cis_banner_final_en.png
Sự tham gia của hải quân nước ngoài trong Vịnh Cam Ranh (Phần 1)

20/07/2020


Sự tham gia của hải quân nước ngoài trong Vịnh Cam Ranh (Phần 1)

Vịnh Cam Ranh, có nghĩa là “Dòng suối ngọt”, luôn là điểm thu hút chiến lược kể từ thế kỷ XIX khi hải quân Pháp, Nga, Nhật Bản và Mỹ sử dụng các bến cảng tự nhiên rộng, sâu và được bảo vệ để làm trạm tiếp nhiên liệu. Đó là một bệ phóng cho các hoạt động quân sự ở khu vực Đông Á.


Vịnh Cam Ranh, có nghĩa là “Dòng suối ngọt”, luôn là điểm thu hút chiến lược kể từ thế kỷ XIX khi hải quân Pháp, Nga, Nhật Bản và Mỹ sử dụng các bến cảng tự nhiên rộng, sâu và được bảo vệ để làm trạm tiếp nhiên liệu. Đó là một bệ phóng cho các hoạt động quân sự ở khu vực Đông Á. Bến cảng tự nhiên này cho đến ngày nay giữ vị trí địa chiến lược đáng giá nhất để đi tới vùng Biển Đông Việt Nam. Do trong quá khứ, nhiều cường quốc đã có sự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trong Vịnh Cam Ranh, làm cho Vịnh lọt vào mắt xanh như một hòn ngọc Viễn Đông, ngày nay, nơi đây trở thành bến cảng được nhiều bên tìm kiếm nhất trong bối cảnh hiện nay. Nhiều quốc gia đã đến thăm Vịnh Cam Ranh do vị trí chiến lược của nó

Những cường quốc đã hiện diện ở Vịnh Cam Ranh
Năm 1847, Hải quân Pháp là những người đầu tiên tạo các ụ pháo phòng thủ trên bến cảng, và cũng dựng lên một số cơ chế quân sự quy mô nhỏ để họ có thể bảo vệ Vịnh Cam Ranh chống lại sự tiếp cận từ các quốc gia khác. Tầm quan trọng chiến lược của Vịnh Cam Ranh là lý do mà người Pháp ưa thích xây dựng các cảng tại các thành phố lớn khác như Sài Gòn và Đà Nẵng trong thế kỷ XIX. Trong Chiến tranh Nga-Nhật 1904-1905, Hải quân Nga đã sử dụng cảng này, và sau đó vào tháng 4 năm 1905, một hạm đội hải quân Nga đã đi vào vịnh Cam Ranh để tiếp nhiên liệu dưới sự lãnh đạo của Phó đô đốc Zinovi Rozhdestvensky. Do ở rất gần Biển Đông, Vịnh Cam Ranh được đánh dấu là cảng tiền đồn quân sự chiến lược.
[1] Sau chiến tranh, quân đội Nhật đã tận dụng cảng làm nơi cung cấp hậu cần cho các căn cứ quân sự, vận tải biển và tiếp tế vật liệu quân sự, bổ sung vào những hoạt động quân sự khác của hoạt động của hải quân.[2]
 
