cis_banner_final_en.png
Vai trò của Ấn Độ tại Đông Á

22/04/2015


Vai trò của Ấn Độ tại Đông Á

Trong khuôn khổ “Chính sách Hướng Đông”, từ hơn 20 năm nay, Ấn Độ đã gia tăng quan hệ với khu vực Đông Á, song vẫn giữ sự thận trọng cần thiết. Tuy nhiên, trước những biến đổi nhanh chóng hiện nay trong khu vực, Ấn Độ coi việc xích lại gần với Mỹ và các đồng minh của Mỹ trong khu vực này là điều tối cần thiết, trên cơ sở không làm cho mối quan hệ của mình với cường quốc khu vực là Trung Quốc bị xấu đi. Trân trọng giới thiệu bài viết về vai trò của quốc gia đông dân thứ hai thế giới này trong khu vực Đông Á của “Tạp chí Al-Alam As-Shiasiya” (Chính trị thế giới).


VAI TRÒ CỦA ẤN ĐỘ TẠI ĐÔNG Á*

Năm 2012, Ấn Độ và Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) kỷ niệm 20 năm quan hệ đối tác. Đối với Ấn Độ, lễ kỷ niệm này cũng đánh dấu hai thập niên thực hiện “Chính sách Hướng Đông”, những nỗ lực cao nhất của Ấn Độ làm sống lại mối quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á và tái thiết một mối quan hệ thân thiết hơn sau những thập niên thờ ơ. “Chính sách Hướng Đông” được Thủ tướng Ấn Độ Narasimha Rao triển khai vào đầu những năm 1990, nó, trước hết, được coi là hậu quả bên ngoài của công cuộc tự do hóa nền kinh tế trong nước. Sáng kiến này đã thúc đẩy sự năng động kinh tế ở khu vực Đông Nam Á, cũng như Nhật Bản và Hàn Quốc, với mục tiêu chính là gia tăng trao đổi thương mại với các thị trường phồn vinh này và nhất là thu hút thêm vốn đầu tư. Phải đến năm 2000, “Chính sách Hướng Đông” của Ấn Độ mới có bước ngoặt mang tính chiến lược hơn, vừa công nhận tính trọng tâm của mối quạn hệ với Trung Quốc vừa công nhận sự cần thiết phải xúc tiến hợp tác về quốc phòng với các nước Đông Nam Á.

Trong thập niên qua, “Chính sách Hướng Đông” từng là một trong những phương hướng trường kỳ nhất trong mối quan hệ đối ngoại của Ấn Độ. Bằng sự kiên trì này, Ấn Độ đã dần dần hòa nhập được vào cấu trúc chính trị khu vực ở Đông Nam Á, trở thành đối tác đối thoại chính thức của các nước ASEAN vào năm 1996 và là thành viên cua Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), được tham gia các cuộc thảo luận về tình hình an ninh khu vực. Năm 2002, Ấn Độ đã đạt được việc thể chế hóa sự liên kết này trong một cuộc họp thượng đỉnh với những người đứng đầu chính phủ các nước ASEAN cộng 3 (tức là với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc). Ấn Độ là thành viên sáng lập Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) thường niên, được tổ chức lần đầu vào năm 2005 và từ năm 2010, Ấn Độ tham gia Hội nghị các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN cộng 8 để trao đổi về các vấn đề an ninh và quốc phòng giữa ASEAN với các đối tác đối thoại. Sau hai thập niên thực hiện “Chính sách Hướng Đông”, người ta có thể nói đến những kết quả và thách thức trong cam kết của Ấn Độ ở khu vực Đông Á. Về mặt kinh tế, mặc dù chậm chạp, nhưng sự hòa nhập của Ấn Độ với phần còn lại của khu vực vẫn dựa trên những mối quan hệ vững chắc. Trái lại, về mặt chiến lược, cam kết ngày càng tăng của Ấn Độ ở khu vực Đông Á đặt ra những thách thức mà Ấn Độ vẫn còn do dự khi phải đối mặt, nhất là liên quan đến lập trường của Ấn Độ đối với Mỹ và Trung Quốc.

Một sự hòa nhập với khu vực Đông Á chậm nhưng chắc

Những lợi ích kinh tế luôn là ưu tiên trong sự chỉ đạo “Chính sách Hướng Đông” của Ấn Độ. Vì vậy, Ấn Độ đã thúc đẩy gia tăng mạnh mẽ trao đổi thương mại của Ấn Độ với các nước Đông Nam Á, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tham gia một loạt hiệp định thương mại tự do.

