cis_banner_final_en.png
Năng lượng sạch của Ấn Độ

01/08/2020


Năng lượng sạch của Ấn Độ

Ấn Độ vẫn có thái độ hoài nghi đối với khí đốt và chưa coi đó là nguồn năng lượng ổng định. Điều này xuất phát từ thực tế là Ấn Độ bắt buộc phải nhập khẩu khí đốt cho nhu cầu tiêu thụ gia tăng. Thâm hụt thương mại kinh niên, kèm theo triết lý tự cung tự cấp vẫn còn chiếm ưu thế mãi cho đến khi Ấn Độ tự do hóa kinh tế vào những năm 1991-1992. Trữ lượng than đá dồi dào trong nước cũng giúp Ấn Độ không phụ thuộc vào khí đốt.


Ấn Độ không phải là quốc gia duy nhất có chiến lược hạn chế sự phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu và đa dạng hóa các nguồn năng lượng. Trong năm 2019, Ấn Độ nhập khẩu 38% năng lượng và tỷ lệ khí đốt trong tổng năng lượng tự nhiên là 6%. Những con số này không quá khác biệt với số liệu của những nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp khác trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (Thống kê Năng lượng BP 2020).
 
Ví dụ, Việt Nam đang phát triển nhanh chóng nguồn năng lượng trong nước, nhưng chỉ tiêu thụ hết khoảng 8% lượng khí đốt nước này sản xuất ra. Bangladesh nhập khẩu năng lượng ở mức thấp là 16%, và nắm giữ tỷ lệ 71% tổng lượng năng lượng tự nhiên. Bangladesh đang tích cực tìm cách đa dạng hóa nguồn năng lượng, tăng nguồn năng lượng than (nhập từ Ấn Độ) và thủy điện (nhập từ Nepal hoặc Bhutan).
 
Indonesia nhập khẩu tới 38% năng lượng, 18% năng lượng tự nhiên. Thái Lan nhập khẩu 30% tổng số năng lượng, 33% năng lượng tự nhiên. Trung Quốc, do thặng dư thương mại khổng lồ, phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, với 42% tổng lượng năng lượng, tỷ lệ năng lượng tự nhiên là 8%.
 
Năng lượng khí đốt nhập khẩu có tính linh hoạt ngày càng cao do sự phát triển của chuỗi cung ứng khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG). Hình thức trái trái ngược với dạng khí đốt tự nhiên được bơm qua các đường ống, vốn là phương thức  cung ứng khí đốt chủ yếu ở châu Âu và Mỹ. 
 
Ấn Độ có thiết bị đầu cuối để nhập khẩu và tái cấp LNG đầu tiên tại Dahej vào năm 2004. Việc chuyển sang nhập khẩu LNG được phát triển do sự mở cửa của ngành điện cho khu vực tư nhân vào cuối những năm 1990. Các dự án với tập đoàn năng lượng ENRON bị hủy bỏ càng khiến Ấn Độ liên kết mạnh hơn vào chuỗi cung ứng LNG. Gas là nhiên liệu sạch hơn than và dầu diesel, do đó, xu hướng chuyển sang dùng công nghệ thân thiện với khí hậu cũng thúc đẩy việc dùng nhiều khí gas hơn trong danh mục năng lượng ngày càng được bổ sung nhiều của Ấn Độ.
 
Nhưng cam kết của xanh hóa danh mục đầu tư năng lượng của Ấn Độ vẫn phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ các quỹ khí hậu. Năm 2015, Thủ tướng Ấn Độ Modi đã từ bỏ chiến lược phòng thủ này.
 
Thủ tướng Ấn Độ Modi lựa chọn tối đa hóa việc sử dụng nguồn tài nguyên trong nước, thay cho việc chọn tăng cường lượng khí đốt, là điều tối quan trọng. Năng lượng mặt trời đã được coi là một lựa chọn cho Ấn Độ, và Thủ tướng Ấn Độ cam kết sẽ tăng công suất năng lượng tái tạo lên 40% tổng công suất điện vào năm 2030, từ mức 23% vào năm 2019.
 