 
Năm 1963, Đô đốc Harry D. Felt của quân đội Mỹ, Tổng tư lệnh, Thái Bình Dương (CINCPAC), tổng tư lệnh quân sự khu vực Thái Bình Dương và Đông Nam Á đã đảm nhận nhiệm vụ xây dựng và phát triển ít nhất một bến cảng cho phép các tàu có thể cập cảng nước sâu trong vịnh Cam Ranh. Công ty của Mỹ Raymon, Morrison-Knudson (RMK) tiên phong trong việc xây dựng các căn cứ của Mỹ tại Việt Nam thời đó, có thể được mệnh danh là “ông trùm cơ sở hạ tầng cho Việt Nam”. Công ty này lần đầu tiên đặt chân đến Việt Nam vào ngày 2/5/1963 và bắt đầu thành lập đại bản doanh tại doanh trại cũ của quân đội Pháp gần khu vực bến tàu. Đến ngày 12/7/1963, công ty này bắt đầu xây dựng một đường kè nổi cao, sau đó là xây dựng hệ thống bến tàu, hệ thống nước, nhà máy điện, và bể chứa dầu (POL). Tổng chi phí của dự án cải tạo bến tàu là 1,6 triệu USD vào năm 1964. Kế hoạch tổng thể của người Mỹ là độc quyền kiểm soát vùng nước bao gồm các cảng nước sâu lớn của Sài Gòn và Vịnh Cam Ranh, cũng như các cảng nước nông ở Quy Nhơn và Đà Nẵng, thiết lập một loạt các cảng nước nông dọc theo bờ biển Việt Nam, hỗ trợ việc cung ứng phân phối vật tư. Sự hình thành và phát triển của các cảng lớn nhỏ trong cả nước sẽ hỗ trợ giao thông đường cao tốc nội địa và máy bay lên thẳng, sẽ rất hữu ích trong trực chiến. Năm 1965, sau một thời gian nghỉ ngắn, công việc xây dựng kiến thiết nhiều cơ sở hơn ở Vịnh Cam Ranh đã mang lại kết quả là xây dựng được một bến đỗ dài 1.100 feet đến 1.400 feet (335m đến 427m), và xây dựng nhiều con đường mới, gia cố những con đường đã có. Người Mỹ còn mở rộng bến tàu dài thêm 300 feet (91m) và hoàn thành hai bến đỗ cho các tàu vận tải nước sâu cỡ lớn. Các nhà kho lưu trữ thiết bị, khu vực lưu trữ dầu và bể chứa động cơ tạm thời đã được xây thêm vào tháng 8/1964.
[3] Năm 1965, người Mỹ có kế hoạch tổng thể nhằm biến Sài Gòn và Vịnh Cam Ranh thành căn cứ hậu cần chính, và Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Rang và Vũng Tàu đã được quy hoạch thành các căn cứ hỗ trợ quy mô nhỏ hơn, và  đã hoàn thành được một số dự án theo kế hoạch. Ngoài ra, các cơ sở giảm tải sà lan, sân bay, đường dốc cho tàu đổ bộ, và kho lưu trữ hậu cần cũng đã được đưa vào kế hoạch xây dựng.[4]

Cảng Sài Gòn và cảng Cam Ranh là những bến cảng có khả năng lớn nhất ở miền Nam Việt Nam. Các cảng này cho phép các tàu khai thác nước sâu neo đậu với chi phí hợp lý. Bên cạnh đó, cảng Cam Ranh còn có nhiều cơ sở của doanh trại quân đội và không quân, cùng với tòa trụ sở căn cứ không quân lớn, làm cơ sở cho các hoạt động và kho hàng quy mô lớn trong Vịnh Cam Ranh. Ít lâu sau, Cảng Cam Ranh trở thành một trong những căn cứ cho các hoạt động tuần tra ven biển của lực lượng Time Market thuộc Hải quân Mỹ. Cùng với đó là một trạm giao liên lớn của Hải quân, và một trạm Không quân của Hải quân tại khu vực sân bay Vịnh Cam Ranh. Ưu tiên chính của quân đội Mỹ lúc đó là cần phải xây dựng một đường băng 10.000 feet tạm thời, có thể giúp chứa các máy bay ném bom chiến đấu F-4, loại máy bay tiên tiến nhất trong kho vũ khí của quân đội Mỹ thời đó. Vào ngày 16/10/1965, đường băng Cam Ranh đã được hoàn thành. Qua đó, Vịnh Cam Ranh nổi lên là cảng lớn thứ hai ở Việt Nam bên cạnh Sài Gòn, và là căn cứ không quân có số lượng phương tiện ra vào nhiều thứ ba, sau Sài Gòn và Đà Nẵng. Dự án sân bay Vịnh Cam Ranh bao gồm các khu vực đỗ máy bay, kho, tổ hợp doanh trại và đường băng trải xi măng Portland 10.000 feet (305 mét) mới và đường dẫn máy bay. Một cầu tàu bằng gỗ, dài 400 feet (12 mét), sâu đến năm sải rưỡi (10 mét) để đáp ứng việc tiếp nhiên liệu. Vịnh Cam Ranh được phát triển thành một cảng rộng và một nhà ga hàng không trong cảng.
[5] Bốn cảng đại Đà Nẵng, Quy Nhơn, Vịnh Cam Ranh và Sài Gòn được phát triển thành các khu vực hậu cần bán tự động. Khu vực hậu cần cho máy bay ném bom chiến đấu đã được xây dựng ở Vịnh Cam Ranh. Đến năm 1966, bốn bến DeLong sâu và một bến tàu nước sâu 300 feet (9 mét) ngắn hơn đã được xây dựng, và chúng giúp phát triển thêm các cảng và bến cảng sâu tại Qui Nhơn, Vũng Tàu, Vịnh Cam Ranh, Vũng Rô và Đà Nẵng. Ngoài ra, bến tàu DeLong đầu tiên có tất cả các thiết bị và phụ tùng được kéo đến vịnh Cam Ranh. Đến tháng 5/1966, bến tàu chở hàng tổng hợp thứ ba đã được thực hiện, giúp xử lý hàng hóa lớn và gây dựng một phần chính của khu vực hậu cần trong Vịnh Cam Ranh.[6]
 