Quan hệ với các nước thuộc khu vực Đông Nam Á

Đông Nam Á là trọng tâm của “Chính sách Hướng Đông”, và hiện nằm trong số các đối tác quan trọng của Ấn Độ: chiếm 10% ngoại thương của Ấn Độ và chiếm hơn 10% tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Ấn Độ trong 10 năm qua. Năm 2010, với vốn đầu tư ước chừng tới 2,6 tỷ USD, Ấn Độ đứng ở vị trí thứ 6 trong số các nước cung cấp vốn đầu tư nước ngoài cho các nước ASEAN và là đối tác thương mại lớn thứ 7 của các nước này. Nếu Ấn Độ có một ảnh hưởng không phải là không đáng kể ở Đông Nam Á, thì Ấn Độ lại đang vất vả để khẳng định mình là một đối tác lớn so với Trung Quốc. Kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN lên tới 230 tỷ USD vào năm 2010, cao gấp 4 lần kim ngạch thương mại giữa Ấn Độ với các nước ASEAN. Được khích lệ bởi tấm gương Trung Quốc, nước năm 2002 đã ký một hiệp định khung để lập ra một khu vực thương mại tự do với các nước ASEAN, năm 2003, Ấn Độ đã đề nghị một dự án tương tự. Sau 6 năm tiến hành các cuộc thương lượng khó khăn, hai bên đã ký một hiệp định thương mai tự do. Có hiệu lực vào tháng 1/2010, hiệp định này thiết lập một sự tự do hóa thuế quan đối với 90% mặt hàng trao đổi, kể cả đối với các sản phẩm chủ yếu như dầu cọ, cà phê, chè đen hay hạt tiêu. Các cuộc thương lượng đang tiến hành còn liên quan đến việc tự do hóa các dịch vụ và vốn đầu tư. Ấn Độ cũng tạo thuận lợi cho các kiều dân của 7 nước ASEAN vào lãnh thổ Ấn Độ một cách dễ dàng. Hiện chỉ có 11 nước được hưởng chế độ cấp thị thực khi tới lãnh thổ Ấn Độ (nghĩa là cấp thị thực ngay tại cửa khẩu), đó là Singapore, Campuchia, Việt Nam, Philippines, Lào, Mianma và Indonesia, ngoài các nước ASEAN, còn có Nhật Bản, Niu Dilân, Phần Lan và Lúcxămbua.

Quan hệ mới với Đông Nam Á

Một trong những kết quả đầu tiên của “Chính sách Hướng Đông” là trong những năm 1990, thế giới được chứng kiến nguồn vốn ồ ạt đổ vào Ấn Độ từ các nhà đầu tư trực tiếp đến từ Hàn Quốc, nhất là trong các lĩnh vực có tính cạnh tranh cao như điện gia dụng và ô tô. Hàn Quốc cũng nằm trong số những nước đầu tiên xây dựng ở Ấn Độ các công xưởng lắp ráp để tái xuất khẩu các sản phẩm đã hoàn chỉnh tới các thị trường thứ ba của Nam Á hoặc khu vực Trung Đông. Gần 300 hãng của Hàn Quốc đã cắm chân ở Ấn Độ với một khoản vốn đầu tư ước chừng tới 2,3 tỷ USD. Hàn Quốc, nước đã duy trì tổng số vốn đầu tư cao ở Ấn Độ đến năm 2000, sau đó đã giảm mạnh các hoạt động của mình, chỉ đứng thứ 15 trong các nước đầu tư vốn vào Ấn Độ từ năm 2000 đến năm 2011. Tuy nhiên, Hàn Quốc có thể sớm trở lại thị trường này vì nhóm có thế lực hùng mạnh của Hàn Quốc về các ngành công nghệ hạt nhân rất muốn làm ăn trên thị trường Ấn Độ nên họ quyết tâm thúc đẩy Seoul ký kết với New Delhi một thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân dân sự vào tháng 7/2011.

