cis_banner_final_en.png
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TRUYỀN THÔNG Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN NAY

12/10/2020


GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TRUYỀN THÔNG Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong những năm qua, hoạt động truyền thông đã đạt được nhiều thành tựu ở vùng dân tộc thiểu số (DTTS), giúp cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho người dân, tạo ra bước chuyển biến rõ nét về nhận thức, đổi mới tư duy, khơi dạy ý chí phấn đấu vươn lên phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững ổn định chính trị, giữ gì và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn chưa đạt hiệu quả, tỷ lệ người được tiếp nhận thông tin chính thống chưa cao, vẫn còn một số người chưa nghe và nói được tiếng phổ thông… Vì vậy, cần phải nghiên cứu làm rõ thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường truyền thông, xây dựng cuộc sống giàu đẹp, văn minh ở vùng DTTS.


1. Tình hình truyền thông cho vùng DTTS

Vùng DTTS đa số ở miền núi, vùng cao, vùng xa, trình độ dân trí thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, nên mục đích tiếp cận thông tin cũng có những khác biệt so với các vùng đồng bằng. Kết quả khảo sát thực tế chỉ rõ, 86% người dân thường xuyên xem truyền hình; 30% nghe đài, 28% đọc báo. Trong đó, 80% công chúng xem/đọc báo chí vì nhu cầu văn hóa, giải trí; 73% quan tâm thông tin về sản xuất nông nghiệp; trên 55% quan tâm tin tức trong nước, chỉ 15% quan tâm thông tin quốc tế; gần 40% quan tâm thông tin về chính sách, pháp luật, nhất là chính sách liên quan đến đồng bào; 27% theo dõi các thông tin về điển hình tiên tiến làm kinh tế giỏi; 28% quan tâm thông tin về y tế, chăm sóc sức khỏe; 25% quan tâm thông tin về tiến bộ khoa học kỹ thuật; 42% quan tâm đến thông tin xóa đói giảm nghèo; 9% quan tâm về kinh tế, thị trường giá cả, kinh doanh…[1].

 

Thời gian qua, các cơ quan báo chí đã tích cực xây dựng các chương trình, chuyên mục, viết bài hướng tới công chúng là người DTTS, đồng thời giới thiệu, quảng bá tiềm năng kinh tế, du lịch của vùng DTTS. TTXVN, Đài Truyền hình VN, Đài Tiếng nói VN, Báo Nhân dân, báo chí các tỉnh đi đầu trong truyền thông cho vùng DTTS. Từ năm 1991 đến nay, Nhà nước đã cấp phát báo miễn phí cho đồng bào vùng đặc biệt khó khăn (hiện nay có 19 sản phẩm), Đài TNVN phát 12 thứ tiếng dân tộc, kênh truyền hình VTV5 phát sóng 22 thứ tiếng dân tộc, sóng phát thanh và truyền hình đã phủ sóng đến trên 95% số xã trên cả nước, internet cũng được lắp đặt ở hầu hết các xã. Tuy nhiên, các chương trình truyền hình, phát thanh, báo in ở Trung ương được xem/nghe nhiều hơn so với địa phương.

Hệ thống truyền thông trực tiếp ở cơ sở được củng cố. Ở hầu hết các thôn, bản xa xôi, mạng điện thoại đã được tăng cường, loa truyền thanh, nhà văn hóa thôn, bản, ấp là nơi cung cấp thông tin thường xuyên, thiết thực cho đồng bào. Hoạt động tuyên truyền miệng được đề cao thông qua già làng, trưởng bản, người uy tín, đội ngũ báo cáo viên, bộ đội biên phòng, giáo viên, cán bộ y tế. Việc treo nhiều pano, ap phích, phát băng đĩa, tờ rơi… đã góp phần tuyên truyền, giải thích hướng dẫn đồng bào thực hiện pháp luật, chính sách mới, xây dựng lối sống văn hóa, bảo vệ môi trường, khuyến học, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, lễ hội truyền thống cũng là dịp lồng ghép truyền thông chính sách mới rất tốt. Phần lớn người DTTS thích xem/nhìn trực quan, sinh động nên dễ tiếp thu thông tin mới trong những dịp lễ hội, văn nghệ, chiếu phim, diễn kịch…

Tuy nhiên, một số vấn đề đặt ra là:

- Thứ nhất, số lượng cơ quan báo chí truyền thông phục vụ nhu cầu thông tin cho vùng DTTS khá nhiều nhưng hiệu quả còn thấp. Số lượng tác phẩm viết về DTTS lớn, nhưng chất lượng còn nhiều hạn chế, cả về hình thức và nội dung; tỷ lệ người xem/nghe chưa cao.

