cis_banner_final_en.png
Liệu Ấn Độ có thể trở thành một nước lớn? (Phần 2)

26/04/2015


Liệu Ấn Độ có thể trở thành một nước lớn? (Phần 2)

Kể từ khi giành độc lập, Ấn Độ đã không phải chịu hậu quả của việc có một văn hóa chiến lược yếu kém. Những tham vọng quân sự nhỏ bé đã giúp nước này tránh khỏi hầu hết các tình huống khó xử để tập trung vào những thứ khác. Nhưng khi Trung Quốc tăng cường sức mạnh, những thiếu sót chiến lược của Ấn Độ đang trở thành trở ngại. Và chúng là một trở ngại cho những giấc mơ của Ấn Độ trở thành một cường quốc thực sự trong thế kỷ XXI.


(Tiếp theo phần 1) 

Liệu Ấn Độ có thể trở thành một nước lớn?*

John R. Schmidt**

Ấn Độ sẵn sàng trở thành một trong 4 cường quốc quân sự lớn nhất thế giới vào cuối thập kỷ. Nước này cần phi suy nghĩ về ý nghĩa của điều đó.

Không giống nhiều nước châu Á khác – và trái ngược hoàn toàn với nước láng giềng Pakixtan – Ấn Độ chưa bao giờ được các tướng lĩnh điều hành. Những quan chức cấp cao thuộc ngành dân chính đầy quyền lực của thuộc địa Raj phần lớn là người Hindu, trong khi người Hồi giáo có đại diện không tương xứng trong quân đội. Trong quá trình giành độc lập, giới tinh hoa chính trị Ấn Độ, vốn có một xu hướng hòa bình mạnh mẽ, quyết tâm giữ các tướng lĩnh ở vị trí của họ. Trong điều này họ đã thành công một cách vui vẻ.

Nhưng đã có những cái giá phải trả. Một cái giá là Ấn Độ bộc lộ sự thiếu vắng đáng chú ý cái có thể gọi là văn hóa chiến lược. Nước này đã tiến hành một số cuộc chiến tranh có giới hạn – một cuộc chiến với Trung Quốc, mà nước này thất bại, và vài cuộc chiến với Pakixtan, mà phần lớn là chiến thắng, nếu không muốn nói là luôn đáng thuyết phục – và nước này phải đối mặt với một loạt mối đe dọa, bao gồm chủ nghĩa khủng bố thánh chiến và sự nổi dậy dai dẳng của chủ nghĩa Maoít. Tuy nhiên tầng lớp chính trị của nước này hầu như không cho thấy dấu hiệu hiểu biết hay quan tâm đến cách sức mạnh quân sự của đất nước nên được triển khai như thế nào.

Sức mạnh đó đang phát triển nhanh. Trong 5 năm qua Ấn Độ đã trở thành nhà nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới. Một thỏa thuận trị giá không dưới 12 tỷ USD để mua 126 máy bay chiến đấu Rafale từ Pháp đang dần hoàn tất. Ấn Độ có quân nhân tại ngũ nhiều hơn bất kỳ nước châu Á nào khác ngoại trừ Trung Quốc, và ngân sách quốc phòng của nước này đã tăng lên 46,8 tỷ USD. Hiện nay nưóc này là nước chi tiêu quân sự lớn thứ 7 thế giới; IHS Jane’s, một cơ quan tư vấn, cho rằng vào năm 2020 nước này sẽ vượt qua Nhật Bản, Pháp và Anh để vươn lên vị trí thứ 4. Nước này có một kho dự trữ hạt nhân chứa không dưới 80 đầu đạn có thể dễ dàng bổ sung, và các tên lửa đạn đạo có thể mang theo đầu đạn hạt nhân tới bất kỳ điểm nào ở Pakixtan. Nước này gần đây đã thử nghiệm một tên lửa với tầm bắn 5.000 km, sẽ vươn tới phần lớn Trung Quốc.

Phải đối măt với con đường nào?

