cis_banner_final_en.png
Thế giới mới cho Ấn Độ và Mỹ

26/08/2020


Thế giới mới cho Ấn Độ và Mỹ

Bất chấp cuộc khủng hoảng do dịch bệnh COVID-19, các nhà đầu tư Mỹ vẫn xếp hàng đổ tiền vào tương lai kỹ thuật số của Ấn Độ. Hơn 2 tháng qua, Ấn Độ đã nhận được khoảng 20 tỷ USD đầu tư từ các doanh nghiệp Mỹ, trong đó phần lớn vào Jio - công ty điều hành mạng di động và dịch vụ kỹ thuật số lớn nhất của Ấn Độ. Tất cả các hãng công nghệ nổi tiếng của Mỹ như Facebook, Google, KKR, Intel, Qualcomm, Silver Lake, General Atlantic Partners, Carlyle Group đã đưa ra các cam kết chắc chắn, lâu dài đối với thị trường Ấn Độ.


Đây chính là thời điểm Ấn Độ là một “tiền phương mới” cho các công ty Mỹ. Sự nổi lên của thị trường kỹ thuật số Ấn Độ đang phản chiếu thị trường kỹ thuật số Trung Quốc qua hai ngoại lệ đáng mừng: (1) Đầu tư nước ngoài tại Ấn Độ ngày càng sâu rộng và (2) Ấn Độ không thực hiện cách giám sát nhà nước kiểu Trung Quốc. Thay vào đó, Ấn Độ đang xây dựng một mạng lưới quy chuẩn gồm các nền tảng chủ yếu là mã nguồn mở và tự nguyện cộng tác với Chính phủ. Mọi dịch vụ đang được thực hiện trực tuyến, từ hồ sơ đất đai và y tế đến phúc lợi trực tiếp cho người nghèo, nhằm cắt giảm thủ tục hành chính quan liêu và nạn tham nhũng.
 
Đặc biệt, đây là thời điểm thích hợp để Mỹ thúc đẩy và làm sâu sắc quan hệ hợp tác với Ấn Độ - không chỉ công nghệ, thương mại điện tử và quốc phòng - khi thoát khỏi mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc trong 30 năm qua. Gói cứu trợ COVID-19 trị giá 265 tỷ USD mà Bộ trưởng Tài chính Nirmala Sitharaman công bố ngày 17/5/2020 sẽ tạo ra động lực. Ngoài việc hỗ trợ cần thiết trước mắt cho người nghèo và lao động nhập cư, gói cứu trợ này thúc đẩy các cải cách dài hạn của Ấn Độ, đặc biệt là quá trình tư nhân hóa nhiều doanh nghiệp Nhà nước, một động thái được các nhà kinh tế ủng hộ từ lâu và Mỹ chỉ có thể tán thành. Mức giới hạn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực quốc phòng, phần sôi động nhất trong quan hệ song phương Ấn Độ - Mỹ, đã được nâng từ 49% lên 74%. Đến nay, các doanh nghiệp tư nhân và khởi nghiệp cũng có thể tham gia lĩnh vực không gian và vệ tinh nhân tạo của Ấn Độ, vốn được NASA quan  tâm lâu nay.
 
Đúng là Mỹ có các bất đồng thương mại với Ấn Độ, từ hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với các mặt hàng như mô tô, nông sản và đồ uống có cồn đến việc kiểm soát giá thiết bị y tế và dược phẩm, rồi các vấn đề phát sinh gần đây như nội địa hóa dữ liệu, khống chế thương mại điện tử và thuế dịch vụ kỹ thuật số. Ngược lại, Ấn Độ cũng muốn tiếp cận tốt hơn các thị trường hàng hóa Mỹ. Những khó khăn này là có thật và có khả năng gây cản trở, như đã xảy ra tháng 2 vừa qua khi hai bên không đat được “thỏa thuận thương mại nhỏ”.
 
Tuy nhiên, những lợi thế chiến lược từ mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn đối với cả hai nước là rất lớn, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Một mối quan hệ đối tác giữa Ấn Độ và Mỹ đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu vốn phụ thuộc vào Trung Quốc. Mỹ rất quan tâm đến việc củng cố các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ của Ấn Độ. Còn Ấn Độ rất quan tâm đến việc học hỏi những thực tiễn tốt nhất của Mỹ, đặc biệt trong xây dựng các hệ thống quy định, phân phối và đổi mới sáng tạo nhằm áp dụng bài học thành công của Mỹ trong tạo việc làm. Giải pháp thay thế cho Ấn Độ sẽ là mô hình quy định của châu Âu vốn ít nhấn mạnh vào tăng việc làm và đổi mới sáng tạo.
 
Tình trạng hành chính quan liêu của Ấn Độ khiến giới doanh nhân Mỹ ngán ngẩm trong khi họ vốn quen với cơ chế giải quyết một cửa ở Trung Quốc. Theo xếp hạng chỉ số thuận lợi kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, Ấn Độ xếp thứ 63 trong khi Trung Quốc xếp thứ 31 - ngay trên Pháp và dưới Nhật Bản.
 
