam chỉ vài ngày sau khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng ngày 10/10/1954. Mặc dù 2 tháng sau, cũng với cương vị vừa nêu, Thủ tướng Ấn Độ J. Nehru thăm miền Nam Việt Nam, song chuyến thăm này chỉ làm cho quan hệ của hai bên xấu đi, trong khi quan hệ giữa Ấn Độ với Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày càng tốt lên. Minh chứng là chuyến thăm đáp lễ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Ấn Độ năm 1958 và ngay sau đó là chuyến thăm Việt Nam năm 1959 của Tổng thống Ấn Độ Rajendera Prasad.

Trong 10 ngày ở Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thăm 3 thành phố lớn nhất của Ấn Độ: Cố đô Kolkata, Thủ đô New Delhi và Thành phố Bombay. Người đã chiếm trọn trái tim của nhân dân quốc gia lớn thứ hai châu Á bằng sự ngưỡng mộ chân thành của Người đối với nền văn minh sông Hằng, thực sự coi trọng vị thế nước lớn của Ấn Độ và những cử chỉ giản dị, thân tình mà vĩ đại dành cho bất cứ ai tiếp xúc với Người.

Chuyến thăm đã thắt chặt hơn mối quan hệ cá nhân giữa Hồ Chủ tịch với Thủ tướng Nehru. Trước đó, giữa hai vị lãnh đạo đã có mối quan hệ gắn bó. Năm 1943, khi Jawaharlal Nehru còn là tù nhân của chế độ thực dân Anh, và Chủ tịch Hồ Chí Minh đang bị giam giữ trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Người đã gửi những vần thơ chia xẻ, cảm thông, ngưỡng mộ và đầy nhiệt huyết đến Jawaharlal Nehru:
“Khi tôi phấn đấu, anh hoạt động,
Anh phải vào lao, tôi ở tù;
Muôn dặm xa vời chưa gặp mặt,
Không lời mà vẫn cảm thông nhau
Đôi ta cảnh ngộ vốn không khác,
Cảnh ngộ giờ đây khác bội phần;
Tôi, chốn lao tù người bạn hữu,
Anh, trong gông xích bọn cứu nhân”
[1].

Chuyến thăm Ấn Độ năm 1958 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử như một sự kiện trọng đại, ghi đậm dấu ấn trong quan hệ hai nước, và có thể nói là đã đặt nền móng cho sự tin cậy và quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai quốc gia. Mối đồng cảm giao hòa giữa hai vị lãnh tụ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân tạo sức mạnh to lớn, gắn kết hai dân tộc Việt Nam và Ấn Độ.

Cũng kể từ đó, đối với nhân dân Ấn Độ, Việt Nam - Hồ Chí Minh là hai cái tên gắn liền với nhau, và trở thành biểu tượng của tinh thần bất khuất đấu tranh chống đế quốc. Mối thiện cảm với sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của Việt Nam đã ảnh hưởng không nhỏ tới thái độ ủng hộ miền Bắc rõ rệt của Chính phủ Ấn Độ khi thực thi vai trò Chủ tịch Ủy ban giám sát thực thi Hiệp định Geneve về Đông Dương.

Phải chăng thiện cảm đối với Việt Nam và Hồ Chí Minh đã khiến Ấn Độ có thái độ hiểu biết, bao dung, ngay cả khi Việt Nam ở vào thế khó xử, không thể công khai tuyên bố ủng hộ Ấn Độ trong cuộc xung đột biên giới Ấn Độ - Trung Quốc năm 1962 (do Việt Nam cần sự ủng hộ của Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước).