Ngoài giới báo chí luôn lớn tiếng và các tổ chức tư vấn chiến lược hăng hái của Niu Đêli, Ấn Độ và các nhà lãnh đạo của nước này hầu như không tỏ ra quan tâm đến các vấn đề quân sự hay chiến lược. Những đánh giá quốc phòng chiến lược như đã diễn ra ở Mỹ, Anh và Pháp, được các sĩ quan tại ngũ và các viên chức thông báo nhưng do các chính trị gia chỉ đạo, không được biết đến ở Ấn Độ. Các lực lượng vũ trang coi Bộ Quốc phòng là dốt nát một cách tồi tệ về các vấn đề quân sự, có ít kĩ năng cần thiết để cung cấp hỗ trợ trong các lĩnh vực như hoạt động hậu cần và mua sắm (họ cũng tức giận về sự kiểm soát của bộ này đối với những sự thăng tiến cấp cao). Các công chức chỉ ghé qua bộ này thay vì tạo dựng sự nghiệp tại đó. Bộ Ngoại vụ, vốn nên đóng vai trò quan trọng trong việc thông báo tầm nhìn chiến lược của đất nước, rất yếu kém. Xinhgapo, với dân số 5 triệu người, có ngành ngoại giao với quy mô tương tự như của Ấn Độ. Ngành ngoại giao Trung Quốc lớn hơn gấp 8 lần.

Những mối đe dọa chủ yếu đối với Ấn Độ là rõ ràng: một Pakixtan bất ổn, suy yếu nhưng nguy hiểm; một Trung Quốc huênh hoang và đáng sợ. Một nước tạo ra những cảm giác về sự vượt trội gần như khinh miệt, nước còn lại là sự thấp kém hơn và lòng đố kỵ, về địa vị khu vực của Ấn Độ và những triển vọng tương lai là một “nước lớn”, Trung Quốc có ý nghĩa nhất; nhưng mối quan hệ gây phiền phức với Pakixtan vẫn chi phối tư duy quân sự.

Một nỗ lực gần đây nhằm tăng cường quan hệ giữa hai nước đang có một số thành công. Những căng thẳng dọc “đường kiểm soát” phân chia hai bên trong khi không có một biên giới được thỏa thuận ở Casơmia có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Phức tạp hơn, Trung Quốc và Pakixtan lại thân thiết, và Trung Quốc không ngại khuyến khích người đồng minh dễ chịu của mình trở thành một cái gai trong mắt Ấn Độ. Theo những người Ấn Độ đầy phẫn nộ, Pakixtan cũng sử dụng những kẻ khủng bố thánh chiến để thực hiện một cuộc chiến tranh mượn tay kẻ khác nhằm vào Ấn Độ “dưới chiếc ô hạt nhân của nước này”. Cuộc tấn cống vào Quốc hội Ấn Độ năm 2001 của Jaish-e- Mohammed, một nhóm khủng bố có liên hệ chặt chẽ với cơ quan tình báo của Pakixían, đã đưa hai nước đến bờ vực chiến tranh. Kí ức về cuộc tấn công bất ngờ của lính biệt kích vào Mumbai bởi Lashkar-e-Taiba, một tổ chức khủng bố khác, vẫn còn mới nguyên.

Những khả năng hạt nhân của Pakixtan là một mối lo ngại thường xuyên. Kho đầu đạn của nước này, được phát triển với sự hỗ trợ của Trung Quốc, ít nhất lớn bằng của Ấn Độ và gần như chắc chắn là lớn hơn. Nước này có các tên lửa chủ yếu do Trung Quốc thiết kế có thể vươn tới hầu hết các thành phố của Ấn Độ và, không giống Ấn Độ, nước này không có chính sách “không sử dụng trước”. Quả thực, để bù đắp sự vượt trội ngày càng tăng của các lực lượng thông thường Ấn Độ, nước này đang phát triển các vũ khí hạt nhân cho chiến trường có thể được đặt dưới sự kiểm soát của các chỉ huy chiến trường.

Lớn hơn và giàu có hơn nhiều, Ấn Độ thường chiến thắng Pakixtan. Các kế hoạch của nước này nhằm thực hiện lại điều đó, nếu nước này cảm thấy bị khiêu khích, là đáng lo ngại. Trong phần lớn thập kỷ qua, quân đội đã theo đuổi một học thuyết được biết đến là “Khởi đầu Lạnh” sẽ chứng kiến những cuộc đột kích nhanh chóng bằng xe bọc thép vào Pakixtan với sự hỗ trợ bám sát từ trên không. Ý tưởng là gây thiệt hại cho các lực lượng của Pakixtan mà chỉ thông báo trước 72 giờ, chiếm lấy lãnh thổ đủ nhanh để không phải hứng chịu một sự đáp trả hạt nhân, ở cấp độ chiến thuật, điều này thừa nhận một khả năng chiến tranh vũ trang phối hợp công nghệ cao mà Ấn Độ có thể không có. Ở cấp độ chiến lược, nó giả định rằng Pakixtan sẽ do dự trước khi sử dụng các vũ khí hạt nhân, và khó chịu với truyền thống kiềm chế chiến lược của Ấn Độ. Các quan chức dân sự và các chính trị gia phủ nhận một cách không thuyết phục rằng Khởi đầu Lạnh thậm chí có tồn tại.

