cis_banner_final_en.png
Mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ qua một tác phẩm báo chí của Hồ Chí Minh

18/05/2020


Mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ qua một tác phẩm báo chí của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng nổi tiếng của thế kỷ XX, đồng thời cũng là nhà báo lớn. Người tự nhận mình “là một người có nhiều duyên nợ với báo chí”.


Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng nổi tiếng của thế kỷ XX, đồng thời cũng là nhà báo lớn. Người tự nhận mình “là một người có nhiều duyên nợ với báo chí”. “Duyên nợ” ấy của Người chính là viết báo theo một “đề tài”: “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”[1]. Trong di sản to lớn với trên 2.000 tác phẩm báo chí của Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến” là một tác phẩm đặc biệt. Trong tác phẩm này, Hồ Chí Minh đứng tên một người khác để tường thuật và bình luận về chuyến đi thăm kéo dài 14 ngày của mình đến Ấn Độ và Myanma. Bài viết này chỉ đề cập nội dung liên quan đến thời gian gần 10 ngày Người đi thăm Ấn Độ.

1. “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, một tác phẩm báo chí đặc biệt
Tác phẩm “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến” được viết dưới dạng thư của “Anh L.T.” - “một trong mấy cán bộ có vinh hạnh được đi theo Bác” trong chuyến đi thăm hữu nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến hai nước Ấn Độ và Miến Điện (tức Myanma) - gửi cho một nhân vật ở Việt Nam là “Em Hương”. Tác phẩm được đăng tải trên báo Nhân dân từ số 1447, ngày 26-2-1958 đến số 1474, ngày 25-3-1958.

Sự đặc biệt của tác phẩm “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến” trước tiên chính là tính chất đặc biệt của một hoạt động ngoại giao đã tường thuật lại trong đó. Đó là chuyến thăm Ấn Độ và Miến Điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kéo dài đến 14 ngày, từ 4-2 đến ngày 17-2, trong đó, riêng thời gian lưu lại ở Ấn Độ là gần 10 ngày, từ đêm 4-2 đến sáng ngày 14-2, tức là hơn 70% thời gian chuyến đi. Về dung lượng của bài báo, có đến gần 80% giành cho nội dung những sự kiện diễn ra ở Ấn Độ (39/50 trang in của toàn bộ tác phẩm “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến” công bố trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11. Trong thời gian gần 10 ngày thăm Ấn Độ, Hồ Chí Minh đã có hành trình kéo dài gần 6.200 km, bằng các phương tiện ô tô, tàu hoả và máy bay, khép kín một vòng quanh đất nước Ấn Độ rộng lớn. Hành trình đó bắt đầu từ thành phố Cancútta ở phía Đông đến Thủ đô Đêli - trung tâm đất nước - rồi lần lượt đến thành phố Nănggan thuộc bang Pungiáp ở phía Bắc, thành phố Agơra, nơi có đền Tagiơ Mahan - một kiệt tác kiến trúc của Ấn Độ - thành phố Mumbai ở phía Tây, thành phố Bănggalo, trung tâm công nghiệp lớn ở phía Nam, và chặng dừng chân cuối cùng của Đoàn là Cancútta, cũng chính là điểm khởi đầu của chuyến thăm.

Chuyến thăm Ấn Độ và Miến Điện đầu năm 1958 diễn ra ngay trước Tết Nguyên Đán. Nói chuyện với đồng bào ra tiễn ở sân bay Gia Lâm, Hồ Chí Minh nhắc: “Lúc chúng tôi đi về là ngày Tết, vậy chúc đồng bào ở nhà tổ chức Tết vui vẻ, khỏe mạnh, nhưng tiết kiệm”
[2]. Mục đích chuyến đi thăm Ấn Độ và Miến Điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như Người viết trong tác phẩm, là “thắt chặt thêm nữa tình anh em giữa nước ta và hai nước bạn…, do đó củng cố và phát triển thêm nữa mối đoàn kết giữa các dân tộc Á - Phi và bảo vệ hoà bình thế giới”[3]. Cũng còn có một mục đích khác là cảm ơn nhân dân và chính phủ các nước đã ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập, tự do.

“Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến” là một trong số các tác phẩm đặc biệt của Hồ Chí Minh được thể hiện theo thể nhật ký hành trình, trong đó Hồ Chí Minh là tác giả, nhưng ẩn danh dưới danh nghĩa một người khác để thuật lại các hoạt động, thể hiện những cảm tưởng, nhận xét về chuyến đi của chính mình “một cách khách quan”. Trước tác phẩm “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, có thể thấy một tác phẩm khác cùng loại là “Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch - Bốn tháng sang Pháp” được báo Cứu quốc trích đăng từ số 402, ngày 11-11-1946 đến số 439, ngày 17-12-1946 và một số mục còn lại được công bố tiếp trong
Hồ Chí Minh toàn tập[4]. Nhật ký hành trình “Bốn tháng sang Pháp” ký tên Đ.H. gửi cho “Em Xuân và em Lan”, trong đó tường thuật lại toàn bộ các hoạt động của Hồ Chí Minh trong thời gian đi thăm Pháp (năm 1946) với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp.

Mặc dù rất bận với lịch làm việc dày đặc những cuộc thăm viếng, tiếp khách, hội đàm, dự mít tinh chào mừng, các bài phát biểu, các diễn văn quan trọng, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giành thời gian để ghi chép, tường thuật rất cụ thể, đầy đủ về toàn bộ hành trình và các sự kiện của chuyến thăm. Người đưa ra những nhận xét rất sắc xảo về các hoạt động, tóm lược các ý kiến phát biểu quan trọng, miêu tả các hình ảnh đặc sắc về chuyến thăm mà mình chứng kiến. Trước một số sự vật, hiện tượng, Người còn dẫn giải về nguồn gốc lịch sử, đưa ra những đánh giá, nhận xét sắc xảo. Đến thăm Tagiơ Mahan, Người giải thích lịch sử hình thành công trình kiến trúc này và các đền đài, cung điện quanh đó. Cùng với việc mô tả tỉ mỉ về kiến trúc, ca ngợi đây là công trình “nổi tiếng là đẹp nhất Ấn Độ và trên thế giới”, Người cũng phê phán các bậc vua chúa xưa “không tiếc mồ hôi nước mắt của nhân dân” để xây dựng các cung điện, đền đài “tốn kém biết ngần nào mà kể” là “đáng trách”.

Trong tác phẩm “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến” có một chi tiết đặc biệt, mô tả giấc mơ của tác giả trong đêm ngồi xe lửa từ Đêli đi thành phố Nănggan. Giấc mơ về cảnh tác giả cùng nhiều người trong cơ quan đi tát nước chống hạn ở ngoại thành, trong đó có “cậu Lâm và cô Hạnh” là hai người “đang tìm hiểu nhau”. Lâm và Hạnh lại được xếp “cùng tát một gầu”. Vừa tát nước, Hạnh vừa cất tiếng hát:
Thi đua tát nước vào đồng,
Tát bao nhiêu nước, em thương chồng bấy nhiêu
[5].

Và khi tác giả giật mình thức giấc, “nhìn ra cửa sổ trời đã rạng đông”. Có thể nói, chi tiết về giấc mơ về tình yêu trai gái chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong các tác phẩm báo chí của Hồ Chí Minh. Trước đó, một vài bài thơ trong tập “Nhật ký trong tù”, Hồ Chí Minh có nhắc đến tình yêu trai gái nhưng đó là những liên tưởng trực tiếp, cụ thể, trong tình trạng tỉnh táo. Ví dụ trong bài thơ “Vợ người tù đến nhà lao thăm chồng”, Hồ Chí Minh cảm thông, chia xẻ với cảnh:
“Anh ở trong song sắt,
Em ở ngoài song sắt;
Gần nhau chỉ tấc gang,

Mà cách nhau trời vực;”[6]

Hoặc nghe tiếng sáo văng vẳng trong nhà lao mà Người liên tưởng đến cảnh:
“Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi;

Lên lầu, ai đó ngóng trông nhau”[7].
Nếu có mơ, thì đó là giấc mơ được tự do, được trở về Tổ quốc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, đất nước, như:
“Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt.

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”[8].