Tình cảm và sự ủng hộ của nhân dân Ấn Độ đối với Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nguyên vẹn và mạnh mẽ hơn, khi Mỹ đưa quân tiến hành cuộc chiến tranh đặc biệt ở miền Nam, leo thang ném bom miền Bắc. Các cuộc biểu tình chống Mỹ khởi đầu từ Kolkatta lan sang các thành phố khác, khắp nơi hô vang khẩu hiệu Amar Nam Tomar Nam, Vietnam Vietnam, có nghĩa là “Tên chúng ta tên các bạn, Việt Nam, Việt Nam”. Ngày 19/5/1970, trước cổng lãnh sự quán Mỹ ở  phố Harrington thuộc trung tâm Kolkota, những người biểu tình Ấn Độ đã hô vang khẩu hiệu “Nắm tay Việt Nam”, xoá bỏ tên cũ của con phố này khỏi bản đồ thành phố và đặt cho nó tên mới “Hồ Chí Minh Sarani”. Cái tên mới này sau đó được Chính quyền thành phố chính thức công nhận. Sau này, một tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt ở quảng trường gần con phố mang tên Người.

Không chỉ nhân dân mà cả Chính phủ Ấn Độ cũng ủng hộ Việt Nam chống xâm lược Mỹ. Với tư cách Chủ tịch Ủy ban Giám sát thực hiện Hiệp định Geneve, Ấn Độ đã tỏ quan ngại trước việc Mỹ ném bom miền Bắc năm 1965. Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi năm 1966 đã lên tiếng kêu gọi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc ngay lập tức và đề nghị giải quyết cuộc xung đột tại Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp định Geneve. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần năm 1969 là một cú sốc đối với Thủ tướng Indira Gandhi. Trong điện chia buồn, bà đã viết: “Hồ Chí Minh  không chỉ là một người yêu hòa bình mà còn là một người đặc biệt nhã nhặn và hữu nghị, rất giản dị và khiêm tốn. Là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người không tự giam mình trong tháp ngà. Người chủ yếu là người của công chúng, một nhà lãnh đạo biết kết hợp sự rộng lượng hào phóng tột bậc hiếm có với sự kiên định cứng cỏi nhất. Với bất kỳ chuẩn mực nào, Hồ Chí Minh là con người nổi bật nhất trong thời đại của chúng ta”
[2]. Cùng lúc, Tờ báo Dân chủ nhân dân của Ấn Độ số ra ngày 14/9/1969, đăng một bài viết dài về thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kết luận: “Toàn thế giới phải ngả mũ trước nhân dân Việt Nam, những người đã bằng cả máu  và đau thương của mình để viết lên một trang sử hào hùng nhất trong lịch sử các cuộc đấu tranh giải phóng  dân tộc. Tạo nên cơn chấn động này là do dân tộc Việt Nam được tôi luyện bằng quyết tâm giành tự do, bằng sự dẫn dắt của phong trào cách mạnh, mà người đứng đầu là nhà mác xít, Lêninnit kiệt xuất - Chủ tịch Hồ Chí Minh”[3].

Chính tình cảm đặc biệt đối với Hồ Chí Minh và Việt Nam đã tiếp thêm động lực cho Chính phủ và nhân dân Ấn Độ ủng hộ ngày càng mạnh mẽ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống xâm lược Mỹ. Ngày 2/10/1970, tại Liên hợp quốc, Chính phủ Ấn Độ đã lên tiếng đòi Mỹ phải đưa ra thời hạn rút quân khỏi Việt Nam. Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Swaran Singh tại Hạ viện ngày 26/4/1972, đã tuyên bố: “Bangladesh được giải phóng là một sự kiện anh hùng và vĩ đại. Tương tự, sự nghiệp giải phóng của Việt Nam hiện là một sự nghiệp không kém phần anh hùng và vĩ đại”. Cũng trong năm 1972, Ấn Độ đã quyết định nâng quan hệ lãnh sự với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa  lên quan hệ ngoại giao đầy đủ ở cấp Đại sứ, trong khi vẫn chỉ giữ mức quan hệ Tổng Lãnh sự với chính quyền miền Nam Việt Nam. Sự phân biệt này của Ấn Độ đã khiến chính quyền Sài Gòn phản ứng và quyết định không tiếp tục cấp thị thực cho phái đoàn của Ấn Độ làm việc tại Ủy ban Giám sát thực thi Hiệp định Geneve về Đông Dương đặt tại Sài Gòn. Ấn Độ cũng hoan nghênh Hiệp định Paris năm 1973 về lập lại hòa bình và việc Mỹ rút quân khỏi Đông Dương.