Bharat Karnat thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách, một tổ chức tư vấn chiến lược, tin rằng mối nguy hiểm chủ yếu của Pakixtan đối với Ấn Độ với tư cách là một nhà nước thất bại, chứ không phải một kẻ thù quân sự. Ông coi Khởi đầu Lạnh là một “ngõ cụt” phí phạm các nguồn lực quân sự và tài chính vốn nên được sử dụng để ngăn chặn “kẻ bá chủ nguyên thủy”, Trung Quốc. Các nước khác đồng ý. Năm 2009 A. K. Antony, Bộ trưởng Quốc phòng, nói với các lực lượng vũ trang rằng họ nên coi Trung Quốc thay vì Pakixtan là mối đe dọa chính đối với an ninh của Ấn Độ và tự triển khai theo đó. Nhưng không nhiều việc đã diễn ra, Ông Karnad nhận thấy đường lối chiến lược dân sự yếu kém kết hợp với chủ nghĩa bảo thủ bẩm sinh của quân đội ngăn Ấn Độ làm những việc mà nước này cần phải thực hiện.

“Đường kiểm soát thực tế” giữa Trung Quốc và Ấn Độ ở Arunachal Pradesh, nơi Trung Quốc gọi là Nam Tây Tạng, không căng thẳng như ở Casơmia. Các cuộc đối thoại giữa hai nước nhằm giải quyết vấn đề biên giới đã diễn ra trong 10 năm và trải qua 15 vòng. Trong các tuyên bố chính thức, cả hai bên nhấn mạnh rằng tranh chấp không ngăn cản mối quan hệ đối tác nhằm theo đuổi các mục tiêu khác.

Nhưng khó có thể phớt lờ tốc độ đầu tư quân sự ở phía Trung Quốc của đường kiểm soát. Thiếu tướng Gurmeet Kanwal thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến tranh Mặt đất chỉ rõ việc xây dựng các đường ray mới, 58.000 km đường dùng trong mọi thời tiết, 5 căn cứ không quân, các trung tâm tiếp tế và các điêm liên lạc. Theo ông Karnad, Trung Quốc sẽ có thể tấn công bằng sức mạnh và tốc độ nếu họ quyết định chiếm phần lãnh thổ do Ấn Độ kiểm soát mà họ tuyên bố là của mình. Ông cho rằng quân đội Ấn Độ, quen với kế hoạch “phản ứng thụ động” khi đối phó với Trung Quốc, đã tự tước đi của mình những phương tiện để phát động một cuộc phản công.

Không thể sánh được với sức mạnh của Trung Quốc trên đất liền, một lựa chọn thay thế có thể là đáp trả trên biển. Một đòn đáp trả như vậy đã được lưu truyền trong một tài liệu chiến lược bán chính thức gọi là “Không liên kết 2.0”, do một số cựu cố vấn an ninh quốc gia thúc đẩy vào năm 2012 và được cố vấn an ninh đương nhiệm, Shivshankar Menon, ủng hộ. Chẳng hạn, lợi thế hải quân của Ấn Độ có thể cho phép nước này ngăn cản vận chuyển dầu mỏ đến Trung Quốc qua Eo biển Malacca.

Trung Quốc và Ấn Độ đều đang nhanh chóng phát triển hải quân của mình từ các lực lượng phòng thủ bờ biển thành những công cụ có thể triển khai sức mạnh xa hơn ngoài mặt trận; trong thập kỷ này, mỗi nước mong đợi sẽ có 3 nhóm tàu sân bay tác chiến. Một số chiến lược gia Ấn Độ tin rằng khi Trung Quốc mở rộng tầm với của mình ra Ấn Độ Dương để bảo vệ quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hải quân của hai nước có khả năng đụng độ như lục quân của họ.