- Thứ hai, các bài báo, chương trình viết về DTTS còn đơn giản, nặng về tuyên truyền chính sách,  chưa biên tập lại cho phù hợp với trình độ nhận thức người DTTS. Các bài báo chủ yếu là tin, bài phản ánh (chiếm hơn 70%), chất lượng chưa cao, na ná giống nhau; nhiều chữ, ít ảnh; rất hiếm bài xã luận, bình luận, điều tra, phóng sự….

- Thứ ba, mức độ đầu tư của Trung ương và địa phương cho công tác truyền thông khá lớn, nhưng tỷ lệ bài trên các báo Trung ương viết/nói về DTTS còn ít (5-10%), những bài phản ánh về nguồn lực địa phương, thu hút đầu tư, du lịch, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống còn thiếu chiều sâu.

- Thứ tư, truyền thông trực tiếp khá hiệu quả, nhưng do nhiều nơi thiếu nhà văn hóa, sân chơi thể thao, trang thiết bị nơi sinh hoạt cộng đồng nên các cuộc họp thôn, bản, ấp phải họp ở nhà riêng, không thể tập hợp đông người, thậm chí không theo định kỳ, các sinh hoạt cộng đồng thưa dần.

2. Một số giải pháp và kiến nghị chính sách

- Thứ nhất, Bộ Thông tin - Truyền thông kiểm tra, giám sát nội dung báo chí truyền thông viết về vùng DTTS, xử lý kịp thời những bài báo, bài viết có dấu hiệu vi phạm thuần phong mỹ tục, viết sai lệch về DTTS, kỳ thị người DTTS… Hàng năm, Ủy ban Dân tộc phải thảo luận và ký hợp văn bản phối hợp công tác với các cơ quan báo chí trong truyền thông về vùng DTTS; trong đó nhấn mạnh trách nhiệm chính trị của các cơ quan báo chí và các nhà báo trong thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao cho, từ đó xây dựng và thiết kế chuyên trang, chuyên mục về vùng DTTS.

- Thứ hai, các cơ quan báo chí nên phân công một số nhà báo, phóng viên chuyên trách viết về vùng DTTS, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tự nghiên cứu để có vốn kiến thức chuyên sâu; hoặc tuyển chọn nhà báo là người DTTS vào làm việc. Có chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho các nhà báo viết về DTTS vì điều kiện vật chất khó khăn hơn, tư liệu ít và khó tìm hơn so với các mảng đề tài khác.

- Thứ ba, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình dành cho vùng DTTS, tăng cường những bài phóng sự chuyên sâu; nâng cao chất lượng VOV4 và kênh VTV5 để thu hút khán giả nhiều hơn. Cần chỉ đạo và nâng cao ý thức trách nhiệm của những người thực hiện- từ việc vận chuyển, chuyển giao báo miễn phí đến tổ chức đọc báo ở thôn bản, để có nhiều người được đọc, nhất là người dân. Tiếp tục mở rộng mạng lưới Internet để đồng bào có điều kiện đọc báo điện tử, mạng xã hội. Đoàn Thanh niên phải hướng dẫn, chỉ rõ cho thanh niên biết mặt trái của mạng xã hội, phòng tránh thông tin sai lệch, độc hại.

- Thứ tư, các cơ quan báo chí truyền thông cần đẩy mạnh quảng bá tiềm năng, thế mạnh của vùng DTTS nhằm thu hút đầu tư, du lịch, liên kết phát triển kinh tế- xã hội với các địa phương khác. Cần phối hợp tốt giữa báo chí cấp tỉnh, huyện với cấp xã và thôn, bản, ấp. Ở các vùng DTTS, hệ thống loa truyền thanh thôn, bản vẫn còn phát huy tốt vai trò, vào buổi sáng sớm và chiều tối, trước khi đi làm và sau khi đi làm về nhà, bà con rất thích nghe thông tin thông qua loa đài phát trực tiếp. Vì vậy, các địa phương nên đầu tư kinh phí để sửa chữa, lắp đặt mới ở các làng, bản, ấp (Hiện nay, số thôn ở vùng DTTS có loa truyền thanh chỉ đạt 50%).  Đồng thời, có chế độ thù lao thỏa đáng đối với cán bộ truyền thông cơ sở để họ yên tâm làm việc, hiện nay thù lao quá thấp.

- Thứ năm, phải xây dựng mạng lưới cộng tác viên báo chí truyền thông ở các địa phương. Tuyển chọn những người có khả năng viết bài, có hiểu biết nhất định về báo chí, truyền thông; mở lớp tập huấn, hướng dẫn họ kỹ năng chụp ảnh, quay phim, viết bài rồi gửi cho các cơ quan báo chí truyền thông. Đây là kinh nghiệm của Cộng hòa Áo, nơi Đài truyền hình OKTO (ở thủ đô Viên) chủ yếu phát các sản phẩm do các cộng tác viên không chuyên từ các cộng đồng người thiểu số gửi về, phản ánh chân thực mọi mặt cuộc sống của các nhóm người khác nhau.

