cis_banner_final_en.png
Liên minh giữa các công ty công nghệ lớn và chính phủ hậu Covid-19

05/10/2020


Liên minh giữa các công ty công nghệ lớn và chính phủ hậu Covid-19

Vi rút corona mới là đại dịch đầu tiên có quy mô lớn trong thời cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Có thể so sánh đại dịch lần này với dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918. Điều này có nghĩa đây là lần đầu tiên các chính phủ áp dụng công nghệ tiên tiến và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số để hướng tới giảm nhẹ tác động của đại dịch, và cùng thực hiện những nỗ lực chung trong quá trình lãnh đạo cuộc chiến với đại dịch.


Evgeny Morozov đã đưa ra khái niệm về chủ nghĩa giải pháp công nghệ (technology solutionism), đồng thời phê bình chủ nghĩa này vì cho rằng nó lạc quan quá mức trong quá trình ứng phó với đại dịch. Điều này không chỉ thay đổi bản chất của cả chính phủ và các công ty công nghệ lớn (Big Tech) mà còn điều chỉnh các mối quan hệ đối tác giữa khối Big Tech và các cơ quan chính phủ, mối quan hệ đó khó có thể phát triển trước đại dịch.

Bản chất phát triển của Big Tech và chính phủ
Big Tech có nguồn lực và tầm ảnh hưởng tương đương với các chính phủ của các quốc gia. Trong nỗ lực giành lại lòng tin đang ngày càng suy yếu của công chúng, Big Tech chú trọng hơn vào việc sử dụng công nghệ để giảm nhẹ và cứu trợ đại dịch. Big Tech đã cắm lá cờ trên những lĩnh vực mà nhà nước không đủ năng lực quản trị (ví dụ như Google và Apple hợp tác phát triển API để thông báo cho người sử dụng biết những nguy cơ về xâm phạm quyền riêng tư) và tăng tốc độ phát triển các giải pháp công nghệ, làm cho công nghệ trở thành nền tảng để ứng phó với đại dịch (ví dụ: các tình nguyện viên của các công ty khởi nghiệp công nghệ, có tính chất gần như công ty kỳ lân, đã hỗ trợ phát triển các ứng dụng theo dõi tiếp xúc của Ấn Độ, như app Aarogya Setu, dữ liệu thu thập được lưu trữ trên dịch vụ Amazon Web Services).

Chính điều này đã dẫn đến việc củng cố trách nhiệm công dân của Big Tech. Trách nhiệm công dân của Big Tech vốn đã tồn tại một cách không chính thức khi xem xét ảnh hưởng của những công ty này đối với việc tìm hiểu hành vi và sở thích của người tiêu dùng sử dụng các nền tảng phổ biến. Theo một cuộc thăm dò mới của công ty nghiên cứu Harris, 38% người Mỹ cho biết, họ đánh giá Big Tech đã trở nên tích cực hơn kể từ khi đại dịch xảy ra, và 71% sẵn sàng chia sẻ dữ liệu định vị cá nhân để nhận được cảnh báo về khả năng tiếp xúc với người nhiễm vi rút.

Mặt khác, việc nhiều chính phủ áp dụng chủ nghĩa giải pháp công nghệ đã lặp lại hành động các Big Tech thường làm. Ví dụ việc lưu trữ tập trung ở cấp độ quốc gia và sử dụng dữ liệu GPS trong các ứng dụng theo dõi tiếp xúc, hay lưu trữ dữ liệu thu thập được ở bất kỳ đâu từ 60 ngày (Ấn Độ) đến 6 năm (Ba Lan). Ngày càng có nhiều chính phủ bắt tay vào thực hiện thu thập dữ liệu cá nhân theo thời gian thực của các công dân.

Khi cả Big Tech và chính phủ đều nắm các vai trò mới và có phần giống nhau, đã tạo ra một hệ sinh thái trong đó cả Big Tech và chính phủ tương tác và hợp tác với nhau. Liên minh này được khuyến khích vì xã hội ngày càng cảm thấy thoải mái hơn với việc bị quản lý thông tin cá nhân, hoặc nhiều công dân cảm thấy bị thuyết phục về sự cần thiết và vai trò của công nghệ trong cuộc sống của họ, ít nhất là trong thời kỳ đại dịch. Ví dụ, chính phủ Ấn Độ đã chấp nhận sự giúp đỡ của Google, WhatsApp và Facebook cho các chiến dịch thông tin đại chúng và truyền thông phòng chống khủng hoảng, dựa trên cơ sở dữ liệu lớn từ người dùng Internet của Ấn Độ. Ấn Độ cũng hợp tác với ứng dụng bản đồ trên Google (Google Maps) khi người lao động bắt đầu đi bộ về quê khi có lệnh phong tỏa, từ đó điều chỉnh ứng dụng nhằm làm hiển thị rõ nơi trú chân ban đêm và nơi cấp lương thực ở 30 thành phố.

