cis_banner_final_en.png

Vai trò của Ấn Độ đối với sự định hình cấu trúc khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương
Trong bối cảnh thuật ngữ Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương được nhắc đến ngày một nhiều hơn như một khái niệm địa - chiến lược, ảnh hưởng của Ấn Độ trong khu vực này cũng được chú ý nhiều hơn. Với vị trí địa lý thuận lợi và sự trỗi dậy mạnh mẽ trong thời gian qua, Ấn Độ được kỳ vọng tham gia vào tiến trình thể chế hóa và hoạt động quản trị khu vực, thúc đẩy các hoạt động hợp tác và kết nối, trở thành “nhà cung cấp an ninh” và là “lực lượng cân bằng” không thể thiếu ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Vài nét về Phật giáo Ấn Độ sau khi phục hưng
Như chúng ta biết, phong trào phục hưng của Phật giáo Ấn Độ bắt đầu với những hoạt động của các học giả và Phật tử (chỉ chung cho xuất gia và tại gia) ở trong và ngoài Ấn Độ từ cuối thế kỷ thứ XIX. Đặc biệt với những nỗ lực của Tiến sĩ B.R.Ambedkar, Phật giáo ở Ấn Độ đã được hồi sinh và ngày càng phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng, tại gia lẫn xuất gia.

Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta và ảnh hưởng của nó trong TK 10 -14
Phật giáo là một trào lưu triết học – tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 TCN ở bắc Ấn Độ. Người sáng lập ra hệ thống triết học – tôn giáo này là Tất Đạt Đa (Siddhatha), thái tử của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) thuộc bộ tộc Sakiya. Vị thái tử này (khoảng 563-483 TCN) đã từng theo học các tu sĩ Bà La Môn từ năm lên bảy, kết hôn năm 16 tuổi, mười ba năm sau đó sống trong cuộc đời vương giả, nhưng trong một đêm tháng Hai năm vừa tròn 29 tuổi, đã lặng lẽ rời hoàng cung đi tìm chân lý.

Vài suy nghĩ về nguyên nhân thịnh, suy của Phật giáo
Theo Phật giáo, sự thay đổi nào cũng đều có thể truy về quy luật nhân quả. Do đó, truy tìm nguyên nhân đưa đến sự thịnh suy và tìm kiếm giải pháp để duy trì sự cường thịnh và tránh sự suy vong của Phật giáo là một việc đáng làm, nhất là trong giai đoạn Phật giáo đang đối mặt với nhiều thách thức mới.

Quá trình phát triển và phân phái của Phật giáo Ấn Độ
Phật giáo phát triển mạnh mẽ, số người theo đạo đông nhưng với nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy trong đó có nhiều người không thành tâm với đạo, không giữ giới luật, vương vấn với đời, gây nhiều điều bất hòa, phức tạp. Lo lắng trước tiền đồ của Phật giáo, cùng ý muốn truyền bá phật giáo ra nước ngoài, vua A Dục đã triệu tập 1000 vị trưởng lão uyên thâm để kết tập kinh điển tại thành Hoa Thị.

Về quá trình phát triển và phân phái của Phật giáo Ấn Độ
Ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước CN ở miền Bắc Ấn Độ, với những tư tưởng tiến bộ và tích cực, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng, trở thành ngọn cờ đầu của phong trào cách tân tư tưởng và xã hội ở Ấn Độ cổ đại. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, do cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các trường phái triết học, tôn giáo khác nhau, cũng như sự thay đổi của cuộc sống, Phật giáo cũng có sự thay đổi, được hoàn chỉnh dần để thích nghi. Qua quá trình này, đặc biệt là qua các cuộc kết tập kinh điển, Phật giáo phân ra thành nhiều phái khác nhau, với sự khác nhau về giới luật, triết học, giáo lý, nghi thức mà điển hình là hai bộ phái Tiểu thừa và Đại thừa.

Tư trưởng triết học trong Phật Giáo Ấn Độ
Phật giáo là một thành tố quan trọng hỗn hợp các triết lý khác của tiểu lục địa Ấn Độ trong hơn một ngàn năm qua.

Chuyến thăm Sài Gòn 90 năm trước của thi hào Tagore
Từ tàu Angers, người châu Á đầu tiên đoạt giải Nobel đặt chân đến Sài Gòn trong sự chào đón của giới trí thức và người dân.

Rabindranath Tagore, tình yêu và lòng nhân ái cao cả hiến dâng cho nhân loại
Nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Rabindranath Tagore (1861 - 1941), trong hai ngày 9 - 10 tháng 11 năm 2011, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc hội thảo quốc tế “Cuộc đời và di sản vĩ đại của Rabindranath Tagore”, do Đại sứ quán Ấn Độ tại Hà Nội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam đồng tổ chức dưới sự tài trợ của Hội đồng Giao lưu văn hóa Ấn Độ.

R. Tagore với trẻ thơ trong tác phẩm “Bản hợp đồng cuối cùng”
Từng được giải Nobel văn chương với kiệt tác Thơ Dâng, Rabindranath Tagore - Thi hào Ấn Độ còn chinh phục độc giả thế giới bằng tập thơ “Trăng non” viết về trẻ thơ. “Bản hợp đồng cuối cùng” là một trong những bài thơ hay và lạ trong tập thơ đặc sắc ấy.