Kể từ đó, giá năng lượng mặt trời được hạ xuống, giá lưu trữ điện cũng đang giảm. Công nghệ năng lượng mặt trời đã giúp loại hình năng lượng này vươn lên soán ngôi dự kiến dành cho năng lượng khí đốt, đóng vai trò quan trọng trong việc giảm lượng khí thải carbon.
 
Năng lượng từ khí đốt đắt hơn so với năng lượng sản xuất từ than, và nền kinh tế đói tiền mặt có thể không đủ khả năng chi trả. Nếu giá điện tính theo thời gian trong ngày, Ấn Độ có thể nhanh chóng tận dụng và tăng cường năng lượng khí. Nhưng các thỏa thuận mua điện trên Sàn giao dịch Năng lượng Ấn Độ vẫn không phân biệt thời gian cung cấp, giao dịch chiếm tới 4% doanh số bán điện lưới, mang lại cơ hội ngắn hạn, minh bạch cho các nhà kinh doanh năng lượng.
 
Cơ chế chính trị cũng đóng góp vào duy trì ngành khai thác than. Chủ thể chiếm ưu thế ở đây là các doanh nghiệp khu vực công, cụ thể là Công ty Than Ấn Độ, Coal India Ltd, tạo công ăn việc làm cho khoảng 0,4 triệu người ở khu vực nghèo nhất Ấn Độ phía Đông Ấn Độ, và sản xuất 60% trong tổng số 538 triệu tấn than được khai thác năm 2019. Phần còn lại được khai thác bởi các công ty tư nhân sử dụng than làm đầu vào để tự sản xuất điện cho các hạng mục sản xuất khác trong cùng công ty (tiêu thụ điện tại chỗ).
 
Vào tháng 6/2020, Chính phủ Ấn Độ tuyên bố sẽ bán đấu giá bốn mươi mốt mỏ mới cho khu vực tư nhân để sử dụng cho mục đích thương mại, bao gồm cả việc bán rộng rãi trên thị trường. Đây là một bước đi táo bạo hướng tới tự do hóa ngành than, vốn đã được quốc hữu hóa vào năm 1971-1972.
 
Các doanh nghiệp có kế hoạch đấu tranh hợp pháp chống chi phí chính trị của việc tư nhân hóa ngành than Ấn Độ. Một cuộc đình công kéo dài ba ngày được các công đoàn tổ chức vào ngày 5/7/2020 chống tư nhân hóa ngành than. Một cuộc đình công khác dự định sẽ tổ chức vào ngày 18/8/2020.
 
Chiến lược tăng cường tư nhân hóa này đã được sử dụng thành công  - mặc dù công ty Air India vẫn phải vật lộn với chi phí tài chính hằng năm trả cho Chính phủ 30 tỷ rupee.
 
Ngành điện là một ví dụ khác về tăng cường tư nhân hóa. Việc tạo điều kiện cho thế hệ tư nhân mới được hình thành thông qua quy định minh bạch đã dẫn đến việc 46% trong tổng công suất 370 GW, trong đó có 95% công suất năng lượng tái tạo - 87 GW, nằm trong tay tư nhân, tính tới tháng 5/2020.
 
Tin tốt là Ấn Độ đã có kế hoạch tăng mức tiêu thụ năng lượng. Chính sách năng lượng 2005-2006 của Ủy ban kế hoạch Ấn Độ dự báo tăng trưởng thương mại năng lượng tự nhiên ở mức 6% mỗi năm, lên 907 triệu tấn dầu quy đổi (TOE) vào năm 2021-2022, và 1651 triệu TOE đến năm 2031.
 