Nhưng điều quan trọng cần nhớ là, hệ thống thương mại và sản xuất vận hành trơn tru của Trung Quốc không phải được hình thành một sớm một chiều. Ở Trung Quốc, Mỹ đã dành nhiều năm để tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, bắt đầu từ năm 1986, khi Chính phủ Mỹ thay đổi lập trường, ủng hộ Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Đây là một quá trình khó khăn; không phải hai nước không có nhiều khác biệt. Nhưng Mỹ đã đóng vai trò lãnh đạo, “bảo lãnh” Trung Quốc vượt qua các quy định chặt chẽ của WTO xa lạ với nền kinh tế chính trị-xã hội của nước này.
 
Với những cải cách mới, Ấn Độ sẵn sàng chuyển sang một hệ thống quy định hiện đại. Và nếu đưa ra quyết định chiến lược để đầu tư hơn nữa vào Ấn Độ thì Mỹ sẽ cần phải cung cấp một số hỗ trợ kỹ thuật cho Ấn Độ, nhất là trong xây dựng quy định và thể chế. Theo đó, người Mỹ còn phải tích cực xây dựng mối quan hệ bình đẳng với quan chức các cấp của Ấn Độ, mở rộng phạm vi quan hệ tới các học viện, tổ chức nghiên cứu và hợp tác sâu rộng hơn với các cơ quan bán độc lập, các cơ quan nhà nước và tư nhân để tạo nền tảng vững chắc cho quan hệ song phương. Điều này cần thiết vì hoạt động giao lưu nhân dân mạnh mẽ sẽ bù đắp những khiếm khuyết trong hợp tác thể chế và học thuật giữa hai nước. Nếu không có những giao thoa này, như Mỹ từng phát triển với Trung Quốc, quan hệ Mỹ - Ấn sẽ không thể “nở hoa kết trái”.
 
Trường hợp không có sự kết nối chặt chẽ với Mỹ, Ấn Độ có thể theo mô hình quy định của châu Âu. Ở mức độ nào đó, điều đó đã xảy ra khi Ấn Độ áp dụng thuế dịch vụ kỹ thuật số kiểu châu Âu. Ấn Độ cũng đang xem xét các quy định quản lý hóa chất giống cách của châu Âu hơn.
 
Nhưng quy định kiểu châu Âu về lý thuyết là dựa trên “nguyên tắc phòng ngừa”, nhấn mạnh việc xem xét thận trọng yếu tố tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Cách tiếp cận này có hiệu quả trong điều kiện nền kinh tế có thu nhập cao, mạng lưới an sinh xã hội phát triển tốt nhưng ít phù hợp đối với các nước muốn duy trì tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế nhanh hơn.
 
Tất cả những điều này chắc chắn đưa Ấn Độ lại gần Mỹ, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng vô cớ xâm phạm biên giới phía Bắc Ấn Độ. Dù còn nhiều tranh chấp thương mại nhưng điều gì cũng có thể vượt qua. Quan hệ Mỹ - Ấn nhận được sự ủng hộ của cả hai chính đảng lớn nhất ở Quốc hội cả hai nước. Điều này sẽ đặt ra một sự sắp xếp lại địa chính trị mới: thay đổi sự chú ý toàn cầu từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, điển hình là khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương với 4 nền dân chủ lớn - Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và Mỹ, còn được gọi là Nhóm Bộ tứ - một liên minh mới và ngày càng sâu rộng để đối phó với chủ nghĩa phiêu lưu đang gia tăng của Trung Quốc ở khu vực.
 
Hiện tại, Bộ tứ đang trong quá trình trở thành mối quan hệ đối tác quốc phòng. Xét một cách nghiêm túc, mối liên kết này cần kết hợp cả các yếu tố kinh tế và công nghệ. Mỹ, Nhật Bản và Australia là những nền kinh tế lớn và có sức mạnh công nghệ, còn Ấn Độ có thể sẽ là một thị trường thử nghiệm tốt cho các công cụ chính sách toàn cầu mới này, các phương pháp sản xuất và dịch vụ bền vững mới. Với sự đồng hành chiến lược đa phương, quan hệ đối tác Mỹ - Ấn có thể được xây dựng trong 30 năm tới./.
 
Manjeet Kripalani, đồng sáng lập và điều hành  Gateway House - tổ chức nghiên cứu chính sách đối ngoại ở Ấn Độ được thành lập năm 2009.
Michael Mandel, Chiến lược gia Kinh tế trưởng, Viện Chính sách tiến bộ, Mỹ. 
Nguồn: https://www.eurasiareview.com/05082020-new-world-for-india-and-us-analysis/?fbclid=IwAR3TZ6aZDwXYhlgYse9drc60JPj40iBus278sgYa5_6Ma8q3MWt7ytjX6fU

Bình luận của bạn