Ấn Độ 80 năm độc lập: Hướng tới vai trò cường quốc
Vào thời điểm kỷ niệm 80 năm độc lập của Ấn Độ, sự trỗi dậy của đất nước này đã trở thành một trong những xu thế địa chính trị quan trọng nhất của thế kỷ XXI, làm đa dạng hóa trật tự quyền lực khu vực châu Á - Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Các đây hơn 5.000 năm, Ấn Độ đã là một trong những nền văn minh phát triển rực rỡ nhất thế giới. Các đế chế hùng mạnh như Maurya, Gupta và Mughal lần lượt thống trị toàn bộ vùng đất phía Nam dãy Hymalaya - được gọi là Tiểu lục địa Ấn Độ, nhưng đã phải gục ngã trước làn sóng thôn tính thuộc địa của thực dân Anh từ giữa thế kỷ XVIII.
Cuộc đấu tranh phi bạo lực của nhân dân Ấn Độ đã buộc Anh phải rời khỏi Ấn Độ năm 1947, nhưng đã để lại cho đất nước này một nền kinh tế nghèo nàn với GDP ước khoảng 20–30 tỷ USD, chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tỷ lệ biết chữ chỉ 18,3%, tuổi thọ trung bình khoảng 32 năm.
Vào thời điểm đó, không ai dám tin Ấn Độ có thể thay đổi tình trạng đó để trở thành cường quốc như tiên đoán của Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ Jawarhalal Nehru.
Điều đó càng khó tin, bởi khi Ấn Độ vừa bắt đầu hành trình phát triển lại bị rơi ngay vào vòng xoáy Chiến tranh Lạnh, với những biến cố ảnh hưởng trực tiếp tới Ấn Độ cho đến 1991, cùng với việc áp dụng mô hình kinh tế tập trung, bảo hộ, khiến nền kinh tế Ấn Độ tiếp tục trì trệ, tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 3-4%.
Ấn Độ chuyển mình
Nhưng vào thời điểm kỷ niệm 80 năm độc lập của Ấn Độ, sự trỗi dậy của đất nước này đã trở thành là một trong những xu thế địa chính trị quan trọng nhất của thế kỷ 2, làm đa dạng hóa trật tự quyền lực khu vực châu Á-Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Ấn Độ đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới, đang từng bước chuyển từ một cường quốc tầm trung thành một cường quốc lớn, đóng vai trò là một trong những trung tâm quyền lực quan trọng của thế giới.
Điều làm quốc gia Nam Á đã thực sự chuyển mình, tăng tốc phát triển chính là công cuộc cải cách, tự do hóa, tư nhân hóa và hội nhập quốc tế từ 1991. Trong hơn 3 thập kỷ qua, Ấn Độ liên tục duy trì tăng trưởng cao 6-7% và được xem là một trong những nền kinh tế lớn tăng trưởng nhanh nhất, đạt quy mô nền kinh tế trên 4000 tỷ USD, đóng vai trò động lực tăng trưởng của kinh tế thế giới.
Ấn Độ phát triển mạnh khu vực dịch vụ IT, phần mềm, tài chính, viễn thông, đồng thời từng bước nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp. Chính sách thu hút đầu tư mạnh mẽ (FDI đạt kỷ lục hơn 81 tỷ USD trong năm tài khóa 2025 và năm 2026 có thể đạt 94,5 tỷ USD), cùng chính sách “Sản xuất tại Ấn Độ” (Make in India) đang biến nước này thành công xưởng của thế giới, một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Gần đây, Ấn Độ tăng tốc hội nhập kinh tế đối ngoại. Việc đẩy mạnh ký kết các FTA thế hệ mới với UAE, Australia, Anh và EU chắc chắn sẽ là một cú hích nữa cho kinh tế Ấn Độ.
Ấn Độ cũng đã đạt được những thành tựu ấn tượng về khoa học - công nghệ. Quốc gia Nam Á từng thành công trong các cuộc cách mạng xanh, về giống năng suất cao, tưới tiêu hiện đại, đưa sản lượng lương thực tăng vọt từ khoảng 50 triệu tấn (1951) lên gần 350 triệu tấn (2025). Cách mạng trắng về sữa đã giúp Ấn Độ trở thành nước sản xuất sữa lớn nhất thế giới.
