cis_banner_final_en.png
Hợp tác Ấn Độ, Việt Nam, ASEAN về an ninh công cộng và quốc phòng (Phần 1)

08/12/2015


Hợp tác Ấn Độ, Việt Nam, ASEAN về an ninh công cộng và quốc phòng (Phần 1)

“Hợp tác quốc phòng với Việt Nam nằm trong số những quan hệ hợp tác quan trọng nhất của chúng ta. Ấn Độ vẫn cam kết với việc hiện đại hóa các lực lượng an ninh và quốc phòng của Việt Nam” – Thủ tướng Narendra Modi (tháng 10/2014)


Brig Vinod Anand*

Tổng quan

Các lực lượng vũ trang Ấn Độ đã ngưỡng mộ cách mà các lực lượng quốc phòng Việt Nam lần đầu tiên đánh bại quân Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954 và sau đó là chiến thắng sức mạnh của các lực lượng Mỹ vào năm 1975. Tuy nhiên, sự thất bại của quân đội Trung Quốc dưới tay quân đội Việt Nam vào năm 1979 mới phản ánh sự gan góc và quyết tâm thực sự của quốc gia Việt Nam; thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã nhận được một bài học. Ấn Độ ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân của nước này cũng như trong những nỗ lực của Việt Nam chống lại sự can thiệp của các cường quốc nước ngoài và sự thống nhất của Việt Nam.

Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1972, Ấn Độ và Việt Nam đã và đang tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh theo nhiều cách. Những động lực chiến lược và an ninh ngày càng tăng ở khu vực châu Á vốn bị tác động bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc. Các chính sách quyết đoán và sử dụng vũ lực của nước này đã tạo ra bất ổn trong khu vực ở một mức độ nhất định. Những nước châu Á chịu ảnh hưởng đang tìm kiếm các biện pháp mới nhằm ứng phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Cái gọi là “những lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc đã và đang mở rộng cùng với sức mạnh kinh tế và quân sự của nước này. Các yêu sách chủ quyền biển vô lý ở Biển Đông và các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của nước này chống lại Ấn Độ đôi khi đã dẫn đến các vụ xung đột. Do vậy, việc Việt Nam và Ấn Độ có một quan điểm chiến lược chung dẫn đến việc tạo dựng các mối quan hệ chiến lược mạnh mẽ hơn giữa hai nước chính là điều tự nhiên.

Ấn Độ và Việt Nam không chỉ đã và đang hợp tác song phương mà cả hai nước cũng có quá trình hợp tác mạnh mẽ tại các diễn đàn đa phương như ASEAN, Diễn đàn Khu vực châu Á (ARF), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS), Liên hợp quốc (UN), Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) bên cạnh nhiều cơ chế hợp tác đa phương khác, cũng như trong các sáng kiến tiểu khu vực như Sáng kiến hợp tác sông Mekong – sông Hằng. Việt Nam là một trong những nước quan trọng nhất ủng hộ chính sách “Hướng Đông” của Ấn Độ, chính sách gần đây đã được biến đổi thành “Chính sách hành động phương Đông” của Chính quyền Thủ tướng Modi đương nhiệm. Là một thành viên quan trọng của ASEAN và EAS, Việt Nam và Ấn Độ đã phối hợp cách tiếp cận chiến lược của họ đối với vấn đề an ninh và các vấn đề khác ở khu vực trong một loạt các khuôn khổ.

Môi trường an ninh và chiến lược ở châu Á đang trong tình trạng thay đổi liên tục và đã làm bộc lộ những thách thức đối với sự phát triển mạnh mẽ và sôi nổi trong các nền kinh tế khu vực, kể cả Ấn Độ và Việt Nam. Mục tiêu chính của hợp tác giữa Ấn Độ và Việt Nam là duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy phát triển trong khu vực và thế giới nói chung. Có thể nói Việt Nam và Ấn Độ là các nước láng giềng trên biển và có nhiều thách thức an ninh chung.