Đại dịch là một thời điểm quan trọng để điều chỉnh mối quan hệ giữa Big Tech với chính phủ. Trong khi ở Mỹ, Facebook, Amazon, Google và Apple đang bị Quốc hội Mỹ giám sát vì nhiều cáo buộc chống độc quyền và vì các công ty này có quy mô quá to lớn, sự lớn mạnh này cũng khiến Big Tech trở thành đồng minh thích hợp cho các chính phủ khi chính phủ thiết lập các phản ứng đối phó với vi rút corona.

Nhiều rủi ro tiềm ẩn 
Ngày càng có nhiều lo ngại rằng, khi Big Tech và chính phủ kết hợp với nhau, cả hai khối sẽ dễ chia sẻ thông tin cho nhau, có thể dẫn đến việc chia sẻ quá nhiều. Điều này xảy ra theo hai hướng, chính phủ chia sẻ nhiều dữ liệu hơn và ngược lại, chính phủ mong đợi Big Tech sự chia sẻ dữ liệu với chính phủ. Như vậy, mỗi cá nhân bị số hóa nhiều hơn, và con người trở nên “trần trụi” không thể che giấu điều gì. Nếu không có quy định phù hợp và minh bạch, sự hợp tác giữa Big Tech và chính phủ sẽ bị lạm dụng, cho dù chúng có hiệu quả trên quan điểm y tế công cộng. Ví dụ bộ luật y tế Alipay của Trung Quốc có hiệu quả trong việc làm chậm tỷ lệ lây nhiễm, nhưng trên thực tế, cuối cùng đã chia sẻ dữ liệu trực tiếp với các máy chủ của chính phủ và cụ thể là cho cơ quan cảnh sát.

Tuy nhiên, có thách thức lớn hơn, đó là, bản thân quy định có thể được sử dụng làm công cụ chính trị cho các lợi ích ngoài tư pháp, đặc biệt là của các chính phủ. Vào tháng 3/2020, chính phủ Mỹ đã thăm dò quan hệ đối tác với Facebook, Google và những công ty công nghệ khác để thu thập dữ liệu vị trí từ điện thoại thông minh, để theo dõi xem mọi người có giãn cách xã hội hay không. Các quốc gia như Israel đã thông qua luật khẩn cấp để bắt buộc người dùng mạng xã hội chia sẻ vị trí. Mặc dù hầu hết các biện pháp này được cho là nhằm chia sẻ dữ liệu ẩn danh, nhưng nguy cơ lạm dụng vẫn tồn tại, vì ẩn danh không được coi là an toàn và chỉ có thể tránh được việc nhận dạng lại khi dữ liệu được phân cấp. Việc phá vỡ các ngăn chặn giữa cơ sở dữ liệu của chính phủ và dữ liệu của Big Tech, mặc dù được ẩn danh, có thể dẫn đến khả năng nhận dạng lại. Google có thể chỉ biết tọa độ GPS của bạn, nhưng từ thông tin về tọa độ địa lý của bạn, chính phủ có thể liên kết thông tin với địa chỉ nhà riêng, các khoản thanh toán tiện ích, hồ sơ tội phạm, lịch sử y tế, v.v…

Mặt khác, còn một mối lo ngại nữa, đó là năng lực quản trị dữ liệu lớn của nhà nước còn hạn chế, nhất là trong thời kỳ đại dịch. Ngoài vấn đề quản trị dữ liệu, sự phụ thuộc nhiều hơn vào các tổ chức tư nhân, đặc biệt là những tổ chức ít được người dân tín nhiệm, để phát triển các công cụ công nghệ thiết yếu, đã cản trở sự phát triển năng lực bền vững của nhà nước. Nó cũng ngăn cản nhà nước đưa ra các lựa chọn độc lập, do phải phụ thuộc nhiều vào các tác nhân bên ngoài khối nhà nước để thực hiện các chức năng của nhà nước, đặc biệt trong những trường hợp khẩn cấp. Đây là lý do tại sao ứng dụng thông báo tiếp xúc với người nghi nhiễn vi rút của Google-Apple lại được chính phủ chấp nhận và đã thành công.