Bên cạnh đó, Ấn Độ triển khai cuộc cách mạng xám từ những năm 1980 và nay đã thành “Siêu cường IT”, xuất khẩu phần mềm lớn nhất thế giới với trị giá 250 tỷ USD năm 2025, chiếm 50% thị phần toàn cầu. Ấn Độ bắt đầu chương trình chuyển đổi số (Digital India) từ năm 2015, nhằm xây dựng nền kinh tế tri thức, chuyển đổi thành nền kinh tế số toàn diện từ hạ tầng số, quản trị số đến dịch vụ số.
Kết quả là, đến nay có 1,3 tỷ người Ấn Độ đã có nhận dạng sinh trắc học, hơn 900 triệu người dùng internet, 250.000 làng được kết nối băng thông rộng, Ấn Độ dẫn đầu thanh toán số toàn cầu với 14 tỷ giao dịch UPI/tháng.
Về sản xuất chip bán dẫn, Ấn Độ chiếm 20% lực lượng thiết kế chip thế giới. Ấn Độ có chương trình “Semicon India” từ năm 2021 và đã xây dựng được hệ sinh thái bán dẫn hoàn chỉnh từ thiết kế, sản xuất đến đóng gói. Nhà máy sản xuất chip đầu tiên của Ấn Độ đã đi vào hoạt động tại Gujarat từ 2025. Về trí tuệ nhân tạo (AI), Ấn Độ bắt đầu chương trình “India AI Mission” từ năm 2024, và chưa đầy 24 tháng sau, đã thiết lập được hạ tầng tính toán, dữ liệu, hỗ trợ cho các startup AI bản địa.

“Make in India” là một sáng kiến được chính phủ Ấn Độ đưa ra vào ngày 25/9/2014 để khuyến khích các công ty sản xuất sản phẩm của họ ở Ấn Độ và tham gia đầu tư vào sản xuất. Trong ảnh, Thủ tướng Narendra Modi phát động sáng kiến trên vào năm 2014. (Nguồn: Times of India)
Ấn Độ có chương trình “Kỹ năng Ấn Độ” (Skill India) để cung cấp nguồn nhân lực cho toàn cầu. Ấn Độ cũng sở hữu hệ sinh thái khởi nghiệp lớn thứ ba thế giới với hơn 100 “kỳ lân” công nghệ. Nước này cũng được xem là "nhà thuốc”, cung cấp 20% thuốc cho toàn cầu, đứng thứ 3 thế giới.
Về công nghệ hạt nhân, Ấn Độ phát triển năng lượng hạt nhân rất sớm và hiện đã có 23 lò phản ứng hạt nhân. Coi đây là trụ cột để đạt được mục tiêu Net Zero năm 2070, New Delhi gần đây cho phép tư nhân tham gia điện hạt nhân, nâng công suất lên 100 GW vào năm 2047. Cùng với đó, công suất điện phi hóa thạch vượt 300 GW vào giữa 2026, chiếm hơn 54% tổng công suất lắp đặt, phản ánh cam kết mạnh mẽ của nước này đối với mục tiêu chuyển dịch sang năng lượng sạch.
Công nghệ vệ tinh trở thành một trong những lĩnh vực tiêu biểu nhất cho sự trỗi dậy công nghệ của Ấn Độ. Nổi bật nhất là các vụ phóng tàu vũ trụ Chandrayaan-3, khi Ấn Độ trở thành quốc gia thứ tư hạ cánh thành công lên Mặt Trăng và là nước đầu tiên đáp xuống vùng cực nam của Mặt Trăng. Ấn Độ cũng là quốc gia châu Á đầu tiên và là quốc gia thứ tư trên thế giới phóng vệ tinh vào quỹ đạo Sao Hỏa.
Công nghệ vệ tinh của Ấn Độ đã tiến rất xa, trọng tải lớn, ứng dụng cả trong quân sự và dân sự, nâng cao khả năng giám sát lãnh thổ, nông nghiệp, đô thị và an ninh biển, có hệ thống định vị vệ tinh riêng của Ấn Độ, giúp nước này giảm phụ thuộc vào các hệ thống định vị nước ngoài và tăng năng lực tự chủ chiến lược. Đặc biệt, nước này có khả năng phát triển vệ tinh trong thời gian ngắn và thực hiện nhiều lần phóng thành công nhưng chi phí thấp nhưng độ tin cậy hiệu quả cao.