Vậy, giấc mơ của Hồ Chí Minh trong chuyến đi thăm Ấn Độ ấy có ý nghĩa gì? Phải chăng giấc mơ đó là một ẩn ức về tình cảm, ẩn ức về cuộc sống rất con người của Hồ Chí Minh. Cái đặc biệt là tại sao ẩn ức ấy lại xuất hiện trong chuyến đi thăm Ấn Độ. Phải chăng những tình cảm tốt đẹp của nhân dân Ấn Độ đối với Việt Nam, đối với Hồ Chí Minh đã gợi mở những tình cảm trong sâu thẳm tâm hồn con người Hồ Chí Minh!

2. Hồ Chí Minh với Ấn Độ                                               
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã có cảm tình sâu sắc với nhân dân, đất nước, nền văn hóa và các lãnh tụ cách mạng Ấn Độ. Những cảm tình ấy xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử tương đồng của hai đất nước, hai dân tộc, cùng bị đế quốc, thực dân xâm lược, đô hộ, cùng đứng lên đấu tranh anh dũng, nhằm lật đổ chế độ thuộc địa, thực dân áp bức, vì mục tiêu độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Chính trong đấu tranh cách mạng mà Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở các lãnh tụ cách mạng Ấn Độ sự đồng cảm, tin yêu và mến phục. Có thể chưa bao giờ gặp nhau, nhưng chính lý tưởng đấu tranh đã làm Hồ Chí Minh gần gũi, cảm thông với những người bạn, người đồng chí cùng lý tưởng, cùng chiến hào chiến đấu. Ngay trong nhà tù của Quốc dân Đảng Trung Quốc (8-1942 đến 9-1943), giữa muôn vàn khó khăn, khổ ải, Hồ Chí Minh vẫn nhớ đến Nêru. Trong bài thơ “Gửi Nêru” (Nhật ký trong tù), Người viết:

Tôi phải vào lao, anh ở tù;
Muôn dặm xa vời chưa gặp mặt,
Không lời mà vẫn cảm thông nhau
[9].

Trong tác phẩm “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Hồ Chí Minh giành cho các lãnh tụ Ấn Độ tình cảm đặc biệt, giành cho đất nước, dân tộc và nhân dân Ấn Độ những nhận xét, đánh giá rất cao và rất trân trọng. Tình cảm đặc biệt ấy trước hết giành cho Thánh Găngđi. Trong lời phát biểu với đại biểu nhân dân thành phố Bombay ngày 10-2-1958, Hồ Chí Minh nhận xét Thánh Găngđi là “người đã nêu cao đạo đức yêu nước, khắc khổ, nhẫn nại, suốt đời hy sinh cho Tổ quốc, cho nhân dân, cho hòa bình”
[10].

Trong khi đặt vòng hoa tưởng nhớ Thánh Găngđi ở Rajghat, nơi ông bị ám sát, Hồ Chí Minh còn nhớ lại với lòng biết ơn rằng, từ năm 1947, khi “Ấn Độ đang đấu tranh giành độc lập”, Thánh Găngđi đã không quên kêu gọi: “hoàn toàn đồng tình với nhân dân Việt Nam đang chiến đấu cho chính nghĩa”. Về sau, người tín đồ xuất sắc của Thánh Găngđi là Thủ tướng Nêru luôn luôn đồng tình và ủng hộ cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân ta”
[11]. Trong đáp từ tại cuộc mít tinh của nhân dân Bombay chào mừng, Hồ Chí Minh một lần nữa cảm ơn nhân dân Ấn Độ, cảm ơn Thánh Găngđi và Thủ tướng Nêru đã “đồng tình và ủng hộ” đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Riêng nói về Thủ tướng Nêru, Hồ Chí Minh dùng những từ ngữ để đánh giá hầu như cao nhất có thể: “một vị lãnh tụ lỗi lạc”.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhân dân hai nước chúng ta đã có quan hệ anh em từ lâu đời... Dưới ách thống trị của thực dân, quan hệ giữa hai nước chúng ta tạm bị gián đoạn trong một thời kỳ. Nhưng tình hữu nghị cổ truyền luôn luôn gắn bó hai dân tộc chúng ta”
[12]. Nhận định của Hồ Chí Minh về “quan hệ anh em từ lâu đời” giữa hai nước Việt Nam và Ấn Độ hoàn toàn dễ hiểu bởi những bằng chứng lịch sử. Quan hệ đó không chỉ do đạo Phật xuất phát từ Ấn Độ được truyền bá vào Việt Nam từ cách đây cả hơn chục thế kỷ trước. Trong bài báo “Tình hữu nghị Việt - Ấn” báo Nhân dân, 8-5-1956, Hồ Chí Minh viết: “Văn hóa Ấn Độ đã cùng đạo Phật truyền bá đến nước ta vào khoảng thế kỷ thứ II, tức là gần 1.800 năm nay”[13]. Trên thực tế, quan hệ Việt Nam với Ấn Độ còn được khẳng định bởi sự hiện diện và vai trò thực tế của cư dân người Ấn Độ ở vùng đất Nam Bộ. Theo tác giả Vương Hồng Sển, người Ấn Độ đã có mặt ở Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) từ rất sớm. Thuở đó, cư dân ở vùng đất này bao gồm: Tây (người Pháp), Nam (người Việt Nam), Chà (người Ấn Độ), Chệt (người Hoa). Người Ấn Độ thời ấy thường làm nghề buôn bán, quản lý nhà đất, cho vay tiền. Thậm chí có đường phố thời ấy được coi là một “tiểu Ấn Độ” do có nhiều người Ấn Độ cư ngụ, nhiều công trình đền đài uy nghi của người Ấn Độ.

