cis_banner_final_en.png
Hợp tác Việt Nam-Ấn Độ về khoa học và đổi mới sáng tạo

25/06/2020


Hợp tác Việt Nam-Ấn Độ về khoa học và đổi mới sáng tạo

Tham luận của PGS TS Lê Văn Toan, Giám đốc Sáng lập, Chủ tịch Hội đồng Khoa học, Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ tại Hội thảo quốc tế “Thúc đẩy hợp tác Việt Nam - Ấn Độ trong Khoa học, Công nghệ và Sáng tạo: Thực trạng và Triển vọng”



Hợp tác Việt Nam-Ấn Độ về khoa học và đổi mới sáng tạo
 
1. Sự cần thiết phải hợp tác trên bình diện khoa học
a) Nên hiểu khoa học như thế nào?
- Khoa học công nghệ (khoa học tự nhiên)
- Khoa học chính trị, khoa học xã hội và nhân văn 

b) Lịch sử hợp tác khoa học Việt Nam và Ấn Độ hơn 2.000 năm qua
- Mở đầu, đi trước trong sự hợp tác Việt Nam - Ấn Độ nói chung, khoa học nói riêng là hợp tác về khoa học xã hội và nhân văn. Chính khoa học xã hội và nhân văn đóng vai trò “lĩnh xướng”, dẫn dắt cho Việt Nam và Ấn Độ đến với nhau, kết thân bạn bè, trong sáng, thủy chung, son sắt.

Trong thực tiễn quan hệ giữa hai nước đã lan tỏa rất tự nhiên trên 4 làn sóng giao lưu, tiếp biến khoa học chính trị, khoa học xã hội nhân văn.

Làn sóng thứ nhất: làn sóng giao lưu, tiếp biến Phật giáo đến Việt Nam bằng đường biển, đến Đồ Sơn, Hải Phòng miền Bắc Việt Nam vào thời Asoka Đại đế (thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên) và đã được toàn dân Việt Nam tiếp biến phát triển thành công.

Làn sóng thứ hai: làn sóng giao lưu, tiếp biến Ấn Độ giáo (Đạo Hindu) từ Ấn Độ đến Quảng Nam, Đà Nẵng miền Trung Việt Nam từ đầu Công Nguyên. Hiện vẫn còn dấu ấn sâu sắc trong văn hóa Việt Nam.

Làn sóng thứ ba: làn sóng giao lưu, tiếp biến Đạo Baflamon của Ấn Độ đến miền Nam Trung Bộ Việt Nam từ đầu Công Nguyên đã được Văn hóa Việt Nam tiếp biến thành công.

Làn sóng thứ tư: làn sóng giao lưu văn hóa chính trị do Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới chủ động kết nối với Thánh Gandhi và Thủ tướng Ấn Độ J. Nehru, đặt nền tảng cho quan hệ hai nước trong thời hiện đại.

Tiểu kết: Thực tiễn lịch sử cho thấy, quan hệ hợp tác phát triển Việt Nam - Ấn Độ trong hơn 2.000 năm qua không những không đứt gãy mà ngày càng phát triển phong phú trên nhiều bình diện. Cho đến nay, lãnh đạo và nhân dân hai nước đã xác định nâng cấp quan hệ song phương lên thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Có được điều đó là do vai trò quan trọng của quan hệ văn hóa – sự hợp tác tự nhiên giữa Việt Nam - Ấn Độ trên bình diện khoa học xã hội và nhân văn và khoa học chính trị. Chính sự hợp tác này đã làm cho hai quốc gia dân tộc chủ động đến với nhau, hiểu nhau, tin nhau, cùng nhau chia sẻ những khó khăn, cùng nhau chung hưởng những thành quả của sự hợp tác; cùng nhau xác định cần phải nâng cấp quan hệ trên những trụ cột chủ yếu: chính trị, ngoại giao; quốc phòng, an ninh; kinh tế, thương mại; năng lượng; văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và ngoại giao nhân dân.

