cis_banner_final_en.png
Cơ hội cho ASEAN khi Mỹ thay đổi cách tiếp cận vấn đề Biển Đông

26/08/2020


Cơ hội cho ASEAN khi Mỹ thay đổi cách tiếp cận vấn đề Biển Đông

Sự thay đổi cách tiếp cận của Mỹ đối với các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là do các hoạt động gây hấn và chiến thuật bắt nạt liên tiếp của Trung Quốc đối với các nước láng giềng nhằm thiết lập quyền kiểm soát hoàn toàn khu vực này. Mỹ tuyên bố chính sách “mềm mỏng” với Trung Quốc đã kết thúc. Ngày 13/7/2020, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Mike Pompeo đã khẳng định, Chính phủ Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để đơn phương áp đặt ý chí của họ lên khu vực này. Ngoài việc bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi ở hầu hết khu vực Biển Đông và coi những yêu sách này là “hoàn toàn phi pháp”; đáng chú ý đây là lần đầu tiên Mỹ tuyên bố Chính phủ nước này đang điều chỉnh lập trường đối với các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông, phù hợp với Phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài thường trực (PCA).


Tiếp đó, trên Twitter, ông Pompeo kêu gọi các quốc gia tự do hành động để kiềm chế, ngăn không cho Trung Quốc xâm chiếm nhiều lãnh thổ hơn. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ khẳng định, Biển Đông không phải là đế chế hàng hải của Trung Quốc. Ngày 23/7/2020, ông Pompeo đã chỉ ra bản chất dối trá của giới lãnh đạo Trung Quốc, đề nghị các nước khác không nên tin vào những điều các nhà lãnh đạo Trung Quốc nói mà hãy xem những gì họ làm. Điều này đã khiến Mỹ thay đổi chính sách từ “tin tưởng nhưng cần kiểm chứng” sang “không tin tưởng và không cần kiểm chứng”. Ông Pompeo cũng nói rằng, thách thức từ Trung Quốc đòi hỏi sự nỗ lực của các nền dân chủ ở châu Âu, châu Phi, Nam Mỹ và đặc biệt là Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Ông nhắc lại rằng, sức mạnh tổng hợp về kinh tế, ngoại giao và quân sự của Liên hợp quốc, NATO, G7 và G20 có thể giải quyết được thách thức này nếu được định hướng đúng đắn. Ông cũng kêu gọi các quốc gia có cùng chí hướng thành lập một liên minh mới. Ngay sau đó, Mỹ đã triển khai tàu sân bay ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương nhằm kiềm chế thái độ hung hăng của Trung Quốc.
 
Đáng chú ý, tại Tham vấn Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng Mỹ - Australia (AUSMIN) lần thứ 30 (27/7/2020), các Bộ trưởng hai nước tái khẳng định Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là trọng tâm của liên minh này, Mỹ và Australia đang hợp tác với nhau cùng với ASEAN, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các đối tác của Nhóm “Ngũ nhãn” trong việc củng cố cấu trúc liên kết giữa các liên minh và đối tác nhằm duy trì một khu vực an toàn, thịnh vượng, toàn diện và dựa trên luật pháp. Hai bên cũng bác bỏ yêu sách “đường 9 đoạn” của Trung Quốc và tái khẳng định vai trò của Đài Loan ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Điều này phản ánh sự phản đối ngày càng tăng đối với các hành vi phi pháp của “con rồng” Trung Quốc.
 
Về bản chất, sự thay đổi cách tiếp cận của Mỹ có 4 khía cạnh quan trọng:
 
Thứ nhất, dù chưa tuyên bố bất kỳ điều gì về các tranh chấp lãnh thổ nhưng Mỹ chắc chắn đã có quan điểm về các tranh chấp hàng hải về quyền đối với các vùng biển và đáy biển - điều quan trọng với các quốc gia ven biển.
 
Thứ hai, hiện Mỹ kiên quyết ủng hộ Phán quyết PCA năm 2016, theo đó bác bỏ yêu sách “đường 9 đoạn” của Trung Quốc.
 