Với thái độ trân trọng đối với đất nước, con người Ấn Độ, Hồ Chí Minh luôn luôn giành những lời tốt đẹp nhất để gọi tên, nhận xét và đánh giá về Ấn Độ: “Ấn Độ là một nước hùng mạnh”, “đất nước vĩ đại”, “đất nước Ấn Độ vĩ đại”, “Chính phủ và nhân dân Ấn Độ anh em”, “nước Cộng hòa Ấn Độ anh em”, “quê hương của một trong những nền văn minh lâu đời nhất trên thế giới”, “nhân dân Ấn Độ có một quá khứ vẻ vang và một tương lai càng rực rỡ”, v.v.. Trong lời phát biểu tại Cancútta, Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi đã thấy rõ đất nước Ấn Độ rất giàu có và tươi đẹp, nhân dân Ấn Độ rất khéo léo và cần cù, các nhà khoa học và kỹ sư Ấn Độ rất nhiều tài năng và cố gắng”
[14].

Nhìn nhận vai trò, vị trí của Ấn Độ ở tầm vóc các quan hệ quốc tế đương thời, Hồ Chí Minh đánh giá cao về Ấn Độ. Người nhấn mạnh: “Ngày nay nước Cộng hòa Ấn Độ là một nước độc lập, đồng thời là một cường quốc đã có những cống hiến quý báu cho hòa bình ở châu Á và thế giới và Ấn Độ đang giữ một vai trò quan trọng trên trường quốc tế”
[15].

Từ quan hệ tốt đẹp giữa hai nước trong lịch sử và những đánh giá cao về Ấn Độ đương thời, Hồ Chí Minh mong muốn “đưa tình nghĩa ấy vào tương lai” để xây dựng, cùng cố mối quan hệ mới giữa hai nước, phục vụ cho ý nguyện chung là “xây dựng kinh tế trong nước và củng cố hòa bình trên thế giới”.

3. Ấn Độ với Hồ Chí Minh và Việt Nam
Theo những gì được tường thuật trong tác phẩm “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến” thì các lãnh tụ và nhân dân Ấn Độ giành cho Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam tình cảm anh em nồng thắm, thân thiết và trân trọng đặc biệt. Ở bất cứ đâu trên đất nước Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được chào đón thật nồng nhiệt.

Chính Thủ tướng Nêru đã nói trước hàng ngàn người trong cuộc mít tinh chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Đêli rằng: “Chúng ta đã có dịp hoan nghênh với lòng kính trọng và yêu quý nhiều vị thượng khách từ các nước đến. Nhưng vị thượng khách mà chúng tôi hoan nghênh hôm nay thật là đặc biệt. Đặc biệt không phải vì chính trị hoặc vì lẽ gì khác, nhưng vì không vị thượng khách nào giản dị như vị thượng khách này và hễ gặp mặt là người ta phải yêu mến...”
[16].