Về mặt địa chiến lược, Ấn Độ và Việt Nam phụ thuộc nhiều vào biển liên quan đến sự sống còn về kinh tế của họ. Vị trí địa lý đem lại cho hai nước trách nhiệm bảo vệ các tuyến vận tải đường thủy quốc tế ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, bao gồm cả Biển Đông. Tháng 2/2004, Ngoại trưởng Ấn Độ khi đó là Yashawant Sinha đã tính cả Biển Đông vào vùng lân cận mở rộng của Ấn Độ. Chiến lược quân sự trên biển năm 2007 của Ấn Độ đã mô tả Biển Đông là một khu vực có lợi ích chiến lược đối với Ấn Độ. New Delhi là một bên liên quan trong diễn biến an ninh ngày càng tăng ở biển Hoa Đông/ Biển Đông và do đó đòi hỏi Ấn Độ và Việt Nam phải xây dựng các mối quan hệ ở các cấp chính trị và an ninh.

Sự hội tụ chiến lược

Kể từ sau khi chính phủ hiện tại lên nắm quyền, đã có sự gia tăng tốc độ can dự giữa hai bên mà ở một mức độ nào đó cũng cho thấy những mối quan ngại của hai phía liên quan đến tình hình Biển Đông.

Năm 2014, Tổng thống Pranab Mukherjee đã tới Việt Nam vào tháng 9, chỉ ngay trước chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Bảy thỏa thuận được ký kết với người đồng cấp Việt Nam Trương Tấn Sang phần lớn tập trung vào việc đưa ra mối quan hệ đối tác chiến lược đi vào chiều sâu; các thỏa thuận bao trùm chẳng hạn hợp tác chính trị, quốc phòng và an ninh, hợp tác kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa và các mối liên hệ giữa con người với con người, hợp tác kỹ thuật, hợp tác đa phương và khu vực. Cả hai nhà lãnh đạo đều nhất trí rằng, hợp tác quốc phòng và an ninh là một trụ cột quan trọng của quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước.

Cơ cấu thể chế cho việc tăng cường quan hệ đối tác bao gồm cuộc họp của Ủy ban hỗn hợp cấp Bộ trưởng ngoại giao, Tham vấn ngoại giao và Đối thoại chiến lược cấp bộ trưởng, Đối thoại an ninh và Đối thoại quốc phòng hằng năm cấp bộ trưởng và các cơ chế đối thoại khác giữa hai nước.

Trước đó, Smt. Sushma Swaraj, Ngoại trưởng Ấn Độ đã tới thăm Việt Nam hồi tháng 8/2014; sau đó vào tháng 10/2014, Thủ tướng Việt Nam đã tới Ấn Độ nhằm thắt chặt hợp tác chiến lược. Bà Swaraj đã nhận xét trong khi phát biểu tại Việt Nam rằng, đã đến lúc thay thế “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ, chính sách nhằm kết nối Đông Bắc Ấn Độ với Đông Nam Á, bằng “Chính sách hành động phương Đông”. Hơn nữa, ngay trước chuyến thăm của Bà Sushma Swaraj, Việt Nam đã tiếp tục cho Ấn Độ thuê hai lô dầu khí ở Biển Đông, rõ ràng là một động thái không được Trung Quốc ưa thích. Bà cũng đề cập đến việc các đại diện của Ấn Độ ở Đông Nam Á phối hợp đường hướng chính sách an ninh và đối ngoại của Ấn Độ trong khu vực có ý nghĩa sống còn về chiến lược này.