Trên biển

Hải quân Trung Quốc đang mở rộng với tốc độ rất nhanh mà Ấn Độ không thể sánh kịp – vào năm 2020 nước này được cho là sẽ có 73 tàu chiến lớn và 78 tàu ngầm, 12 trong số đó là tàu hạt nhân – nhưng các thủy thủ của Ấn Độ có trình độ cao. Họ đã vận hành một tàu sân bay kể từ những năm 1960, trong khi Trung Quốc hiện giờ mới chỉ bắt đầu tham gia cuộc chơi. Ấn Độ lo sợ việc Trung Quốc phát triển các cơ sở tại những cảng biển ở Pakixtan, Xri Lanca, Bănglađét và Mianma – cái gọi là “chuỗi ngọc trai” xung quanh đại dương mang tên của Ấn Độ; ông Antony đã gọi thông báo vào tháng 2/2013 rằng một công ty Trung Quốc sẽ điều hành cảng Gwadar của Pakixtan là “một vấn đề đáng lo ngại”. Trung Quốc nhận thấy một mối đe dọa trong các mối quan hệ hải quân đang phát triển của Ấn Độ với Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản và nhất là Mỹ. Ấn Độ hiện tiến hành nhiều cuộc tập trận hải quân với Mỹ hơn bất kỳ nước nào khác.

Hải quân Ấn Độ có kinh nghiệm, lợi thế địa lý và một số người bạn hùng mạnh ở phía mình. Tuy nhiên, lực lượng này vẫn thiếu thốn so với các quân chủng khác của Ấn Độ, với chỉ 19% ngân sách quốc phòng so với 25% của lực lượng không quân và 50% cho lục quân.

Lực lượng không quân cũng nhận được phần lớn nhất của ngân sách vốn-trang bị – gấp đôi số tiền dành cho hải quân. Lực lượng này đang mua các máy bay Rafale từ Pháp và nâng cấp các máy bay chiến đấu cũ hơn, chủ yếu của Nga với các vũ khí và rađa mới. Một liên doanh giữa công ty Hindustan Aeronautics Limited (HAL) và Sukhoi của Nga đang phát triển máy bay chiến đấu tấn công “thế hệ thứ 5” để cạnh tranh với F-35 của Mỹ. Mặc dù vậy, cùng với việc thỏa mãn nhu cầu tốc độ của phi công, lực lượng không quân đang tăng cường chú trọng đến “phương tiện hỗ trợ”. Lực lượng này đang đàm phán mua 6 máy bay tiếp nhiên liệu quân sự Airbus A330 và 5 máy bay cảnh báo sớm và kiểm soát trên không mới. Lực lượng này cũng đã giải quyết các yếu kém trong việc vận tải hàng nặng bằng việc mua 10 máy bay vận tải khổng lồ Boeing C-17, với triển vọng mua thêm nhiều chiếc khác trong thời gian tới, ít rõ ràng hơn là ưu tiên mà lực lượng không quân dành cho các yêu cầu của lục quân về hỗ trợ bám sát từ trên không so với vai trò phòng không truyền thống hơn của nó, đặc biệt là sau khi thua trong một cuộc tranh cãi về việc bên nào sẽ vận hành các máy bay trực thăng chiến đấu.

Với việc lục quân đang luyện tập cho một cuộc tấn công chớp nhoáng nhằm vào Pakixtan và hải quân chuẩn bị đối đầu với chủ nghĩa phiêu lưu biển khơi của Trung Quốc, dễ dàng có ấn tượng rằng mỗi quân chủng đang lên kế hoạch cho cuộc chiến tranh của riêng mình mà không suy nghĩ nhiều về những yêu cầu của hai quân chủng còn lại. Hợp tác trong việc lên kế hoạch, học thuyết và hoạt động tác chiến là nói đãi bôi, nhưng sự “hiệp đồng” này phần lớn mang tính khát vọng. Ấn Độ thiếu một người đứng đầu lực lượng quốc phòng theo kiểu của phần lớn các nước. Chính phủ, luôn nghi ngờ các lực lượng vũ trang, dường như không muốn bất kỳ một lời khuyên nào từ quân đội. Các lãnh đạo quân chủng cùng vậy, khư khư giữ quyền tự trị của riêng họ. (Xem tiếp phần 3)

* Nguồn: http://www.economist.com/ Mar 30th 2013

Bình luận của bạn