Thứ ba, các thực thể như Đá Vành Khăn, Bãi Cỏ Mây và Bãi Cỏ Rong vốn chìm tự nhiên nên không phải là đối tượng của bất kì tuyên bố chủ quyền nào. Mỹ sẽ đưa các thực thể khác như bãi cạn Luconia, James Shoal ngoài khơi Malaysia, Bãi Tư Chính ngoài khơi Việt Nam vào diện này.
 
Thứ tư, lần này Mỹ đã chỉ rõ những hành động của Trung Quốc là “phi pháp”, trước đó Mỹ chỉ dùng những từ ngữ như “gây bất ổn” hoặc “hung hăng”.
 
Mặc dù sự thay đổi trong chính sách của Mỹ về lâu dài sẽ khiến Trung Quốc phải trả giá và thu hút sự ủng hộ của các đồng minh và đối tác, nhưng trước mắt có 3 khía cạnh quan trọng sau:
 
Thứ nhất, trong tương lai, có thể Mỹ sẽ có phản ứng ngoại giao mạnh mẽ hơn để lên án các hành vi của Trung Quốc xâm phạm trái phép Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hoặc cản trở hoạt động dầu khí hay đánh bắt cá của các nước khác ở khu vực.
 
Thứ hai, Mỹ sẽ đưa các hành vi bất hợp pháp vào văn kiện của các diễn đàn quốc tế với các điều khoản/ngôn từ mạnh mẽ và bắt buộc. Điều này sẽ không còn giới hạn ở Hội nghị cấp cao Đông Á mà sẽ được nêu ra tại Liên hiệp quốc, G7, G20…
 
Thứ ba, Mỹ còn có thể thực hiện thêm nhiều biện pháp để gây thiệt hại kinh tế cho Trung Quốc. Bằng tuyên bố một số hoạt động của Trung Quốc là bất hợp pháp, Mỹ đã tự trang bị lập luận cho việc áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với một số công ty và tổ chức Trung Quốc do đã thực hiện các hoạt động trên.
 
Mục tiêu của Mỹ là thay đổi cách hành xử của Trung Quốc và Mỹ cần các nước khác ủng hộ. Trước mắt, căng thẳng có thể leo thang do Trung Quốc sẽ thi hành chính sách ngoại giao “chiến lang” để xoa dịu dư luận trong nước. Điều này đã được phản ánh qua diễn biến quá trình hạ nhiệt căng thẳng ở biên giới Ấn Độ - Tây Tạng. Giới ngoại giao Trung Quốc đang thể hiện thái độ cao ngạo khi cho rằng, Trung Quốc chỉ đang bảo vệ chủ quyền còn Ấn Độ đang có các hành động gây hấn.
 
Tình hình trên tạo cơ hội cho ASEAN và Việt Nam trên cương vị Chủ tịch ASEAN có các động thái phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích của mình, nhưng cũng đặt ra cho họ trách nhiệm nặng nề.
 
Trước hết, ASEAN cần đi trước các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, EU… trong việc nêu ra những hành động và yêu sách phi lý của Trung Quốc một cách mạnh mẽ hơn và liên kết các động thái chiến lược đó. Cùng với sự hỗ trợ của Liên hợp quốc, điều này tạo cơ hội gây sức ép buộc Trung Quốc sớm kết thúc đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) có tính ràng buộc pháp lý và tuân thủ Phán quyết của PCA. Hội nghị Liên hiệp quốc - ASEAN, theo sáng kiến của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch ASEAN, cần được thực hiện thường xuyên. Các cơ chế tương tự cũng nên được thiết lập với các tổ chức quốc tế khác.
 