2. Thực trạng hợp tác khoa học công nghệ giữa Việt Nam và Ấn Độ từ giữa thế kỷ XX đến nay
- Trong lĩnh vực nông nghiệp
- Lĩnh vực chăn nuôi
- Lĩnh vực năng lượng
- Lĩnh vực quốc phòng, an ninh
- Lĩnh vực văn hóa
- Lĩnh vực giáo dục, đào tạo.

Nhận xét chung
Ấn Độ là cường quốc về khoa học công nghệ - đứng thứ năm thế giới. Tiềm năng về khoa học công nghệ của Việt Nam còn khiêm tốn, đứng thứ ba Đông Nam Á.

Trong thời gian qua, quan hệ hợp tác khoa học công nghệ giữa Việt Nam và Ấn Độ đã được đẩy mạnh, đạt được một số kết quả rõ rệt, đặc biệt là trong các lĩnh vực văn hóa, năng lượng, năng lượng nguyên tử, công nghệ thông tin và vũ trụ. Các lĩnh vực khác như nông nghiệp, công nghệ sinh học, môi trường thì sự hợp tác giữa hai nước chưa tương xứng với tiềm năng.

3. Một số điều chỉnh cơ bản trong chính sách của Ấn Độ, nhất là sau đại dịch covid-19 và xung đột biên giới Ấn - Trung từ 2019 đến nay
Mở đầu nhiệm kỳ thứ hai, Modi quyết tâm thay đổi điều kiện can dự thế giới của Ấn Độ trên các bình diện:

(1) Xác định lại cách tiếp cận đối với toàn cầu hóa thương mại và toàn cầu hóa kinh tế: N. Modi triển khai chủ trương hạn chế toàn cầu hóa nhưng lại thúc đẩy tự do hóa kinh tế trong nước. Chính điều này đã làm cho thâm hụt thương mại giữa Ấn Độ với thế giới, đặc biệt là với Trung Quốc, được cải thiện một bước.

(2) Triệt tiêu thái độ thủ thế chính trị trong vấn đề tranh chấp Kashmir liên quan tới Pakistan và Trung Quốc, cùng với đó là việc xác lập thái độ cứng rắn nhưng uyển chuyển trong tranh chấp biên giới với Trung Quốc. Điều này thể hiện rõ trong những diễn biến tình hình tranh chấp biên giới Trung - Ấn đang diễn ra trong hai năm 2019 - 2020. Thực tiễn hiện nay cho thấy, người dân Ấn Độ biểu tình tẩy chay hàng Trung Quốc. Giới chức Ấn Độ dự kiến tăng thuế nhập khẩu với 300 mặt hàng Trung Quốc; cấm mọi hợp đồng ký kết dịch vụ viễn thông với Trung Quốc; cấm các công ty Trung Quốc tham gia bỏ thầu các dự án ở Ấn Độ trong tương lai.

(3) Rũ bỏ những hạn chế từ trong lịch sử hợp tác chiến lược với Washington. Điều này được thấy rõ trong việc N. Modi công khai thể hiện mối quan hệ thân thiện với Tổng thống Mỹ Donald Trump tại hai buổi mít tinh lớn – một là, tại Houston, Mỹ vào tháng 9/2019 và hai là, tại Ahmedabad, Ấn Độ vào tháng 2/2020. Đây là điều chưa từng có tiền lệ trong truyền thống ngoại giao ôn hòa của Ấn Độ. Điều này là khác biệt với những người tiền nhiệm trước đây. Thủ tướng N. Modi sẽ không tiếp tục kiềm chế việc can dự với Mỹ. Modi cũng sẵn sàng chia sẻ thông tin quân sự, tiến hành tập trận đầu tiên có sự tham gia của ba quân chủng, nâng cấp sự can dự với nhóm Bộ Tứ (Ấn Độ, Australia, Nhật Bản và Mỹ) lên cấp bộ trưởng và mở rộng họp nhóm Bộ Tứ, bao gồm mời cả Hàn Quốc, Việt Nam và New Zealand nhằm thực hiện kế hoạch hợp tác hậu Covid-19.

Có lẽ, bối cảnh mới, trong đó yếu tố xung đột ngày càng sâu sắc giữa Mỹ và Trung Quốc, giữa Ấn Độ và Trung Quốc và tác động của đại dịch Covid-19, đã tạo tiền đề nâng cấp mối quan hệ giống như sự liên minh giữa Ấn Độ và Mỹ tăng cao?