Dự thảo Chính sách Năng lượng 2017 do cơ quan Biến đổi Ấn Độ, Niti Ayog, ban hành gần đây tiếp tục thể hiện xu hướng này đến năm 2040 với tỷ lệ 9% không đổi cho khí đốt từ năm 2022 trở đi, nhưng tỷ lệ điện tái tạo (bao gồm cả thủy điện) tăng từ 20% vào năm 2022 lên 26% vào năm 2040.
 
Khi so sánh hai tài liệu cách nhau một thập kỷ này, chúng ta có hai kết luận sau. Thứ nhất, chúng ta vẫn bi quan trong quan niệm coi khí đốt như một nguồn năng lượng sạch. Thứ hai, năng lực cạnh tranh công nghệ sẽ là chìa khóa để xác định thị phần.
 
Trong năm 2005, giá khí đốt đã đạt mức cao nhất là $13,43 (tháng 10) trên mỗi triệu Btu (đơn vị nhiệt Anh). Trong năm 2017, giá khí đốt dao động trong khoảng từ $2,82 đến 3,15 - vẫn còn quá cao khi so với giá than, và không đủ thấp để cạnh tranh với năng lượng mặt trời. Đến tháng 6/2020, giá khí đốt đã giảm xuống mức cạnh tranh $1,63.

Đáng kể hơn, thị trường khí đốt hiện linh hoạt hơn trong việc ký kết hợp đồng cung cấp và quản lý rủi ro (phái sinh và hoán đổi). Những phát triển tái cân bằng rủi ro có lợi cho người tiêu dùng.

Khí đốt tự nhiên vẫn có thế mạnh hơn năng lượng mặt trời do chi phí lưu trữ điện giảm đáng kể - dự kiến vào năm 2040. Tất nhiên, chúng ta không cần phải chọn một trong hai loại trên. Cả hai công nghệ có thể cùng tồn tại và phát triển đến mức có thể tác động giảm dầu nhập khẩu.

LNG là nhiên liệu phù hợp để cung cấp năng lượng cho các phương tiện hạng nặng với độ năng lượng tương đương với diesel nhưng không phát thải carbon nhiều như diesel. Việc sử dụng khí Khí tự nhiên nén (CNG) tăng cường hydro đã được Tập đoàn Dầu khí Ấn Độ, một tập đoàn khu vực công, thí điểm cho xe buýt tại thành phố New Delhi.

Mạng lưới cung cấp PNG (Khí tự nhiên có áp suất) ở khu vực thành thị và mạng lưới cung cấp LPG (Khí tự nhiên hóa lỏng) trong các xi lanh cho khu vực nông thôn đang phát triển, với dự đoán khi thu nhập người dân tăng lên, họ sẽ dùng khí đốt làm nhiên liệu để nấu ăn. 
 
Ông Saurabh Kumar, Giám đốc điều hành của EESL, công ty thuộc khu vực công, chuyên sản xuất bóng đèn LED giá rẻ (một đối tác của Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ), cho biết: luôn có cơ hội ngách để phát triển các dịch vụ điện phân cấp, làm mát và sưởi ấm trong các khu đô thị, khu công nghiệp và nhà ở cao cấp phức hợp.
 
Trong hồ sơ năng lượng ngày càng tăng của Ấn Độ, sẽ vẫn tồn tại nguồn cung cấp năng lượng cạnh tranh thị phần với chi phí thấp nhất, các lựa chọn năng lượng tương đối sạch sẽ, có lợi thế hơn so với những loại hình năng lượng khác, tùy theo sở thích và lựa chọn mức chi trả của người tiêu dùng trong nước.
 
Tác giả: Sanjeev S. Ahluwalia, Cố vấn, Quỹ nghiên cứu các nhà quan sát (ORF) và nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu năng lượng (TERI), New Delhi, Ấn Độ.
 
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ
 
Nguồn: https://timesofindia.indiatimes.com/blogs/opinion-india/indias-clean-energy-sweep-stakes/
 
Bấm vào đây để đọc bản tiếng Anh của bài viết này/Click here to read the English version of this article 

Bình luận của bạn