Khoa học công nghệ cũng chính nền tảng cho sự phát triển sức mạnh quốc phòng Ấn Độ. Quân đội Ấn Độ mạnh thứ 4 thế giới và sau vụ thử hạt nhân Pokhran-II (1998), Ấn Độ đã trở thành một cường quốc hạt nhân, đảm bảo vững chắc cho chính sách tự chủ chiến lược của nước này. Ngân sách quốc phòng Ấn Độ đứng thứ 3 thế giới (đạt khoảng 89 tỷ USD), với sự đầu tư mạnh mẽ vào việc hiện đại hóa tàu sân bay, tàu ngầm hạt nhân và tên lửa tầm xa.
Ấn Độ cũng đang tăng cường sức mạnh quân sự trên biển với việc hạ thủy tàu sân bay nội địa INS Vikrant và vận hành INS Vikramaditya để đảm bảo khả năng tác chiến viễn chinh. Ấn Độ đã phát triển tàu ngầm hạt nhân lớp Arihant, tạo chân kiềng thứ ba trong năng lực hạt nhân của nước này. New Delhi cũng đã xây dựng một mạng lưới radar ven biển và hệ thống tình báo vệ tinh để giám sát mọi biến động trên biển, không chỉ giúp Ấn Độ bảo vệ các tuyến đường thương mại mà còn khẳng định vị thế quốc gia dẫn dắt trật tự dựa trên luật lệ. Quốc gia Nam Á cũng đang đẩy mạnh sáng kiến "Make in India” trong quốc phòng, chuyển từ quốc gia nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới thành nước đã xuất khẩu quốc phòng sang hơn 100 quốc gia.
Về mặt xã hội, Ấn Độ đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận trong 80 năm qua. Hơn 250 triệu người đã thoát khỏi nghèo đói, an ninh lương thực được bảo đảm cho hơn 800 triệu người thông qua hệ thống phân phối và các chương trình trợ giá. Tuổi thọ trung bình tăng lên 72 năm, phản ánh sự cải thiện đáng kể về dinh dưỡng, tiêm chủng, kiểm soát dịch bệnh và mở rộng mạng lưới y tế cơ sở. Tỷ lệ biết chữ tăng lên khoảng 78-81% (2024), cùng với mở rộng giáo dục phổ cập và đại chúng hóa giáo dục đại học, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật–công nghệ.
Dù đạt nhiều thành tựu, quá trình phát triển của nước này vẫn còn những thách thức. Kinh tế tăng trưởng nhanh, nhưng nền tảng chưa đủ sâu, quy mô vẫn còn nhỏ, GDP bình quân đầu người còn thấp khoảng 2.800-2.900 USD, Ấn Độ vẫn còn khoảng 129 triệu người nghèo, tương đương khoảng dưới 10% dân số, thu nhập dưới mức 2,15 USD/ngày theo chuẩn Liên hợp quốc.
Trong khi đó, chất lượng lao động và năng suất tổng thể còn yếu, tỷ lệ tham gia lao động nữ còn thấp, bất bình đẳng vùng miền và đô thị - nông thôn; áp lực về môi trường, nước sạch và biến đổi khí hậu. Đặc biệt, về năng lượng, Ấn Độ hiện phải nhập khẩu khoảng 186 tỷ USD, khoảng 80-85% nhu cầu dầu thô của mình. Về mặt chính trị - xã hội, xu hướng dân tộc chủ nghĩa, phân hóa nội bộ có thể làm giảm sức hấp dẫn của Ấn Độ trên trường quốc tế và làm chậm quá trình phát triển bao trùm của Ấn Độ.