Hướng hợp tác trong tương lai
Cho dù có nhiều rủi ro và ảnh hưởng xấu đối với quyền tự do cá nhân, nhưng sự hợp tác giữa chính phủ và Big Tech là cần thiết, cả trong thời kỳ khủng hoảng cũng như lúc bình thường, vì việc cung cấp dịch vụ phúc lợi ngày càng phụ thuộc vào công nghệ. Điều này đúng hơn đối với các công nghệ mới liên quan đến sức khỏe. Theo một cuộc khảo sát gần đây, nhiều công nghệ đã thể hiện rõ là có công lớn trong cuộc chiến chống lại Covid-19. Do đó, chính phủ và khối doanh nghiệp công nghệ tư nhân sẽ hợp tác chặt chẽ hơn, nhất là trong lĩnh vực liên quan tới các dữ liệu nhạy cảm về sức khỏe.

Cần đưa ra nhiều quy định mới để thực sự tối ưu hóa cơ hội hợp tác giữa khối công nghệ và chính phủ, trong khi vẫn đảm bảo các yêu cầu đối với quyền tự do cá nhân, và thiết lập mối quan hệ đối tác tương xứng giữa Big Tech, chính phủ và xã hội nói chung. Các quy định này bao gồm các tiêu chuẩn thực chất và các mô hình được thể chế hóa nhằm đặt quyền riêng tư lên vị trí cốt lõi, bảo vệ chống lại sự chênh lệch giữa các hoạt động y tế công cộng cũng như các hoạt động khác của chính phủ, và ngăn chặn việc khai thác dữ liệu cá nhân cho mục đích thương mại.

Thứ nhất, cần phải nhận ra rằng, không có gì thay thế được cho cơ chế tự điều chỉnh dựa trên mục tiêu vì sự an toàn như cách các Big Tech đang áp dụng hiện nay. Cơ chế tự điều chỉnh có thể được kích hoạt nhờ sự tích cực của mỗi công dân, cũng như sự cảnh giác của chính phủ, đặc biệt là trong quan hệ đối tác giữa các cơ quan trong chính phủ. Ví dụ, Microsoft đã hợp tác với Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) để tạo ra một chatbot (rô bốt thoại tự động) tự đánh giá do Azure cung cấp, đồng thời đảm bảo rằng, không có dữ liệu nào được chia sẻ với CDC đến được với Microsoft. Điều này được thực hiện bằng cách tuân thủ các nguyên tắc giảm thiểu và sự đồng thuận về cách hiểu, cũng như bằng cách thiết lập và áp dụng các biện pháp bảo mật, như khử nhận dạng, mã hóa, số nhận dạng xoay vòng và ngẫu nhiên, danh tính phi tập trung, v.v. Điều này cũng có thể áp dụng đối với các hoạt động chia sẻ dữ liệu với chính phủ, có thể là bắt buộc về mặt đạo đức, từ quan điểm sức khỏe cộng đồng. Tổng hợp và ẩn danh, thay vì chỉ ẩn danh dữ liệu trước khi chia sẻ có thể giúp bảo vệ khỏi rủi ro nhận dạng lại trong khi có thông tin sẵn sàng cho chính phủ, chẳng hạn như trong báo cáo của Google về sự chuyển động của cộng đồng.

Thứ hai, việc thể chế hóa các cấu trúc và thực tiễn chia sẻ dữ liệu, như tin cậy dữ liệu và tạo ra các bộ dữ liệu mở, có thể dẫn đến mối liên hệ chặt chẽ giữa đổi mới và thận trọng. Để thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới, nhiều chính phủ và tổ chức học thuật trên toàn thế giới chia sẻ dữ liệu phi cá nhân thông qua các kho lưu trữ mở. Điều này cho phép chính phủ đóng vai trò định hình thị trường và thúc đẩy đổi mới trong các vấn đề ưu tiên. Chính phủ cũng có thể yêu cầu quyền sở hữu trí tuệ hoặc các điều khoản sử dụng công cộng đối với những đổi mới sáng tạo được xây dựng trên dữ liệu mà chính phủ được người dân ủy thác quản lý.