Trong bất kỳ trường hợp nào, chủ đề cơ bản của tất cả những trao đổi này là nhằm định rõ cách tiếp cận chung ở Biển Đông ngoài những vấn đề an ninh khu vực khác. Ấn Độ đã và đang ủng hộ quyền tự do hàng hải ở biển Hoa Đông/ Biển Đông tại nhiều diễn đàn đa phương khác nhau. Ấn Độ đã kêu gọi các bên liên quan hành xử kiềm chế, tránh đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực và giải quyết các tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình phù hợp với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế được công nhận rộng khắp, bao gồm cả UNCLOS năm 1982. Ấn Độ cũng đã ủng hộ cam kết tập thể của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 và hợp tác hướng tới việc thông qua Bộ quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông trên cơ sở đồng thuận. Việt Nam và Ấn Độ cũng ủng hộ hợp tác nhằm đảm bảo an ninh của các tuyến đường biển, an ninh hàng hải, chống cướp biển và thực hiện các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn.

Các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông bao gồm việc xây dựng các đảo nhân tạo vi phạm nhiều trong số các nguyên tắc và công ước được tuyên bố ở trên. Cũng cần phải lưu ý rằng, khi tàu chiến Airavat của Ấn Độ bị Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thách thức vào tháng 9/2012 trên hành trình từ Việt Nam, điều đó củng cố sự cần thiết để Ấn Độ tăng cường hợp tác trên biển và khả năng phối hợp tác chiến với Việt Nam. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu khổng lồ Hải dương – 981 vào tháng 5/2014 bên trong EEZ của Việt Nam, thực tế là trên thềm lục địa của Việt Nam, là nhất quán với các chính sách quyết đoán và gây hấn mà Trung Quốc đang theo đuổi ở Biển Đông.

Ấn Độ, Việt Nam, phần lớn các nước thành viên ASEAN và cộng đồng quốc tế vẫn quan ngại về tác động bất lợi có thể có do những hành động của Trung Quốc gây ra ở Biển Đông. Hơn 50% lượng dầu mỏ được vận chuyển qua Biển Đông, được cho là gấp 3 lần khối lượng vận tải so với tàu chở dầu đi qua kênh đào Suez. Hơn 5.300 tỉ USD giá trị thương mại hằng năm được thực hiện trên khắp Biển Đông. Do đó, quyền tự do hàng hải khắp Biển Đông là một đòi hỏi cấp thiết. Ấn Độ đã nhất quán ủng hộ Việt Nam và các quốc gia ASEAN trong công cuộc tìm kiếm quyền tự do hảng hải trên khắp Biển Đông và việc giải quyết tranh chấp dựa trên các chuẩn mực quốc tế và UNCLOS.

Quốc phòng và an ninh: hợp tác song phương

Khuôn khổ chính thức của hợp tác an ninh quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam dựa trên hợp tác quốc phòng được ký kết bởi Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ, khi đó là George Fernandez, trong chuyến thăm tới Việt Nam vào năm 2000. Việc đào tạo phi công của lực lượng Không quân, các cuộc tập trận chung giữa Hải quân và Cảnh sát biển, các cuộc tập trận hải quân và đối thoại thường xuyên cấp Bộ trưởng Quốc phòng được thể chế hóa sau đó. Điều này đã được tăng cường hơn bằng Thỏa thuận Đối tác chiến lược năm 2007 mà giờ đây đem lại khuôn khổ cho việc đẩy mạnh hơn nữa hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây và đặc biệt là sau khi chính phủ mới lên nắm quyền ở New Delhi, một động lực mới đã được truyền cho những trao đổi quốc phòng đang diễn ra. Trong khi vào tháng 8/2014, Tổng thống Pranab Mukherjee trong chuyến thăm của ông tới Hà Nội đã nêu bật tầm quan trọng của hợp tác quốc phòng và an ninh với Việt Nam, thì sau đó, trong chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 10/2014, Thủ tướng Modi đã nhận xét rằng: “Hợp tác quốc phòng của chúng tôi với Việt Nam nằm trong số những hợp tác quan trọng nhất. Ấn Độ vẫn cam kết hiện đại hóa các lực lượng quốc phòng và an ninh của Việt Nam. Điều này sẽ bao gồm việc mở rộng chương trình đào tạo của chúng ta, điều vốn rất quan trọng, trong các cuộc tập trận chung và hợp tác về trang thiết bị quốc phòng.” Ông Modi cũng tuyên bố việc triển khai gói tín dụng 100 triệu USD cho việc mua sắm quốc phòng của Việt Nam. Việt Nam được cho là sẽ tận dụng khoản tín dụng này để mua các phương tiện tuần tra ngoài khơi để do thám và giám sát các khu vực tranh chấp ở Biển Đông và do đó sẽ bổ sung thêm các khả năng cho Cảnh sát biển nước này.