Ấn Độ điều chỉnh quan hệ với Mỹ theo hướng vừa quyết liệt bảo vệ lợi ích, vừa tránh đối đầu trực diện: Phản ứng mạnh với các gói thuế trừng phạt, song đồng thời chủ động đàm phán để đạt thỏa thuận tạm thời, đổi lại việc Washington gỡ bớt thuế bằng cam kết mua khối lượng lớn hàng hóa, năng lượng và công nghệ của Mỹ. (Nguồn: SCMP)
Chính sách đối ngoại tự chủ chiến lược và đa liên kết
Chính sách đối ngoại của Ấn Độ cũng đã trải qua những điều chỉnh lớn nhằm tương ứng với những biến đổi về thực lực của đất nước và cục diện thế giới trong 80 năm qua.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Ấn Độ chủ trương không liên kết, chống thực dân và ủng hộ giải phóng dân tộc, đồng thời duy trì quan hệ chặt chẽ với Liên Xô. Sau Chiến tranh Lạnh, Ấn Độ mở rộng quan hệ với phương Tây, đẩy mạnh hội nhập kinh tế, tham gia sâu hơn vào các thể chế đa phương và chú trọng khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhất là khu vực Đông Nam Á. Giai đoạn gần đây (từ 2014), nền tảng đối ngoại của Ấn Độ dựa trên nguyên tắc “tự chủ chiến lược” và “đa liên kết”.
Với chính sách tự chủ chiến lược, Ấn Độ một mặt chú trọng tăng cường thực lực, nhất là về quốc phòng, kể cả sức mạnh hạt nhân. Mặt khác, Ấn Độ không tham gia các liên minh quân sự cứng nhắc, không để bị ràng buộc vào các quan hệ đồng minh hiệp ước nào, nhằm duy trì dư địa cho quyền tự do hành động đối ngoại của mình.
Trong bối cảnh môi trường địa chính trị ngày càng phức tạp, không gian xoay xở bị thu hẹp. Ấn Độ điều chỉnh quan hệ với Mỹ theo hướng vừa quyết liệt bảo vệ lợi ích, vừa tránh đối đầu trực diện: Phản ứng mạnh với các gói thuế trừng phạt, song đồng thời chủ động đàm phán để đạt thỏa thuận tạm thời, đổi lại việc Washington gỡ bớt thuế bằng cam kết mua khối lượng lớn hàng hóa, năng lượng và công nghệ của Mỹ.
New Delhi chọn chiến lược kết hợp nhượng bộ có tính toán với khẳng định độc lập trong các quyết định năng lượng - quốc phòng, qua đó duy trì Mỹ như một đối tác an ninh - công nghệ then chốt nhưng không bị phụ thuộc.
Đa liên kết là nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại. Theo đó, Ấn Độ duy trì quan hệ với tất cả các cực quyền lực lớn như Mỹ, Nga, EU và Nhật Bản để tối đa hóa lợi ích quốc gia. New Delhi vừa là đối tác quốc phòng chủ chốt của Mỹ, vừa duy trì “quan hệ đối tác đặc biệt và ưu tiên” với Nga. Đây là quốc gia hiếm hoi tham gia đồng thời vào các cơ chế có tính đối trọng như nhóm Bộ Tứ (Quad) cùng Mỹ, Nhật, Australia; đồng thời là thành viên chủ chốt của BRICS và SCO cùng Nga, Trung Quốc.
Việc Ấn Độ duy trì quan hệ với Nga là biểu hiển rõ nhất tính chất đa liên kết của nước này. Quốc gia Nam Á kiên trì duy trì quan hệ “đặc biệt và ưu tiên” với Nga bất chấp sức ép phương Tây. New Delhi tiếp tục mua vũ khí và năng lượng giá rẻ, đặt mục tiêu tăng kim ngạch lên 100 tỉ USD, duy trì lập trường trung lập về Ukraine và hợp tác với Nga trong nhiều lĩnh vực, đồng thời tận dụng Moscow như đối trọng với Trung Quốc. Nga giúp Ấn Độ thực hiện chiến lược đa liên kết, gia tăng “đòn bẩy” khi thương lượng với Mỹ và Trung Quốc, dù sự gắn bó Nga - Trung và yêu cầu giảm nhập dầu Nga cũng đặt ra thách thức lâu dài cho nước này.