Mô hình kho lưu trữ mở một phần đã tồn tại từ lâu trong nghiên cứu học thuật, nhưng có thể được điều chỉnh thêm cho các công ty công nghệ và phân tích dữ liệu lớn. Ví dụ, Ngân hàng BioBank của Anh được thành lập vào năm 2006 để quản lý dữ liệu di truyền và mẫu sinh học của nửa triệu người. Các nhà khoa học muốn sử dụng dữ liệu cho mục đích nghiên cứu sức khỏe phải đăng ký và xin quyền truy cập dữ liệu. Cách làm này tạo sự tin cậy vào dữ liệu, về cơ bản, đã đưa đề xuất này tiến lên một bước về khả năng truy cập mở và phổ cập, quản lý dữ liệu không chuyên biệt, cũng như tổng hợp dữ liệu từ tất cả các nguồn, bao gồm cả khu vực tư nhân. Từ ví dụ này, chúng ta hiểu rằng, một cơ quan quản lý độc lập thay mặt cho công chúng có thể đảm bảo cho quyền riêng tư của tập thể được bảo mật tốt hơn, so với các yêu cầu cá nhân được thực thi một cách khác nhau. Một mô hình khác để khám phá dữ liệu, có thể không có tiện ích phúc lợi công cộng nhưng có giá trị đối với các công ty công nghệ, là mô hình thị trường dữ liệu. Theo đó, dữ liệu được mã hóa, ẩn danh tại nguồn và tùy từng mục đích, có thể được chia sẻ với đối tác ở khu vực tư nhân, đi cùng với các quy tắc quản lý quyền kỹ thuật số. Nhiều mô hình khác nhau đang tồn tại và đang được thử nghiệm trên khắp thế giới và ở Ấn Độ (với đề xuất khung quản trị dữ liệu phi cá nhân), những câu hỏi về việc cơ quan nào có thể đủ vị thế độc lập để thực hiện vai trò của người được ủy thác quản lý dữ liệu vẫn còn là bài toán khó. Có thể khó khuyến khích các công ty công nghệ lớn tham gia vào một mô hình như vậy.

Cuối cùng, quy định tham vấn vì lợi ích của công chúng và chủ sở hữu dữ liệu là cần thiết. Không có gì thay thế cho các tiêu chuẩn ẩn danh rõ ràng, các hợp đồng được tiêu chuẩn hóa và minh bạch với các điều khoản nghiêm ngặt về lưu trữ và giảm thiểu dữ liệu, đi kèm với cơ chế thực thi hiệu quả. Các sản phẩm công nghệ là kết quả của quá trình hợp tác giữa Big Tech và chính phủ nên công khai nguồn gốc rõ ràng để xây dựng lòng tin với công chúng. Các cơ quan quản lý cũng cần có những yêu cầu hợp lý và chính đáng để đảm bảo rằng dữ liệu do các công ty Big Tech thu thập, đặc biệt là thông qua sáng kiến hợp tác với chính phủ, phải được cung cấp trở lại cho các cơ quan thuộc khối nhà nước.

Mặc dù các thử nghiệm với các mô hình cộng tác, các hệ thống và quy định khác nhau vẫn đang diễn ra, nhưng việc tôn trọng tính hợp pháp, sự cần thiết và tính tương xứng với bất kỳ hình thức cộng tác và chia sẻ dữ liệu nào là điều bắt buộc. Cả Big Tech và chính phủ nên thay mặt công chúng để bảo vệ công chúng chống lại sự thái quá của bên kia - vì đó có thể là lựa chọn duy nhất mà chúng ta có lúc này, cho dù ý tưởng có lý tưởng hóa đến đâu chăng nữa.

Tác giả: Abhinav Verma, Trưởng nhóm Chính sách và Chiến lược (Tư vấn Ấn Độ) tại Văn phòng Khu vực Châu Á của Quỹ Rockefeller.
Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Nguồn: https://www.orfonline.org/expert-speak/treading-the-unusual-alliance-between-big-tech-and-the-government-post-covid-19-74472/

Bấm vào đây để đọc bản tiếng Anh của bài viết này/Click here to read the English version of this article

 

Đọc thêm về
Bình luận của bạn