Nhật Bản chỉ đứng thứ 6 trong các nhà đầu tư vốn vào Ấn Độ và vốn đầu tư của Nhật Bản chỉ chiếm 4% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 2000 đến năm 2011. Tuy nhiên, Nhật Bản đang chủ trương chứng tỏ được mình là nhà đầu tư lớn trong những năm tới (năm 2011 đã ghi nhận một sự gia tăng rõ rệt vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào Ấn Độ). Lo ngại sự phụ thuộc kinh tế của châu Á vào Trung Quốc, Nhật Bản đã khuyến khích các doanh nghiệp của mình đa dạng hóa và tăng cường nguồn vốn đầu tư của họ vào châu Á, trong đó, Ấn Độ là sự lựa chọn ưu tiên, tiếp theo là Việt Nam và Inđônêxia. Ngoài ra, Ấn Độ trở thành nước nhận viện trợ phát triển của Nhật Bản dưới hình thức cho vay từ năm 2003. Khoản vốn này chủ yếu nhằm vào các dự án lớn về cơ sở hạ tầng, nhằm thu hút các nhà đầu tư tư nhân Nhật Bản. Gần 900 doanh nghiệp Nhật Bản đã có mặt tại Ấn Độ, và hai nước cũng đã ký một hiệp định quan hệ đối tác kinh tế, có hiệu lực vào tháng 8/2011 nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hiện những hợp đồng trao đổi hàng hóa và dịch vụ, vốn đầu tư và huy động nguồn nhân lực có tay nghề cao. Hy vọng thỏa thuận này sẽ giúp thúc đẩy quan hệ thương mại song phương giữa Nhật Bản và Ấn Độ, hiện đang ở mức khoảng 13 tỷ USD/ năm, làm cho Nhật Bản đứng ở vị trí khá khiêm tốn - là đối tác thương mại thứ 11 của Ấn Độ. Trong khi đó, kim ngạch thương mại giữa Ấn Độ và Hàn Quốc đã đạt 20 tỷ USD vào năm 2011, và tăng mạnh sau khi Hiệp định Thương mại tự do giữa hai nước có hiệu lực vào tháng 1/2010. Cuối cùng, cần phải nhấn mạnh tính trung tâm của Trung Quốc, đối tác thương mại hàng đầu của Ấn Độ, với kim ngạch thương mại song phương là 73 tỷ USD năm 2011. Nhưng trong khuôn khổ mối quan hệ này, Ấn Độ đã phải nhập tới 46 tỷ USD, trong khi chỉ xuất được 27 tỷ USD hàng hóa sang Trung Quốc, và chủ yếu lại là nguyên liệu. Ấn Độ đã nhiều lần lên tiếng phàn nàn về những khó khăn khi tiếp cận thị trường Trung Quốc. Kể từ cuối những năm 1990, việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa Ấn Độ và Mỹ đã được tăng cường bằng cách kích hoạt chính sách gây ảnh hưởng của Ấn Độ ở khu vực Đông Á. Nhưng trong những năm gần đây, Mỹ lại muốn thấy đối tác Ấn Độ của mình nằm trong khuôn khổ chiến lược hướng tới châu Á - Thái Bình Dương.

Sự xích lại gần giữa Ấn Độ với Mỹ và các đồng minh của Mỹ

Trong vòng hơn một thập niên, Ấn Độ và Mỹ đã xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược đầy tham vọng, với 25 cuộc đối thoại mang tính thể chế. Từ đầu, hợp tác quốc phòng đã là một trụ cột của sự xích lại gần nhau này, và hiệp định về quan hệ quốc phòng mới giữa hai nước, được ký năm 2005, đã đánh dấu một mốc quan trọng trong mối quan hệ song phương. Đặc biệt, hai nước đã coi an ninh biển là trục ưu tiên của sự hợp tác này. Lực lượng hải quân của hai bên đều nằm trong số các lực lượng đầu tiên thiết lập mối quan hệ, với hàng loạt cuộc tập trận song phương trên biển Malabar diễn ra vào năm 1992, và từ năm 2002, hai nước đã đẩy mạnh nhịp độ tiến hành các cuộc tập trận chung tương tự. Năm 2006, Mỹ và Ấn Độ ký Hiệp định Hợp tác về an ninh hàng hải, trong đó đặc biệt quan tâm tới cuộc chiến chống tội phạm xuyên quốc gia (cướp biển, buôn lậu) và khắc phục các thảm họa thiên nhiên. Tại Mỹ cũng như Ấn Độ, quan hệ đối tác chiến lược được coi là một phương tiện để thúc đẩy sự nổi lên của Ấn Độ, với tư cách là cường quốc lớn ở châu Á, nhất là nhờ những sự chuyển giao các công nghệ quan trọng. Quan hệ đối tác giữa Ấn Độ và Mỹ đã được xây dựng dựa vào một cách nhìn chung về sự ổn định ở châu Á, vì mục tiêu đạt tới sự hợp tác song phương toàn diện và sâu sắc để bảo đảm an ninh cho một không gian rộng lớn bao gồm khu vực Ấn Độ Dương. Phía Mỹ còn đề ra những mục tiêu tham vọng hơn, đó là khuyến khích đối tác Ấn Độ quan tâm đến sự ổn định không chỉ ở Ấn Độ Dương, mà còn ở châu Á-Thái Bình Dương. Kể từ năm 2007, các cuộc tập trận trên biển Malabar được diễn ra mỗi năm hai lần, và kể từ năm 2008, Ấn Độ và Mỹ đã tiến hành đối thoại thường niên về khu vực Đông Á.