Với châu Âu, việc phá băng đàm phán và hoàn tất FTA với EU sau gần 20 năm là một bước ngoặt chiến lược của Ấn Độ. Không chỉ mở rộng tiếp cận thị trường, thu hút FDI, hỗ trợ chuyển dịch chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc, mà còn đưa EU trở thành đối tác kinh tế - công nghệ - an ninh quan trọng, gắn Ấn Độ với nỗ lực giảm thiểu rủi ro “de-risking” của châu Âu. Bên cạnh FTA, các thỏa thuận quốc phòng, công nghệ cao, di cư tay nghề với Đức, Anh, Pháp cũng là cách Ấn Độ tận dụng sự bất định từ phía Mỹ để tăng cường quan hệ với châu Âu, đa dạng hóa cả nguồn vốn, công nghệ, vũ khí lẫn thị trường lao động cho nhân lực trình độ cao.
Về đa phương, trong bối cảnh các thiết chế toàn cầu như Liên hợp quốc, WTO bị suy yếu, New Delhi chuyển trọng tâm sang các cơ chế song phương, khu vực và tiểu đa phương (minilateralism) - QUAD, I2U2, ISA, BRICS, SCO - như các “công cụ linh hoạt” nhằm xử lý các vấn đề an ninh, công nghệ, chuỗi cung ứng, phát triển.
Ấn Độ tận dụng BRICS, song đồng thời giữ lập trường ôn hòa, ủng hộ thanh toán nội tệ chứ không phi USD hóa, bảo vệ lợi ích nước đang phát triển, vừa không để BRICS trở thành khối đối đầu phương Tây. Ấn Độ tự định vị mình là Lãnh đạo “Nam bán cầu” (Global South), cầu nối giữa các nước phát triển và đang phát triển, khuếch đại tiếng nói của các quốc gia đang phát triển tại các diễn đàn quốc tế, đồng thời tăng cường vai trò trong G20, BRICS, SCO. New Delhi xem khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình dương là không gian chiến lược then chốt.
Với Trung Quốc, trong bối cảnh tương quan lực lượng còn bất cân xứng, Ấn Độ phải liên kết với Mỹ và các cường quốc khác như Nhật Bản, Australia, EU, tham gia Quad để đối trọng với Bắc Kinh. Tuy nhiên, New Delhi vẫn từng bước nối lại đối thoại cấp cao, mở lại một số hợp tác thực dụng (hành hương biên giới, năng lượng tái tạo, chia sẻ dữ liệu thủy văn), cho phép khả năng thăm viếng lẫn nhau trong khuôn khổ SCO và BRICS.
Những bước đi này là nỗ lực giảm nguy cơ xung đột song phương, giải phóng nguồn lực để Ấn Độ ưu tiên đối phó cú sốc kinh tế và tái cấu trúc quan hệ với Mỹ, chứ không phải là sự đảo chiều chiến lược trong quan hệ với Trung Quốc.

Các đại biểu chụp ảnh tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Ấn Độ trong khuôn khổ AMM 59, ngày 22/7 tại Pasay, Philppines. (Nguồn: X)
Đối với khu vực, Ấn Độ chia ra thành 3 vòng tròn đồng tâm. Với vòng trung tâm là các nước láng giềng trực tiếp ở Nam Á và Ấn Độ Dương, Ấn Độ thực hiện chính sách Láng giềng trước tiên, giành nhiều viện trợ và ưu đãi thượng mại. Gần đây Ấn Độ hỗ trợ Sri Lanka 450 triệu USD để ổn định kinh tế vĩ mô, giữ quan hệ chặt với Maldives và Bhutan bằng viện trợ, cố gắng hàn gắn với Bangladesh và Nepal, đồng thời có bước đi thực dụng tại Afghanistan khi chấp nhận đối thoại với chính quyền Taliban để bảo vệ lợi ích chiến lược, dù nhận thức rõ khoảng cách ý thức hệ. Với khu vực Ấn Độ Dương, Ấn Độ thực hiện chiến lược SAGAR, hỗ trợ an ninh cho tất cả các nước trong khu vực.
Đối với vòng tròn tiếp theo được Ấn Độ coi là khu vực láng giềng mở rộng, ngoài chính sách Liên kết hướng Tây với các nước Trung Đông và Trung Á nhằm bảo đảm nguồn cung năng lượng, New Delhi còn thực hiện Chính sách “Hướng Đông”.