(4) Sửa đổi Hiến pháp để tách bang Jammu và Kashmir thành hai vùng lãnh thổ liên hiệp. Việc làm này đã tái khẳng định việc tuyên bố chủ quyền của Ấn Độ đối với các vùng lãnh thổ thuộc sự kiểm soát của Trung Quốc và Pakistan, đồng thời nhằm đến mục tiêu dập tắt quan điểm ở bên trong cũng như bên ngoài bang này rằng, Kashmir có quyền được hưởng một chế độ dài hạn theo kiểu “một nước hai chế độ”. Việc loại bỏ nhận thức cho rằng, Kashmir không hoàn toàn là một phần của Ấn Độ từ lâu đã là mục tiêu chính trị của Đảng BJP, Ấn Độ. Việc làm này đã làm thay đổi các điều khoản trong khuôn khổ đàm phán về Kashmir khi loại bỏ cơ sở của bất kỳ vai trò chính trị nào của các bên tham gia ngoài nước trong cách thức Ấn Độ xử lý các vùng lãnh thổ do họ kiểm soát.

(5) Ủng hộ sự xuất hiện của một trật tự đa cực bao trùm và bảo vệ lợi ích của tất cả các bên liên quan.

(6) Chủ động kết chặt với Australia thúc đẩy phiên bản Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương “toàn diện” và ủng hộ sáng kiến ngoại giao như việc Mỹ thúc đẩy nhóm “bộ tứ mở rộng” với sự tham gia của Việt Nam, Hàn Quốc và New Zealand bên cạnh 4 thành viên ban đầu.

(7) Kích hoạt chính sách “tự lực, tự cường” và “Ấn Độ tự cường”. N. Modi nói: “Chính sách tự lực, tự cường của Gandhi cũng như lương tâm của chính tôi không cho phép đất nước tham gia RCEP”
[1].

Năm 2019, Ấn Độ không tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện (RCEP) do Trung Quốc điều phối “để bảo vệ vững chắc các ngành nghề trước bất kỳ tác động tiêu cực nào mà các lợi ích của Trung Quốc có thể gây ra” - (Bộ trưởng Nội vụ Ấn Độ Amid Shah nói)
[2].

Ngày 18/4/2020, Chính phủ Ấn Độ thông báo thay đổi lớn một số chính sách kinh tế khi đưa ra các quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo quy định mới sửa đổi, đầu tư FDI từ các nước láng giềng vào các công ty của Ấn Độ từ nay sẽ cần phải được sự chấp thuận của Chính phủ Ấn Độ. Điều này sẽ được áp dụng cho tất cả các nước có chung đường biên giới trên bộ với Ấn Độ, trong đó có Trung Quốc. Những quy định mới này không áp dụng đối với Myanmar, Bhutan, Nepal và Sri Lanka vì các quốc gia này không phải là những nhà đầu tư lớn ở Ấn Độ.

Từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, nhất là sau đại dịch Covid-19, Trung Quốc đã đánh mất niềm tin trên thế giới, nhiều công ty trên thế giới rút khỏi Trung Quốc, Ấn Độ đã và đang tìm cách thu hút làn sóng đầu tư FDI của thế giới đến Ấn Độ, và điều này đã mở ra nhiều triển vọng khả quan cho phát triển kinh tế Ấn Độ trong thời gian tới.

4. Một số gợi mở
  • Tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học chính trị.
  • Tăng cường hợp tác khoa học xã hội và nhân văn
  • Từ đó tạo niềm tin, cộng đồng trách nhiệm, định hướng, dẫn dắt sự hợp tác các chuyên ngành khoa học khác.
 
[1] Xem: Hồng Phúc, “Chèo lái một Ấn Độ táo bạo hơn, Thủ tướng Modi “đổi mà chính sách can dự toàn cầu”, Báo Thế giới và Việt Nam, số ra ngày 6/6/2020.
[2] Tài liệu đã dẫn.

Tác giả: PGS TS Lê Văn Toan, Giám đốc Sáng lập, Chủ tịch Hội đồng Khoa học, Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ
 

Bình luận của bạn