Thời gian gần đây, chủ trương của Mỹ đẩy mạnh hợp tác với Ấn Độ càng trở nên mạnh mẽ hơn vì Mỹ hiện đang tái triển khai lực lượng của mình ở châu Á. Trong chiến lược quốc phòng được công bố vào đầu năm 2012, Mỹ khẳng định sẽ củng cố các liên minh truyền thống với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippiness, Australia, Singapore và Thái Lan, và dựa vào một “quan hệ đối tác chiến lược lâu dài” với Ấn Độ, nước đang nổi lên như là một điểm sáng về kinh tế của khu vực và có thể bảo đảm cho an ninh trong khu vực rộng lớn ở Ấn Độ Dương. Rõ ràng, việc tái định hướng chiến lược này ở châu Á được chỉ đạo bởi một lôgích tái xác định vị trí của Trung Quốc và bởi một sự đánh giá mới về cân bằng chiến lược Trung-Mỹ cả trong trung hạn lẫn dài hạn. Nhằm giúp tăng cường vị thế của Ấn Độ, Mỹ đã ra sức khuyến khích các đồng minh của mình ở châu Á xích lại gần với Ấn Độ. Singapore và Nhật Bản tỏ ra tích cực nhất, khi Singapore không đợi những gợi ý của Mỹ, đã chủ động phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với Ấn Độ từ những năm 1990. Những sự trao đổi về hợp tác quốc phòng đã diễn ra đều đặn, liên quan tới cả ba quân chủng. Dấu hiệu rõ nhất chứng tỏ sự thân thiện giữa hai nước này là từ năm 2007, khi lực lượng không quân của Singapore đã thuê căn cứ quân sự Kalaikunda ở Bengale, trở thành quốc gia đầu tiên đóng quân dài hạn trên lãnh thổ Ấn Độ. Khác với Singapore, quan điểm của Nhật Bản chưa rõ ràng vì Nhật Bản còn phải cân nhắc tới vấn đề hạt nhân, vốn rất khó có thể giải quyết trong khuôn khổ mối quan hệ song phương. Tuy nhiên, Ấn Độ và Nhật Bản đã tìm được cơ sở để bàn bạc về hợp tác trên biển. Ngay từ năm 2000, các cơ sở của một mối quan hệ mới đã lộ diện sau chuyến thăm Niu Đêli của Thủ tướng Nhật Bản lúc bấy giờ là Yoshiro Mori. Cũng vào năm này, hai nước đã tiến hành các cuộc tập trận chung và tổ chức nhiều chuyến thăm viếng lẫn nhau ở mọi cấp, mọi ngành. Năm 2006, hai bên ký thỏa thuận thiết lập quan hệ đối tác toàn diện và đồng ý tổ chức cuộc họp hàng năm giữa những người đứng đầu hai chính phủ. Sau đó, một tuyên bố hợp tác an ninh được ký vào năm 2008 đã thể chế hóa các cuộc tham vấn chiến lược thường kỳ, trao đổi giữa các hai bộ tổng tham mưu của quân đội hai nước và tổ chức các cuộc tập trận chung.

Ở Nhật Bản, việc Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) lên cầm quyền vào năm 2009 đã không ảnh hưởng nhiều đến chính sách xích lại gần với Ấn Độ. Đối với Nhật Bản, tình hình căng thẳng với Trung Quốc trở nên nghiêm trọng vào mùa Thu năm 2010 khi tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư lên đến đỉnh điểm, đã khiến Nhật Bản càng nhận thức rõ sự cần thiết phải tìm kiếm những đối tác mới như Ấn Độ. Tháng 10/2010, Thủ tướng Ấn Độ và Nhật Bản quyết định nâng cấp quan hệ và hợp tác giữa hai bên trong lĩnh vực nhạy cảm về đất hiếm. Phương hướng phát triển quốc phòng của Nhật Bản, được công bố hồi tháng 12/2010, đã coi Ấn Độ là một trong số các nước mà Nhật Bản phải tăng cường hợp tác về an ninh, quốc phòng. Ngay cả về vấn đề hạt nhân, hai nước đã có những bước đi tích cực khi bắt đầu một tiến trình thương lượng về hiệp định hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân dân sự. Một cuộc thương lượng về vấn đề này đã được tổ chức vào cuối tháng 6/2010. Tuy nhiên, sau đó các cuộc thương lượng giữa hai bên đã gặp phải trở ngại do Nhật Bản yêu cầu Ấn Độ tham gia Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện (CTBT). Yêu cầu này của Nhật Bản về cơ bản cũng dễ hiểu, bởi hơn ai hết, nước này là nạn nhân lớn nhất của hạt nhân, và sau đó, thảm họa hạt nhân Fukushima-1 xảy ra ngày 11/3/2011 đã khiến cho các cuộc thương lượng về hạt nhân giữa họ với Ấn Độ trở nên phức tạp hơn và những yêu cầu của Nhật Bản càng trở nên cứng rắn, quyết liệt hơn./.(Theo TTXVN)

Bình luận của bạn