Một Biên bản ghi nhớ cũng đã được ký kết giữa hai nước nhằm thành lập một Trung tâm Đào tạo tiếng Anh và công nghệ thông tin Việt Nam - Ấn Độ tại trường Đại học Thông tin liên lạc thuộc bộ Quốc phòng Việt Nam. Trung tâm sẽ là nơi thường xuyên dạy tiếng Anh và công nghệ thông tin nhằm nâng cao trình độ thông thạo chung của những người được đào tạo về các kỹ năng này. Trung tâm sẽ đạo tạo và nâng cao kỹ năng cho giáo viên dạy tiếng Anh từ các trường và viện đào tạo thuộc các lực lượng vũ trang và cũng chuẩn bị cho học sinh trước những bài kiểm tra cần thiết để bước vào giáo dục đại học. Trung tâm này sẽ phấn đấu phát triển thành một Trung tâm xuất sắc, đồng thời hợp tác với các trung tâm đào tạo tiếng Anh và IT khác được thành lập ở Việt Nam với sự hỗ trợ của chính phủ Ấn Độ.

Theo Thủ tướng Modi, Việt Nam ở tuyến đầu trong những nỗ lực của Ấn Độ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, những nỗ lực mà chính phủ của ông đã tăng cường một cách có chủ ý và ngay lập tức kể từ khi lên nắm quyền. Ban đầu, trong chuyến thăm của ông tới Nhật Bản vào tháng 9/2014, ông đã nói bóng gió tới các chính sách bành trướng của Trung Quốc trong tuyên bố chung, và sau đó trong chuyến thăm tới Mỹ của mình ông đã kêu gọi “giữ gìn an ninh ở Biển Đông”. Tháng 1/2015, Ấn Độ và Mỹ thông qua một Tầm nhìn chung cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương mà trong số những điều khác khẳng định tầm quan trọng của việc giữ gìn an ninh biển và đảm bảo quyền tự do hàng hải và hàng không trên khắp khu vực này, đặc biệt là ở Biển Đông, cũng như nhấn mạnh cam kết chung tăng cường sức mạnh cho Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á và nhằm thúc đẩy đối thoại về những vấn đề an ninh và chính trị then chốt.

Truyền thêm động lực hơn nữa cho mối quan hệ quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ ngày một tăng là việc ký kết một Tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng trong 5 năm từ năm 2015 đến năm 2020 trong chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Đại tướng Phùng Quang Thanh với Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Manohar Parrikar hồi tháng 5/2015. Thỏa thuận này sẽ được gia hạn sau khi đánh giá và giám sát các bước đi được thực hiện trong thời gian sau đó. Một MOU cũng đã được ký kết giữa Cảnh sát biển Ấn Độ (ICG) và Cảnh sát biển Việt Nam về việc đánh giá cao vai trò của mỗi bên trong các vấn đề an ninh biển.

Cố vấn an ninh quốc gia Ấn Độ, ông Ajit Doval đã ở Việt Nam hồi tháng 4/2015, ở đây ông khẳng định rằng, Ấn Độ sẽ làm tất cả những gì có thể để hỗ trợ Việt Nam về quốc phòng và an ninh, đặc biệt là ngành công nghiệp quốc phòng, công nghệ quân sự, tình báo, đào tạo nhân lực, tội phạm mạng và an ninh mạng.

(Còn tiếp)

*Nghiên cứu viên cao cấp tại Vivekanade International Foundation, Ấn Độ

Leave your comment