- Thứ sáu, tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ truyền thông cho đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở, tiếp tục đầu tư xây dựng nhà văn hóa (sinh hoạt cộng đồng). Hàng năm nên tổ chức cuộc họp các già làng, trưởng thông, các cộng tác viên truyền thông để tổng kết, rút kinh nghiệm, đồng thời tập huấn, hướng dẫn kỹ năng truyền thông, thuyết trình cho họ. Kết quả khảo sát cho thấy, gần 30% công chúng tiếp nhận thông tin thông qua người thân, hàng xóm, do vậy cần nâng cao dân trí cho những người có uy tín để họ tuyên truyền chính sách. Mỗi thôn bản phải có 1-2 người là hạt nhân truyền thông, là người hiểu biết, thông thạo tiếng phổ thông và tiếng dân tộc để phổ biến, giải thích cho cộng đồng chủ trương, chính sách mới. Hàng tháng, quý gửi cho họ tài liệu cần tuyên truyền, để họ thường xuyên cập nhật thông tin, có điều kiện nghiên cứu, kịp thời phổ biến, giải thích bằng ngôn ngữ DTTS cho cộng đồng. Rà soát và củng cố hệ thống nhà văn hóa thôn, bản để người dân có nơi tổ chức sự kiện, lưu giữ báo chí, sách; sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trao đổi thông tin…

- Thứ bảy, khuyến khích các tổ chức, cơ quan đẩy mạnh truyền thông ở vùng DTTS, kế cả các doanh nghiệp, các NGO. Tuy nhiên, tăng cường kiểm tra giám sát để bảo đảm những thông tin hướng tới đồng bào DTTS là những thông tin chính thống, có giá trị nâng cao nhận thức và giúp đồng bào xóa đỏi giảm nghèo, xây dựng cuộc sống văn minh. Kiên quyết xử lý các tổ chức lợi dụng dự án, chương trình hỗ trợ đồng bào để tuyên truyền kích động chống phá chính quyền, làm mất đoàn kết giữa các dân tộc, truyền đạo trái phép. Phải lắp đặt thêm các trạm phát sóng truyền hình, phát thanh, mạng Internet ở các vùng sâu, vùng xa, vùng lõm, mà hiện nay chưa có sóng hoặc sóng yếu.

- Thứ tám, sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực và kinh phí dành cho truyền thông vùng DTTS. Có thể nói, nguồn kinh phí Nhà nước đầu tư cho phát triển các vùng DTTS không nhỏ, trong đó có đầu tư cho truyền thông, nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao, còn trùng chéo, lãng phí, thất thoát. Vì vậy các cơ quan chức năng, nhất là Ủy ban dân tộc và các Ban Dân tộc các tỉnh cần rà soát, thẩm định các chương trình, dự án đã triển khai để tổng kết, rút kinh nghiệm. Việc cấp phát báo, radio miễn phí hiệu quả chưa cao, số lượng người đọc và nghe đài chưa nhiều, có thể phải tính toán lại về số lương báo và đối tượng cấp phát để tăng tỷ lệ công chúng báo chí. Phương thức hiệu quả và mang tính ổn định nhất là đào tạo, bồi dưỡng chính người DTTS trực tiếp tham gia làm công tác truyền thông. Đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ các đoàn thể cơ sở, nếu được trang bị kiến thức, hướng dẫn kỹ năng truyền thông, sẽ là những nhân tố truyền thông tích cực, vừa gắn với chức năng phổ biến chính sách, tập hợp hội viên của họ (như Hội Nông dân, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ…)./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc.

2. Nguyễn Văn Lợi- Lưu Văn An (đồng chủ biên), Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý, Nxb Thông tấn, 2017.

3. Đặng Thị Thu Hương, Truyền thông phát triển, truyền thông dân tộc- những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb ĐH QG Hà Nội, 2018

4. Báo cáo kết quả khảo sát công tác truyền thông của Đề tài quốc gia "Truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số, thực trạng và giải pháp", mã số CTDT.31.18/16-20 tại các tỉnh/thành: Hà Nội, Sơn La, Yên Bái, Quảng Ninh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Đắc lắc, Gia Lai…

 

[1] Kết quả khảo sát của Đề tài quốc gia "Truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số, thực trạng và giải pháp", mã số CTDT.31.18/16-20 năm 2018- 2019.

PGS.TS Lưu Văn An - Quyền Giám Đốc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

 

Bấm vào đây để đọc bản tiếng Anh của bài viết này/Click here to read the English version of this article

Đọc thêm về
Bình luận của bạn