Phát biểu chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Ấn Độ, Tổng thống Praxát nói: “Chúng ta hoan nghênh Chủ tịch, một vị lãnh tụ xuất sắc đồng thời là một chiến sĩ vĩ đại cho tự do”
[17]. Trong bữa tiệc Chủ tịch Hồ Chí Minh chiêu đãi từ biệt Đêli lên đường đi Nănggan, Thủ tướng Nêru đã phát biểu với những ngôn từ hiếm thấy, vượt qua cả những nghi thức ngoại giao thông thường. Ông gọi Hồ Chí Minh là “một người vĩ đại, một bạn vĩ đại và một đồng chí vĩ đại”. Thủ tướng Nêru nói: “Chúng ta đã tiếp xúc với một người mà người đó là một bộ phận của lịch sử châu Á. Chúng ta đã gặp gỡ một vĩ nhân, đồng thời chúng ta gặp gỡ một đoạn lịch sử”[18]. Ông nhận xét với tình cảm xúc động, chân thành: “Thật là một sự sung sướng mà có một người vĩ đại và đáng yêu đến với chúng ta và, mặc dù có mâu thuẫn trên thế giới hiện nay, người ta vẫn cảm thấy nhân đạo và tình thương yêu nó sẽ xóa được mọi mâu thuẫn”[19].

Thủ tướng Nêru đã rất xúc động khi Hồ Chí Minh nhắc lại rằng năm 1927 đã gặp bố ông tại Brucxen trong hội nghị quốc tế chống thực dân. Ông cho rằng, với thời gian lâu như thế mà Người vẫn nhớ, “chứng tỏ một cách rõ rệt phẩm chất vĩ đại của Hồ Chủ tịch”. Ở bất cứ địa phương nào Hồ Chí Minh đến thăm, Người cũng được chào đón với tình cảm nồng hậu. Thị trưởng thành phố Bombay nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh “là một vĩ nhân”, “một người đại cách mạng”. Thị trưởng Cancútta gọi Hồ Chí Minh là: “người chiến sỹ anh dũng trong cuộc đấu tranh cho tự do”, “người giải phóng vĩ đại của loài người”, “người chính trị vĩ đại của nhân dân”.

Không chỉ có các lãnh tụ, quan chức chính quyền, mà nhân dân Ấn Độ cũng giành cho Hồ Chí Minh những tình cảm yêu quý, cảm động. Việc Hồ Chí Minh kiên quyết không ngồi lên chiếc ghế đặc biệt “sơn son thếp vàng, bọc nhung đỏ, giống như một cái ngai vàng” trong một cuộc mít tinh, hay việc Người bế cháu bé mù, cháu “sờ râu, sờ má Bác, rồi ôm chặt lấy Bác một cách rất âu yếm”, đã để lại ấn tượng cảm động trong nhân dân. Khi Người xuống xe đi bộ trước Phủ Tổng thống, “Bà con đi đường rất vui mừng, họ chạy theo hoan hô Bác, như một cuộc biểu tình”.

Ta hiểu rằng, lãnh tụ và nhân dân Ấn Độ giành những tình cảm tốt đẹp cho Hồ Chí Minh cũng chính là thể hiện sự yêu mến, cảm phục đối với nhân dân Việt Nam. Bởi vì Hồ Chí Minh là đại diện xứng đáng nhất cho nhân dân, cho dân tộc mình, một dân tộc dưới sự lãnh đạo của Người đã vùng lên đấu tranh, lật đổ sự thống trị, áp bức của thực dân, phong kiến, làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu. Nói như ông Thị trưởng thành phố Bombay, với cuộc đấu tranh anh dũng vì độc lập, tự do, “Việt Nam đã thành một lịch sử phi thường đầy kiên nhẫn hy sinh và tin tưởng”
[20].