Đây là Chính sách được khởi xướng đầu thập niên 1990 với các nước Đông Á, và từ 2014 được nâng cấp thành Chính sách “Hành động Hướng Đông” với cách tiếp cận chủ động hơn, không chỉ tập trung vào thương mại - đầu tư mà còn mở rộng sang kết nối hạ tầng, an ninh - quốc phòng, khoa học - công nghệ và giao lưu nhân dân với các nước ASEAN.
Ấn Độ trở thành Đối tác Đối thoại của ASEAN từ 1992 và được nâng lên cấp Đối thoại Cấp cao thường niên từ 2002. Đến nay, ASEAN trở thành một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Ấn Độ, dòng đầu tư hai chiều và hợp tác chuỗi cung ứng ngày càng sâu rộng. Các dự án kết nối đường bộ, đường biển và logistics giữa Ấn Độ với Đông Nam Á như hành lang kết nối Ấn Độ-Myanmar-Thái Lan, các sáng kiến cảng biển và vận tải biển được đẩy mạnh nhằm giảm chi phí giao thương và tăng liên kết sản xuất khu vực.
Về an ninh - quốc phòng, Ấn Độ tăng cường đối thoại quốc phòng, diễn tập hải quân chung, huấn luyện và trao đổi sĩ quan với nhiều nước ASEAN, góp phần vào ổn định an ninh biển và chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia.
Việc mở rộng học bổng, trao đổi sinh viên, hợp tác đại học và các hoạt động văn hóa, du lịch xũng tạo nền tảng xã hội bền vững cho quan hệ đối tác chiến lược ASEAN-Ấn Độ. Chính sách “Hành động Hướng Đông” còn là một phần của Tầm nhìn Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương của Ấn Độ, gắn với Sáng kiến Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (IPOI) và hợp tác bốn bên (Quad), nhằm bảo đảm tự do hàng hải, chuỗi cung ứng bền vững và cân bằng chiến lược khu vực.
Hướng tới tương lai
Nhìn lại 80 năm kể từ khi giành được độc lập, Ấn Độ đã chuyển mình từ một quốc gia nghèo, phụ thuộc nông nghiệp thành một nền kinh tế lớn, năng động, với vị thế ngày càng quan trọng trong quản trị toàn cầu và kiến trúc an ninh khu vực.
Với quy mô dân số rất lớn, nền kinh tế thuộc nhóm hàng đầu thế giới, năng lực quân sự đáng kể, ảnh hưởng rõ trong các cơ chế như G20, BRICS, QUAD và vai trò ngày càng lớn đối với “Phương Nam toàn cầu”, cùng sức nặng và khả năng định hình luật chơi trên thế giới.
Những điều chỉnh gần đây cho thấy Ấn Độ không bị cuốn theo cạnh tranh cường quốc mà đang kiên trì chính sách tự chủ chiến lược và đa liên kết, chủ động tự định vị như một cực độc lập trong thế giới đa cực. Chính sách “Hành động Hướng Đông” ngày càng đóng vai trò then chốt trong việc gắn Ấn Độ với Đông Nam Á và Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, tạo nền tảng cho hợp tác kinh tế, an ninh và kết nối chiến lược.
Trong tương lai, khả năng hiện thực hóa tầm nhìn “Ấn Độ phát triển 2047” sẽ phụ thuộc vào việc New Delhi giải quyết thành công các thách thức nội tại về việc làm, bất bình đẳng, giáo dục - y tế và bền vững môi trường, đồng thời duy trì cân bằng chiến lược trong một thế giới đầy biến động.
ĐS.TS Tôn Sinh Thành
Nguồn: Báo Quốc tế
- Share
- Copy
- Comment( 0 )
Cùng chuyên mục
Ấn Độ tăng tốc đầu tư ra thị trường quốc tế
Kinh tế 09:00 19-08-2026
Tình hữu nghị Ấn Độ-Việt Nam muôn năm!
Kinh tế 08:30 17-08-2026
Điện mừng kỷ niệm lần thứ 80 Ngày Độc lập của Ấn Độ
Kinh tế 08:12 17-08-2026