Ngoài ra, vào cuối năm 1966, Vịnh Cam Ranh đã được hỗ trợ bởi 8.000 binh sĩ chiến đấu cho các hoạt động tập trận, 11.100 quân hỗ trợ chiến đấu và 17.000 quân hỗ trợ phục vụ trực tiếp. Cảng có thể xử lý đồng thời 8 tàu chở hàng nước sâu cộng với một tàu chở dầu. Ngoài ra, nơi đây còn có các cơ sở hậu cần và hỗ trợ quy mô lớn, như cảng nước sâu mười bến tại Vịnh Cam Ranh, kho ở Vịnh Cam Ranh, cảng LST tại Nha Trang, Phan Rang và Tuy Hòa, bãi đáp trực thăng tại Vịnh Cam Ranh và Phan Rang, sáu phi đạo khác, và năm phi đạo cho phép loại phương tiện C-130 và các phương tiện có trên thị trường lúc đó. Do đó, căn cứ vịnh Cam Ranh đã giúp đỡ các binh sĩ, trang bị vũ khí cho họ, cung cấp hậu cần và tiếp tế cho người Mỹ.
[7] Đà Nẵng có các cơ sở chính như cảng nước sâu, kho hỗ trợ hải quân, máy bay phản lực tại Đà Nẵng và Chu Lai, sân bay C-130 và các cảng LST nông tại Chu Lai và Huế và làm cơ sở cho các hoạt động tuần tra ven biển và phòng thủ bến cảng.[8]

[1] Ian Storey and C. Thayer. 2001. “Cam Ranh Bay: Past Imperfect, Future Conditional” published in the Contemporary Southeast Asia, 23(3), 452-473. www.jstor.org/stable/25798562 (Truy cập ngày 17/6/2020)
[2] Roger P. Fox. 1979. “ Air Base Defense in the Republic of Viet Nam 1961-1973” published by the Office of Air Force History, United States Air Force, Washington, D.C.,1979. https://media.defense.gov/2010/Sep/21/2001330253/-1/-1/0/AFD-100921-023.pdf (Truy cập ngày 17/6/2020)
[3] Richard Tregaskis. “Southeast Asia; Building the Bases”, the History of Construction in Southeast Asia, US Government Printing Office, Washington, D.C., p. 45-141.
https://books.google.co.in/books/about/Southeast_Asia_Building_the_Bases_The_Hi.html?id=Koejt5WIaFAC&redir_esc=y (Truy cập ngày 18/6/2020)
[4] Tài liệu đã dẫn
[5] Tài liệu đã dẫn
[6] Lt. Gen. Carroll H. Dunn. “Vietnam Studies: Base Development in South Vietnam, 1965-1970” published by Department of the Army, Washington, D. C., p. 55.
[7] Xem K. M. Chrysler.1965. US News and World Report, 11/10/1965.
[8] Captain Juan A. De Leon Pn(GSC).1989. “Cam Ranh Bay revisited (1979-1989): The Strategic Significance of Cam Ranh Bay Then and Now published as a master thesis by the University of New South Wales, Australian Defence Force Academy dated 11/1989.
http://unsworks.unsw.edu.au/fapi/datastream/unsworks:52938/SOURCE01?view=true (Truy cập ngày 18/6/2020)

Tác giả: Gitanjali Sinha Roy là nghiên cứu sinh chuyên ngành Nghiên cứu Nhật Bản, Khoa Nghiên cứu Đông Á, Đại học Delhi.
 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Bình luận của bạn