Cuối những năm 1970, dù Ấn Độ đã cải thiện quan hệ với Trung Quốc, nhưng khi Trung Quốc tấn công xâm lược Việt Nam tháng 2 năm 1979, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Vajpayee lúc đó đang ở thăm Trung Quốc, đã không ngần ngại cắt ngắn chuyến thăm để tỏ thái độ phản đối. Ngày 22/2/1979, phát biểu trước Quốc hội, Bộ trưởng Ngoại giao Vajpayee đã mạnh mẽ lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam và đòi Trung Quốc phải rút ngay khỏi Việt Nam.

Ấn Độ cũng lên án chế độ diệt chủng Polpot và là nước duy nhất bên ngoài phe xã hội chủ nghĩa công nhận Chính phủ Heng Samrin ngày 7/7/1980. Không chỉ đứng về phía Việt Nam trong vấn đề Campuchia, Ấn Độ còn viện trợ lương thực cho Việt Nam khi Việt Nam bị Mỹ, phương Tây và Trung Quốc bao vây cấm vận. Sự giúp đỡ về vật chất và ủng hộ về ngoại giao đối với Việt Nam thời kỳ này là cực kỳ có ý nghĩa và luôn được chúng ta trân trọng, như câu phương ngôn của dân tộc Việt “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Đó cũng là một minh chứng cho chiều sâu tình cảm và mối quan hệ thủy chung của Ấn Độ đối với Việt Nam.

Kể từ những năm 1990 khi Ấn Độ bắt đầu cải cách, Việt Nam cũng tiến hành “Đổi mới”, quan hệ hai nước bước sang giai đoạn mới. Ấn Độ là một trong nước nước đầu tư sớm nhất vào Việt Nam với dự án khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở Biển Đông khởi đầu từ năm 1988. Thương mại hai nước không ngừng được mở rộng và tăng cường, khởi đầu từ vài trăm triệu USD/năm, đến nay đã đạt trên 10 tỷ USD năm 2018.

Trước những diễn biến mới phức tạp trong khu vực, quan hệ hai nước ngày càng được củng cố, tăng cường và thắt chặt. Hai bên thiết lập quan hệ đối tác chiến lược năm 2007 và nâng cấp lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện năm 2016. Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ. Các nhà lãnh đạo Ấn Độ nhiều lần khẳng định Việt Nam là trụ cột quan trọng trong Chính sách Hành động phía Đông của Ấn Độ.

Cơ sở cho mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hiện nay giữa hai nước trước hết là sự song trùng về lợi ích chiến lược do có chung những cơ hội và thách thức, kể cả thách thức về an ninh. Cơ sở đó càng bền chặt hơn bởi tình cảm hữu nghị và sự hiểu biết, cảm thông  chia xẻ đặc biệt vào những lúc khó khăn giữa hai dân tộc, trong đó phải kể đến sự ngưỡng mộ của nhân dân Ấn Độ dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và đất nước Việt Nam yêu quý của Người.
 Ngày nay, hai dân tộc Việt Nam và Ấn Độ đang thụ hưởng những thành quả của mối quan hệ tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau đã được tôi luyện qua thử thách của thời gian và lịch sử giữa Chính phủ và nhân dân hai nước. Có được điều đó một phần nhờ vào công lao của các bậc tiền bối,  Lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh và Jawaharlal Nehru, đã đặt nền móng vững chắc cho quan hệ  Việt Nam - Ấn Độ ngày càng đơm hoa, kết trái./.

[1] Hồ Chí Minh, “Gửi Nêru”, Toàn tập, Tập 3 (1930-1945), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr. 402, Bản dịch sang tiếng Việt của Hoàng Trung Thông.
[2] Thế giới ca ngợi và thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Sự thật, H., 1976, tr.213-214.
[3] Bijay Kumar Padhihari, Ho Chi Minh through the eyes of Indians, Indian Society for Cultural Cooperation and Friendship, 2018, tr.127.

Tác giả: TS Tôn Sinh Thành, Nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Ấn Độ.

 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Bình luận của bạn