Có thể nói, sự gần gũi về địa lý, những quan hệ gắn bó về văn hóa, xã hội, tôn giáo trong suốt chiều dài lịch sử nhiều thế kỷ và cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ giành độc lập, tự do của hai dân tộc tương đồng về số phận, là những yếu tố quyết định làm cho nhân dân và lãnh đạo hai nước Việt Nam và Ấn Độ trở nên gần gũi, gắn bó như tình anh em. Trên cơ sở những tình cảm tốt đẹp đó, chuyến đi thăm Ấn Độ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đầu năm 1958 đã mở đầu một thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai nước. Đúng như Tổng thống Praxát đã khẳng định: “Tôi tin chắc rằng việc Chủ tịch đến thăm nước chúng tôi sẽ đưa lại sự hợp tác ngày càng chặt chẽ giữa nhân dân Ấn Độ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”
[21]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng mong muốn và tin tưởng rằng cuộc đi thăm này sẽ “càng thắt chặt thêm nữa tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước”. Sự ra đời của tác phẩm “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến” là một biểu hiện cụ thể của sự mong muốn ấy. Đó chính là cách truyền thông để làm cho rộng rãi cán bộ và nhân dân Việt Nam nhận thức được đầy đủ hơn những điều kiện tương đồng, gần gũi giữa hai đất nước, những tình cảm chân thành, thân thiết mà nhân dân Ấn Độ giành cho lãnh tụ Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Một khi mục đích truyền thông ấy đạt được, có nghĩa là các chủ trương, chính sách phát triển mối quan hệ giữa hai nước có cơ sở vững chắc để thực hiện thành công. Phải chăng đó là lý do mà Hồ Chí Minh giành thời gian và công sức để viết nên tác phẩm “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến” như một phóng sự hành trình trường thiên đăng tải trên hàng chục số báo. Và hôm nay, đọc lại tác phẩm “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến” ra đời từ hơn 60 năm trước, chúng ta càng cảm phục, trân trọng và biết ơn Hồ Chí Minh, người đã dày công gây dựng và vun đắp cho mối quan hệ tốt đẹp, toàn diện Việt Nam - Ấn Độ./.

[1] Tạ Ngọc Tấn tuyển chọn và giới thiệu, Hồ Chí Minh về báo chí, In lần thứ hai có bổ sung, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2004, tr. 231.
[2] Hồ Chí Minh, “Nói chuyện với đồng bào tại sân bay Gia Lâm trước khi đi thăm Ấn Độ”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.253.
[3] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1958-1959), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr. 296.
[4] Hồ Chí Minh, “Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch - Bốn tháng sang Pháp”, Toàn tập, Tập 4 (1945-1946), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.369-452.
[5] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.320.
[6] Hồ Chí Minh, “Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng” trong “Nhật ký trong tù”, Toàn tập, Tập 3 (1930-1945), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.343. Bản dịch sang tiếng Việt của Nam Trân - Hoàng Trung Thông.
[7] Hồ Chí Minh, “Người bạn tù thổi sáo” trong “Nhật ký trong tù”, Toàn tập, Tập 3 (1930-1945), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.321. Bản dịch sang tiếng Việt của Nam Trân.
[8] Hồ Chí Minh, “Ngủ không được” trong “Nhật ký trong tù”, Toàn tập, Tập 3 (1930-1945), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.378. Bản dịch sang tiếng Việt của Xuân Thủy.
[9] Hồ Chí Minh, “Gửi Nêru”, Toàn tập, Tập 3 (1930-1945), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr. 402, Bản dịch sang tiếng Việt của Hoàng Trung Thông.
[10] Hồ Chí Minh, “Nói chuyện với các đại biểu nhân dân thành phố Bombay (Ấn Độ)”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.276.
[11] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr. 302.
[12] Hồ Chí Minh, “Diễn văn tại cuộc mít tinh của nhân dân New Delhi (Ấn Độ)”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.257.
[13] Hồ Chí Minh, “Tình hữu nghị Việt - Ấn”, Toàn tập, Tập 10 (1955-1957), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.328.
[14] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.343.
[15] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.299.
[16] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr. 354.
[17] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.309.
[18] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.317.
[19] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.318.
[20] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.327.
[21] Hồ Chí Minh, “Tình nghĩa anh em Việt - Ấn - Miến”, Toàn tập, Tập 11 (1957-1958), Xuất bản lần thứ ba, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.310.

Tác giả: GS TS Tạ Ngọc Tấn, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương, Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng Khóa XI, Nguyên Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Bình luận của bạn