Thứ hai, cộng đồng quốc tế giờ đây sẵn sàng giúp đỡ các nước ASEAN xây dựng năng lực quân sự. Đây là cơ hội tăng cường tiềm lực qua việc sở hữu được các loại vũ khí và công nghệ hiện đại. Việt Nam có thể xúc tiến việc mua công nghệ quốc phòng và tên lửa như BrahMos từ Ấn Độ vì hai nước là đối tác chiến lược của nhau. Bên cạnh đó, các thành viên ASEAN có thể được khuyến khích tham gia các cuộc tập trận hải quân với Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ. Quá trình triển khai Nhóm Bộ tứ mở rộng có thể bao gồm cả ASEAN và Hàn Quốc có thể kiềm chế “con rồng” Trung Quốc và tăng cường những nỗ lực duy trì khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở dựa trên luật pháp và chuẩn mực quốc tế.
 
Thứ ba, vai trò Chủ tịch ASEAN không nên để bất kỳ thành viên nào bị Trung Quốc gây sức ép. Đây sẽ là một nhiệm vụ khó khăn do Trung Quốc đang sử dụng mọi thủ đoạn để lôi kéo những nhân vật có ảnh hưởng ở các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn. Tuy nhiên, khi các thành viên ASEAN nhận ra hậu quả của việc đi theo và rơi vào bẫy nợ của Trung Quốc, dư luận hy vọng tình hình tương tự do Trung Quốc gây ra năm 2012 sẽ không lặp lại.
 
Thứ tư, nỗ lực của Trung Quốc nhằm khẳng định “đường 9 đoạn” là các yêu sách lịch sử cần phải bị đập tan. Đây chỉ là những lập luận tùy tiện do Trung Quốc đưa ra với hy vọng sẽ được cộng đồng quốc tế chấp nhận. ASEAN cần đạt được một thỏa thuận rằng, tất cả các bên phải thể hiện Biển Đông như một khu vực chung trên bản đồ chính thức của mình. Nếu các bên có thể đồng thuận về một địa danh chung phù hợp cho Biển Đông, chẳng hạn như Biển Đông Nam Á, điều đó sẽ tốt hơn nhiều.
 
Thứ năm, ASEAN cũng có thể gây thiệt hại kinh tế cho Trung Quốc bằng cách giảm sự phụ thuôc vào hàng hóa Trung Quốc. Một số doanh nghiệp đang rời khỏi Trung Quốc và Hồng Công, khiến chuỗi cung ứng của Trung Quốc bị gián đoạn. Điều này đem lại cơ hội tuyệt vời cho Việt Nam, nước đã quản lý kinh tế tốt hơn Trung Quốc trong năm nay. Những công ty trên nên được cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết để chuyển khỏi Trung Quốc và đảm bảo nới lỏng các quy định nếu cần. Việt Nam có thể trở thành trung tâm sản xuất ở Đông Nam Á. Về kinh tế, Ấn Độ và Việt Nam có thể là những đối tác để tăng cường chuỗi cung ứng quốc tế. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ gồm điện thoại di động và linh kiện, máy móc, máy tính và phần cứng điện tử, cao su tự nhiên, hóa chất và cà phê, còn các mặt hàng xuất khẩu của Ấn Độ sang Việt Nam gồm các sản phẩm thịt và thủy sản, ngô, thép, dược phẩm, bông và máy móc. Việt Nam cũng đang xuất khẩu gạo chất lượng cao sang các nước khác. Vì châu Phi, Tây Á và châu Âu có cầu rất lớn đối với những hàng hóa trên nên việc cải thiện kết nối có thể thúc đẩy đáng kể trao đổi thương mại của Việt Nam với các thị trường này./.

S.D. Pradhan từng là Chủ tịch Ủy ban Tình báo, Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Ấn Độ; từng giảng dạy về quốc phòng ở Đại học Punjab (Ấn Độ), giáo sư thỉnh giảng Đại học Illinois (Mỹ) về kiểm soát vũ khí và giải trừ quân bị.
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ
Nguồn: https://timesofindia.indiatimes.com/blogs/ChanakyaCode/changing-approach-of-us-towards-south-china-sea-aseans-opportunity/

Bình luận của bạn